1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHAN THANH HUẤN
XÂY DỰNG, CỦNG CỐ TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐÃ CỔ
PHẦN HOÁ
Ở TỈNH QUẢNG BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
Chuyên ngành : Xây dựng Đảng Cộng sản Việt nam
Mã số : 60 31 23
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS.NGUYỄN VĂN GIANG
HÀ NỘI - 2007
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng trong Doanh nghiệp Nhà
nước đã Cổ phần hoá ở Tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện
nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
6
1.1. Doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá và tổ chức cơ sở đảng
trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở tỉnh Quảng Bình
6
1.2. Quan niệm, tiêu chí đánh giá việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ
sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở tỉnh
Quảng Bình 32
1.3. Thực trạng xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong doanh
nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình
36
Chương 2: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu để xây dựng, củng
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển
nền tảng kinh tế - xã hội của đất nước để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội và củng cố khối liên minh công nông. Tuy vậy, bước sang
thời kỳ đổi mới, các doanh nghiệp nhà nước đã dần dần bộc lộ những yếu
kém về phương thức tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, chất lượng sản
phẩm, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.
Trong quá trình đổi mới đất nước đòi hỏi phải đổi mới các doanh
nghiệp nhà nước. Cổ phần hoá (CPH) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước ta nhằm sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Đi
cùng với cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN), các tổ chức chính trị,
xã hội trong doanh nghiệp, mà trước hết là tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) trong
các doanh nghiệp đã cổ phần hoá cần phải có sự chuyển đổi, củng cố, nâng
cao năng lực để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các doanh nghiệp
nhà nước đã cổ phần hoá.
Quảng Bình là tỉnh nghèo ở miền Trung, còn gặp nhiều khó khăn về
kinh tế. Khi bước vào đổi mới có 150 doanh nghiệp nhà nước do tỉnh và
huyện quản lý, đến nay còn lại hơn 50 doanh nghiệp nhà nước. Đã có 30
doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá. Trong đó: 02 doanh nghiệp có vốn
nhà nước chi phối trên 50%, 01 doanh nghiệp có vốn nhà nước 49%, 27
doanh nghiệp không có vốn nhà nước và có 02 doanh nghiệp đang tiếp tục cổ
phần hoá, cùng với 1.103 doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn.
Thời gian qua, một số tổ chức đảng trong các doanh nghiệp này đã tìm
cách đổi mới tổ chức, hoạt động cho phù hợp với tình hình sau khi thực hiện
cổ phần hoá, bước đầu củng cố và bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng
trong doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung, tổ chức đảng trong các doanh nghiệp
nhà nước sau khi cổ phần hoá ở Quảng Bình vẫn còn lúng túng về tổ chức,
4
trong các công ty cổ phần có vốn Nhà nước, Báo Nhân dân, ngày 29-3-2005;
- Đặng Thuỳ Dương (2005), Nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong
các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá tại thành phố Hồ Chí Minh giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh.
Từ các cách tiếp cận khác nhau, những công trình nêu trên đã nghiên
cứu và đề xuất nhiều giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần
hoá. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu vẫn chỉ là bước đầu và chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về tổ chức cơ
sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục tiêu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn xây dựng, củng cố tổ chức
cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp kiện toàn, đổi mới hoạt động của tổ
chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng
Bình trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ vai trò, đặc điểm và quan niệm xây dựng, củng cố tổ chức cơ
sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
- Đánh giá đúng thực trạng tổ chức cơ sở đảng và công tác xây dựng,
củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá
ở Quảng Bình, rút ra nguyên nhân và kinh nghiệm.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp kiện toàn, đổi mới hoạt động để xây
dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ
phần hoá ở Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác xây dựng, củng cố tổ
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi để xây dựng, củng cố tổ chức
cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo về lý luận và thực tiễn cho
việc kiện toàn, đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp
nhà nước sau cổ phần hoá của các cấp uỷ đảng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, học tập
môn Xây dựng Đảng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.
