Luận văn Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đó cổ phần hóa ở tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay - Pdf 10


1

Luận văn
Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở
đảng trong doanh nghiệp nhà nước
đó cổ phần hóa ở tỉnh Quảng Bình
trong giai đoạn hiện nay

2mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển
nền tảng kinh tế - xã hội của đất nước để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội và củng cố khối liên minh công nông. Tuy vậy, bước sang
thời kỳ đổi mới, các doanh nghiệp nhà nước đã dần dần bộc lộ những yếu

quyền sở hữu nên không được tham gia trong hội đồng quản trị, hoặc tiếng
nói ít trọng lượng trong các cuộc họp đại hội đồng cổ đông. Nhiều nơi vai trò
lãnh đạo của tổ chức đảng bị giảm sút.
Thực tế đó đòi hỏi các cấp ủy đảng có trách nhiệm ở Quảng Bình phải
quan tâm xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp
nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hoá, đồng thời phải có những nghiên cứu
khoa học về loại hình tổ chức cơ sở đảng đó để làm rõ cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc củng cố, tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong
doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá.
Xuất phát từ tình hình trên, việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng, củng cố
tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đó cổ phần hóa ở tỉnh
Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay " có tính cấp thiết cả về lý luận và thực
tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà n-
ước sau khi thực hiện cổ phần hoá là một thực tiễn mới mẻ, đặt ra nhiều vấn
đề phải được làm rõ về nhận thức, quan điểm, giải pháp. Bởi vậy, trong những
năm gần đây đã có một số cơ quan và nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn
quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, một số công trình, bài viết đã được công
bố, như:
- Phạm Đạo (2000), Tổ chức đảng trong các công ty cổ phần, Báo
Nhân dân, 9-6-2000;

4 - Ngô Tùng Chinh (2005), Củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh


- Làm rõ vai trò, đặc điểm và quan niệm xây dựng, củng cố tổ chức cơ
sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
- Đánh giá đúng thực trạng tổ chức cơ sở đảng và công tác xây dựng,
củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá
ở Quảng Bình, rút ra nguyên nhân và kinh nghiệm.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp kiện toàn, đổi mới hoạt động để xây
dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ
phần hoá ở Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác xây dựng, củng cố tổ
chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở tỉnh Quảng
Bình.
- Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp
nhà nước đã cổ phần hoá do Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh Quảng Bình
quản lý từ năm 2000 đến nay (kể từ khi có Phương án 812/UB ngày 8-8-2000
về sắp xếp doanh nghiệp nhà nước) và công tác xây dựng, củng cố các tổ
chức đảng. Phương hướng và giải pháp xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng
này đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta qua các nghị
quyết của Đảng từ Đại hội VI đến nay, đặc biệt là quan điểm của Đảng trong
Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX “về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”. Luận văn kế thừa kết quả nghiên
cứu của các công trình khoa học đã công bố. 7

8Chương 1
Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng
trong Doanh nghiệp Nhà nước đã Cổ phần hoá
ở Tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay -
Những vấn đề lý luận và thực tiễn


Nguyên nhân cơ bản của tình trạng nhiều doanh nghiệp nhà
nước làm ăn kém hiệu quả, tiêu cực, lãng phí lớn là do tài sản của
Nhà nước không có người làm chủ trực tiếp, có trách nhiệm và lợi
ích rõ ràng đối với việc sử dụng có hiệu quả các tài sản đó; công
nhân, viên chức làm việc tại các doanh nghiệp không có động lực
thường xuyên và bền vững để gắn bó thiết thân với sự phát triển của
doanh nghiệp, không có quyền hạn vật chất và tổ chức đủ mạnh để
tham gia công việc định đoạt các quyết sách làm ăn, ngăn chặn từ
gốc tệ tham nhũng, làm thất thoát, hư hỏng tài sản công. Phải tìm
giải pháp khắc phục cho được tình trạng đó [13, tr.37].
Từ đó, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII khẳng
định: “Cần thực hiện các hình thức cổ phần hóa có mức độ phù hợp với tính chất
và lĩnh vực xản xuất - kinh doanh” [13, tr.37].
Thực hiện chủ trương đó, ngày 17-3-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết
số 10- NQ/TW: "Tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp
nhà nước”, Nghị quyết nêu rõ: “Thực hiện từng bước vững chắc việc cổ phần
hóa một bộ phận doanh nghiệp không cần Nhà nước đầu tư 100% vốn”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) tiếp tục xác định: “Triển khai
tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước để huy động
thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu
quả” [14, tr.94].
Tuy nhiên, đến tháng 4-1997, mới có 10 doanh nghiệp thực hiện cổ
phần hoá.