8
Chương 1
XÂY DỰNG, CỦNG CỐ TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐÃ CỔ PHẦN HOÁ
Ở TỈNH QUẢNG BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐÃ CỔ PHẦN HOÁ VÀ TỔ CHỨC CƠ
SỞ ĐẢNG TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐÃ CỔ PHẦN HOÁ Ở TỈNH
QUẢNG BÌNH
1.1.1. Tình hình các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở
Quảng Bình
1.1.1.1. Khái quát về quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Cuối năm 1992, số lượng doanh nghiệp nhà nước trong cả nước lên đến
12.000 doanh nghiệp. Trong tiến trình thực hiện đổi mới, doanh nghiệp nhà
nước đã dần bộc lộ nhiều yếu kém trong quản lý, sản xuất kinh doanh, trong
cạnh tranh trên thị trường quốc tế... Những yếu kém của doanh nghiệp nhà
nước trở thành những thách thức gay gắt trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế.
Đảng và Nhà nước đã có hàng loạt biện pháp để tháo gỡ khó khăn cho
doanh nghiệp nhà nước. Mở đầu là Quyết định 25/CP của Chính phủ tháng 1-
thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu
quả” [14, tr.94].
Tuy nhiên, đến tháng 4-1997, mới có 10 doanh nghiệp thực hiện cổ
phần hoá.
Ngày 4-4-1997 Bộ Chính trị ra Thông báo số 63 TB/TW về “ý kiến của
Bộ chính trị về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước”. Thông báo đã nêu 8 việc cần thực hiện để thúc đẩy quá
trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII.
10
Ngày 29-8-1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP
thay thế Nghị định 28 NĐ/CP để triển khai sâu rộng những tư tưởng chỉ đạo
của Đảng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Sau Đại hội IX, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX đã ra Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 24-9-2001, về tiếp tục sắp xếp,
đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết đề
ra chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước bằng các biện pháp lớn:
- Sát nhập, hợp nhất các doanh nghiệp nhà nước để khai thác thế mạnh,
khắc phục cái yếu của nhau, tạo “quả đấm” mạnh hơn.
- Giao bán, khoán kinh doanh và cho thuê doanh nghiệp nhà nước
nhằm thay đổi phương thức quản lý doanh nghiệp, cơ cấu lại doanh nghiệp
nhà nước. Phương thức này áp dụng cho các doanh nghiệp có số tài sản trên 1
tỷ đồng, hầu hết thua lỗ kéo dài, khó khăn trong kinh doanh.
- Giải thể, phá sản những doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả.
- Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần giữ
100% vốn.
- Chuyển các doanh nghiệp mà nhà nước giữ 100% vốn sang hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sỡ hữu là nhà nước, hoặc
công ty cổ phần mà các cổ đông là doanh nghiệp nhà nước.
Trong các giải pháp lớn trên, Nghị quyết đề ra chủ trương “đẩy mạnh cổ
Quảng Bình là một tỉnh ở miền Trung, nằm ở vị trí từ 16,5 - 18 độ vĩ
Bắc, 105 đến 106 độ kinh đông; Dãy Hoành Sơn chạy phía Bắc tỉnh từ Tây
sang Đông dài 136,4 km, chung biên giới với tỉnh Hà Tĩnh; Phía Nam chung
địa giới với tỉnh Quảng Trị dài 78,8 km; Phía Tây giáp tỉnh Khăm Muộn -
Lào, biên giới dài 201,8 km; Phía Đông là bờ biển dài 116 km; nơi rộng nhất
là 89 km, nơi hẹp nhất 40,3 km, (hẹp nhất nước); diện tích toàn tỉnh
8.052km
2
; dân số đến 2005 là 825.000 người; có tất cả 6 huyện và 1 Thành
phố trực thuộc tỉnh; có nhiều địa danh và thắng cảnh đẹp, có di sản thiên
nhiên thế giới: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng... Nhưng là một tỉnh
nghèo, đang từng bước hội nhập với tiến trình xây dựng và phát triển của cả
12
nước. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một trong những nhiệm vụ quan
trọng đặt ra cho đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà.