10

Ngày 4-4-1997 Bộ Chính trị ra Thông báo số 63 TB/TW về “ý kiến của


hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu ; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản
lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước" [17, tr.21-22].
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước,
ngày 19-6-2002, Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP về việc chuyển
doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, tạo cơ sở pháp lý và những
hướng dẫn cụ thể để đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Ngày 22-10-2004, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 45, khẳng định việc tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện các Nghị quyết Trung ương ba, Trung ương chín
(Khoá IX) về đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp nhà nước. Chỉ thị nêu rõ: “Cần đẩy mạnh tiến độ và mở rộng
hơn diện doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, kể cả một số tổng công ty lớn
trong một số ngành quan trọng” [17].
Để tạo thêm điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước và bổ sung các vấn đề trong Nghị định 64, ngày 16-11-2004, Chính phủ
ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước
thành công ty cổ phần.
Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết của Trung ương Đảng và
Chính phủ, việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước từng bước được đẩy
mạnh và thu được kết quả tích cực. Theo số liệu chưa đầy đủ, thì tính từ năm
2001 đến tháng 12 năm 2005 cả nước đã sắp xếp, cổ phần hoá được 2.890
doanh nghiệp trong tổng số 5.655 doanh nghiệp nhà nước (có đầu 2001).
Trong đó cổ phần hoá được 1.831 doanh nghiệp, giao bán 246 doanh nghiệp,
sát nhập hợp nhất 410, giải thể phá sản 165, các hình thức khác 238, đồng
thời thành lập mới 65 doanh nghiệp. Riêng 2005 đã cổ phần hoá 724 doanh
nghiệp. Qua sắp xếp, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, vốn điều lệ tăng
bằng 44%, doanh thu tăng 24%, lợi nhuận tăng 140%, thu nhập người lao
động tăng 12% [25].
55 doanh nghiệp thành 4 hạng:
Hạng I : có 2 doanh nghiệp

13

Hạng II : có 6 doanh nghiệp
Hạng III : có 24 doanh nhiệp
Hạng IV : có 23 doanh nghiệp
Từ năm 2001 đến 2006 đã cổ phần hoá được 30 doanh nghiệp gồm 02
công ty cổ phần, Nhà nước nắm giữ trên 51% vốn điều lệ, đó là: Công ty cổ
phần sửa chữa Đường bộ và Xây dựng tổng hợp, nhà nước chiếm 65,3%;
đoạn quản lý đường bộ 2 Quảng Bình, Nhà nước chiếm 68,4% vốn điều lệ.
Một công ty cổ phần nhà nước nắm giữ 49% vốn điều lệ đó là Công ty Cổ
phần Du lịch Quảng Bình; còn lại 27 công ty cổ phần, Nhà nước không nắm
giữ vốn điều lệ. Thực hiện bán 2 doanh nghiệp là Xí nghiệp thuỷ sản Sông
Gianh cho tập thể người lao động và công ty Kinh doanh Tổng hợp Quảng
Bình cho tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, chuyển 3 doanh nghiệp
sang công ty TNHH một thành viên, đưa tổng số công ty TNHH một thành
viên lên 5 doanh nghiệp.
Sắp xếp các nông lâm trường quốc doanh theo quyết định 342/QĐ-TTg
ngày 26-12-2005 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới và phát triển các nông,
lâm trường quốc doanh.
Số doanh nghiệp nhà nước còn giữ 100% vốn đến 31-12-2006 hiện có
là 61 đơn vị, trong đó doanh nghiệp trực thuộc tỉnh là 10 đơn vị [Phụ lục 5],
doanh nghiệp trực thuộc Trung ương là 51 đơn vị.
Cùng với 1.103 doanh nghiệp ngoài Nhà nước, đó là:
+ Công ty cổ phần: 82 doanh nghiệp, chiếm 7,4%

nghiệp trên 14.900 người, chưa kể lao động thời vụ. Mức thu nhập bình quân
cao nhất là 3 triệu đồng/người/tháng, mức thu nhập bình quân thấp nhất là
500 ngàn đồng/người/tháng [36].
Hoạt động các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đã đạt được một số
kết quả tích cực, đó là các doanh nghiệp đã củng cố tổ chức, tinh giản bộ máy
quản lý, sắp xếp lao động hợp lý hơn, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của

15

người lao động, thực hiện quy chế dân chủ, công khai minh bạch hơn, bước
đầu đã đổi mới phương thức quản lý có hiệu quả.
Về doanh thu đều tăng năm sau cao hơn năm trước. Các doanh nghiệp
đã góp phần rất quan trong trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một số dự án lớn đã tạo động lực tăng trưởng
kinh tế, có những đóng góp lớn cho GDP của tỉnh, tăng thu ngân sách, giải quyết
việc làm cho người lao động, thực hiện xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.
Các doanh nghiệp đã tích cực sử dụng các nguồn vốn để phát triển sản
xuất kinh doanh theo hướng đa ngành, đa nghề mở rộng mặt hàng và thị
trường như: Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Bình Lợi xây dựng nhà máy
chế biến tinh bột sắn công suất 60 tấn/ngày; công ty cổ phần Bia Hà Nội -
Quảng Bình đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất bia 20 triệu lít/năm Một số
đơn vị đã đầu tư chiều sâu để tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm như
Công ty Cổ phần Gạch ngói 1-5, Công ty Cổ phần Vận tải ô tô, Công ty Vận
tải Thuỷ Đồng Hới Sự phát triển cả về số lượng và chất lượng các dự án đầu
tư, thúc đẩy hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ phụ trợ vừa và nhỏ
trên địa bàn tỉnh nhà.
Nhìn chung các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi sắp xếp, tổ chức bộ

cổ phần hoá, có 7 doanh nghiệp chuyển sang năm 2005, còn lại đã hoạt động
ít nhất một năm.
Sự phát triển cả về số lượng và chất lượng các dự án đầu tư, thúc đẩy
hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ phụ trợ vừa và nhỏ trên địa bàn
tỉnh nhà. Các doanh nghiệp đã góp phần rất quan trong trong việc thúc đẩy
phát triển kinh tế xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một số dự án
lớn đã tạo động lực tăng trưởng kinh tế, có những đóng góp lớn cho GDP của
tỉnh, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện
xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.
Tuy vậy, phần lớn các doanh nhiệp sau cổ phần hoá vẫn là những
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ, công nghệ thiết bị sản

17

xuất lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa tận dụng và huy động được nhiều đồng vốn
đầu tư chiều sâu để tăng cường khả năng cạnh tranh; sản lượng và chủng loại
hàng hoá còn ít, chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa mở rộng được thị trường
xuất khẩu. Các doanh nghiệp sau cổ phần hoá chưa thực sự là chủ lực trong
quá trình phát triển kinh tế của tỉnh.
1.1.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở
Quảng Bình
- Khi doanh nghiệp nhà nước chuyển sang cổ phần hoá, Nhà nước chỉ
nắm giữ một phần hoặc thậm chí không còn nắm giữ vốn nhà nước trong
doanh nghiệp. Đây là đặc điểm cơ bản quyết định toàn bộ các chức năng,
nhiệm vụ và đặc điểm khác của doanh nghiệp. Từ chỗ độc tôn vốn nhà nước,
một số doanh nghiệp đã có những ngộ nhận, lấy độc quyền Nhà nước làm độc
quyền doanh nghiệp, nay có nhiều chủ thể nắm giữ và chi phối doanh nghiệp,