Khi tái lập tỉnh Quảng Bình, toàn tỉnh có 150 doanh nghiệp nhà nước.
Thực hiện Nghị định 388/HĐBT, năm 1990- 1991 tỉnh đã tổ chức sắp xếp lại
còn 72 doanh nghiệp, xoá bỏ những đơn vị làm ăn thua lỗ, công nghệ lạc hậu,
chất lượng sản phẩm thấp.
Năm 1995 thực hiện Chỉ thị số 500/TTG của Thủ tướng Chính phủ,
tỉnh lại tiếp tục sắp xếp tổ chức và nâng cao năng lực các doanh nghiệp, toàn
tỉnh còn 63 doanh nghiệp.
Năm 1998, tỉnh tiến hành sắp xếp thêm một bước, sát nhập một số
doanh nghiệp, còn lại 55 doanh nghiệp nhà nước.
Tháng 8/2000, UBND tỉnh Quảng Bình xây dựng Phương án số 82/UB
về sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước do tỉnh quản lý. Phương án phân chia
55 doanh nghiệp thành 4 hạng:
Hạng I : có 2 doanh nghiệp
Hạng II : có 6 doanh nghiệp
Hạng III : có 24 doanh nhiệp
+ Tư vấn xây dựng: 347 doanh nghiệp, chiếm 31,4%
+ Công nghiệp: 111 doanh nghiệp, chiếm 10,1%
+ Nông, lâm, thuỷ sản: 33 doanh nghiệp, chiếm 3%
Các doanh nghiệp phân bố thường tập trung ở thành phố, thị trấn, một
số ít ở các huyện lỵ:
+ Thành phố Đồng Hới có: 591 doanh nghiệp, chiếm 53,6%.
+ Huyện Quảng Trạch có: 187 doanh nghiệp, chiếm 17%.
+ Huyện Bố Trạch có: 136 doanh nghiệp, chiếm 12,3%.
+ Huyện Quảng Ninh có: 40 doanh nghiệp, chiếm 3,6 %.
+ Huyện Minh Hoá có: 20 doanh nghiệp, chiếm 1,87%.
+ Huyện Lệ Thuỷ có: 76 doanh nghiệp, chiếm 6,9%.
+ Huyện Tuyên Hoá có: 53 doanh nghiệp, chiếm 4,8%.
14
Quy mô doanh nghiệp đa phần là nhỏ và vừa, với tổng số vốn đăng ký kinh
doanh trên 7.000 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 2 tỷ chiếm 79,4%
Về lao động: Tổng số lao động làm việc thường xuyên trong các doanh
nghiệp trên 14.900 người, chưa kể lao động thời vụ. Mức thu nhập bình quân
cao nhất là 3 triệu đồng/người/tháng, mức thu nhập bình quân thấp nhất là
500 ngàn đồng/người/tháng [36].
Hoạt động các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đã đạt được một số
kết quả tích cực, đó là các doanh nghiệp đã củng cố tổ chức, tinh giản bộ máy
quản lý, sắp xếp lao động hợp lý hơn, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của
người lao động, thực hiện quy chế dân chủ, công khai minh bạch hơn, bước
đầu đã đổi mới phương thức quản lý có hiệu quả.
Về doanh thu đều tăng năm sau cao hơn năm trước. Các doanh nghiệp
đã góp phần rất quan trong trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một số dự án lớn đã tạo động lực tăng trưởng
kinh tế, có những đóng góp lớn cho GDP của tỉnh, tăng thu ngân sách, giải quyết
việc làm cho người lao động, thực hiện xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.