hữu (đa sở hữu); quyền quyết định đối với doanh nghiệp thuộc về đại hội đồng
cổ đông và hội đồng quản trị do đại hội đồng cổ đông bầu ra. Sự thay đổi cơ
bản này làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức quản lý, điều hành, hoạt động, cơ
cấu tổ chức quản lý nhân sự, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thay đổi.
Vị trí, vai trò của cá nhân, tập thể trong hệ thống quản lý, điều hành doanh
nghiệp tùy thuộc vào số lượng cổ phần họ nắm giữ.
- Sau khi chuyển đổi cổ phần hoá, nhiều cán bộ, người lao động trong
doanh nghiệp vẫn giữ thói quen, tâm lý bao cấp, ỷ lại thời doanh nghiệp nhà
nước, chưa thực sự chủ động sáng tạo, vươn lên kịp thời với sự thay đổi của
doanh nghiệp. Đây là hậu quả do thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp
quá dài, các doanh nghiệp nhà nước trong tỉnh hầu như chỉ thực hiện nhiệm
vừa sản xuất, cung cấp, phân phối theo kế hoạch, không cần tính toán hiệu
quả kinh tế; từ cán bộ quản lý cho đến người lao động mang nặng tư duy, thói
quen thụ động, trông chờ cấp trên.
- Các đoàn thể chính trị - xã hội có sự thay đổi, điều chỉnh, điều kiện
hoạt động có những khó khăn mới, nhưng vẫn giữ được vai trò.

19

Các đoàn thể chính trị- xã hội được nói tới ở đây chủ yếu là các tổ chức
công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, cựu chiến binh Cổ phần hoá tạo ra
thành phần sở hữu trong doanh nhiệp mà người lao động là những cổ đông
vừa có quyền sở hữu tài sản vừa là người lao động là một khác biệt căn bản
với trước đây: chỉ có quyền lao động, còn quyền sở hữu toàn dân và sở hữu
tập thể. Tình trạng đó làm cho việc quản lý theo kiểu “cha chung không ai
khóc”. Vì vậy, sau cổ phần hoá đã có tác động tích cực tới người lao động,
làm người lao động đổi mới về nhận thức và hành động, họ thực sự làm chủ

đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình
1.1.2.1. Vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà
nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình
Tổ chức cơ sở đảng có vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình lãnh đạo
và xây dựng tổ chức đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Tổ chức cơ sở
đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị
ở cơ sở” [22, tr.34].
Với tính cách là nền tảng của Đảng, tổ chức cơ sở đảng có vị trí, vai trò
rất quan trọng đối với sự vững mạnh của Đảng. Đây là cấp tổ chức cuối cùng
trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng, là cấp tổ chức sâu rộng nhất, gắn
với các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các ngành, các lĩnh vực của đời
sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng đảng viên, từng cơ sở và
từng người dân.
Đây là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm và góp phần quan trọng vào
việc hình thành phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
thông qua những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của đội ngũ đảng viên
và quần chúng nhân dân.

21

Đây cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động quan trọng trong xây
dựng nội bộ đảng như: kết nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh
giá đảng viên; nơi đảng viên thường xuyên thực hành các nguyên tắc tổ chức
và sinh hoạt; nơi xuất phát để cử ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.
Tổ chức cơ sở đảng còn là tổ chức cầu nối Đảng với quần chúng nhân

số quan điểm cho rằng: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế, chính đảng là tổ chức
chính trị, trong tổ chức kinh tế không nên có tổ chức chính trị, phát huy vai
trò hạt nhân chính trị của tổ chức đảng là xa rời chế độ doanh nghiệp hiện đại
(?!). Quan điểm này thể hiện lối lập luận hình thức, giản đơn, phi lịch sử. Quả
thật, cổ phần hoá tạo thay đổi căn bản nội tại doanh nghiệp do đa sở hữu tài
sản chi phối. Cổ đông, hội đồng quản trị, có thể không là đảng viên, nhận thức
về chính trị, về đảng có những mức độ, khuynh hướng khác nhau. Nhưng cần
thấy rằng, trên thế giới và nhất là ở nước ta, doanh nghiệp đương nhiên là tổ
chức kinh tế, nhưng không thể xem doanh nghiệp chỉ đơn thuần là tổ chức
kinh tế. Xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại không chỉ cần công tác kinh
tế trong nội bộ doanh nghiệp mà còn cần sự chỉ dẫn, bảo đảm của công tác
chính trị tư tưởng, dựa vào việc xây dựng văn minh tinh thần để thích ứng.
Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo,
lấy liên minh công- nông làm nền tảng, cần xây dựng doanh nghiệp thành
doanh nghiệp hiện đại có kết hợp giữa ưu thế chính trị xã hội chủ nghĩa và
chế độ quản lý xí nghiệp tiên tiến. ưu điểm vô cùng quan trọng trong loại hình
doanh nghiệp này là quyền lãnh đạo chính trị của Đảng đã phát huy vai trò hạt
nhân chính trị của tổ chức đảng trong các doanh nghiệp. Đây là tổ chức trực
tiếp đưa đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước,
các chủ trương, nghị quyết của cấp trên đến cán bộ, đảng viên, viên chức và
người lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hóa và lãnh đạo đảng viên, cổ
đông và người lao động thực hiện, thông qua đó mà thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp. Mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của tổ chức cơ sở đảng
là lãnh đạo để thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Sự

23



1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng trong doanh
nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình
Doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình chia thành ba
loại chính: công ty cổ phần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (theo Luật
Doanh nghiệp năm 2005 ghi: "Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó
Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ" vì vậy, đây vẫn thuộc loại doanh nghiệp
nhà nước); công ty cổ phần Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ; công ty cổ
phần không có vốn Nhà nước (cổ phần hoá 100%).
Tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở
Quảng Bình, dù là loại nào cũng có chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở
đảng nói chung được quy định trong Điều lệ Đảng. Tuy nhiên, do đặc điểm của
doanh nghiệp, của tổ chức cơ sở đảng ở đó, mỗi tổ chức cơ sở đảng phải nắm
vững và thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể được Trung ương quy định
cho từng loại tổ chức cơ sở đảng.
Tổ chức cơ sở đảng trong công ty cổ phần Nhà nước sở hữu trên 50%
vốn điều lệ công ty có chức năng, nhiệm vụ theo Quy định số 96-QĐ/TW của
Ban Chấp hành Trung ương, ngày 22-3-2004 quy định chức năng, nhiệm vụ của
đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp nhà nước.
Tổ chức cơ sở đảng trong công ty cổ phần Nhà nước sở hữu dưới 50%
vốn điều lệ có chức năng, nhiệm vụ theo Quy định số 140-QĐ/TW của Ban
Chấp hành Trung ương, ngày 16-5-2005 quy định chức năng, nhiệm vụ của đảng
bộ, chi bộ cơ sở trong công ty cổ phần có vốn Nhà nước.
Tổ chức cơ sở đảng trong công ty cổ phần không có vốn Nhà nước có
chức năng, nhiệm vụ theo Quy định số 100- QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung
ương, ngày 4-6-2004, quy định chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở
trong công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh
nghiệp tư nhân (gọi chung là doanh nghiệp tư nhân).

Trích đoạn Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng cấp uỷ, tạo điều kiện bố trí cấp uỷ viên tham gia hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm Đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức cơ sở đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ, thực hiện đúng các nguyên tắc sinh hoạt Xây dựng Công đoàn, Đoàn thanh niên, và các đoàn thể quần chúng khác trong doanh nghiệp vững mạnh, phát huy mạnh vai trò tham Tăng cường sự lãnh đạo, giúp đỡ của tổ chức đảng cấp trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status