Các doanh nghiệp đã tích cực sử dụng các nguồn vốn để phát triển sản
Hoạt động các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đã đạt được một số
kết quả tích cực. Đó là các doanh nghiệp đã củng cố tổ chức, tinh giản bộ máy
quản lý, sắp xếp lao động hợp lý hơn. Phát huy vai trò chủ động sáng tạo của
người lao động, thực hiện quy chế dân chủ, công khai minh bạch hơn. Bước
đầu đã đổi mới phương thức quản lý có hiệu quả. Trong 30 doanh nghiệp đã
cổ phần hoá, có 7 doanh nghiệp chuyển sang năm 2005, còn lại đã hoạt động
ít nhất một năm.
Sự phát triển cả về số lượng và chất lượng các dự án đầu tư, thúc đẩy
hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ phụ trợ vừa và nhỏ trên địa bàn
tỉnh nhà. Các doanh nghiệp đã góp phần rất quan trong trong việc thúc đẩy
phát triển kinh tế xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một số dự án
16
lớn đã tạo động lực tăng trưởng kinh tế, có những đóng góp lớn cho GDP của
tỉnh, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện
xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.
Tuy vậy, phần lớn các doanh nhiệp sau cổ phần hoá vẫn là những
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ, công nghệ thiết bị sản
xuất lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa tận dụng và huy động được nhiều đồng vốn
đầu tư chiều sâu để tăng cường khả năng cạnh tranh; sản lượng và chủng loại
hàng hoá còn ít, chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa mở rộng được thị trường
xuất khẩu. Các doanh nghiệp sau cổ phần hoá chưa thực sự là chủ lực trong
quá trình phát triển kinh tế của tỉnh.
1.1.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở
Quảng Bình
- Khi doanh nghiệp nhà nước chuyển sang cổ phần hoá, Nhà nước chỉ
nắm giữ một phần hoặc thậm chí không còn nắm giữ vốn nhà nước trong
doanh nghiệp. Đây là đặc điểm cơ bản quyết định toàn bộ các chức năng,
nhiệm vụ và đặc điểm khác của doanh nghiệp. Từ chỗ độc tôn vốn nhà nước,
một số doanh nghiệp đã có những ngộ nhận, lấy độc quyền Nhà nước làm độc
quyền doanh nghiệp, nay có nhiều chủ thể nắm giữ và chi phối doanh nghiệp,
nghiệp tùy thuộc vào số lượng cổ phần họ nắm giữ.
- Sau khi chuyển đổi cổ phần hoá, nhiều cán bộ, người lao động trong
doanh nghiệp vẫn giữ thói quen, tâm lý bao cấp, ỷ lại thời doanh nghiệp nhà
nước, chưa thực sự chủ động sáng tạo, vươn lên kịp thời với sự thay đổi của
doanh nghiệp. Đây là hậu quả do thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp
quá dài, các doanh nghiệp nhà nước trong tỉnh hầu như chỉ thực hiện nhiệm
vừa sản xuất, cung cấp, phân phối theo kế hoạch, không cần tính toán hiệu
quả kinh tế; từ cán bộ quản lý cho đến người lao động mang nặng tư duy, thói
quen thụ động, trông chờ cấp trên.
18
- Các đoàn thể chính trị - xã hội có sự thay đổi, điều chỉnh, điều kiện hoạt
động có những khó khăn mới, nhưng vẫn giữ được vai trò.
Các đoàn thể chính trị- xã hội được nói tới ở đây chủ yếu là các tổ chức
công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, cựu chiến binh... Cổ phần hoá tạo ra
thành phần sở hữu trong doanh nhiệp mà người lao động là những cổ đông
vừa có quyền sở hữu tài sản vừa là người lao động là một khác biệt căn bản
với trước đây: chỉ có quyền lao động, còn quyền sở hữu toàn dân và sở hữu
tập thể. Tình trạng đó làm cho việc quản lý theo kiểu “cha chung không ai
khóc”. Vì vậy, sau cổ phần hoá đã có tác động tích cực tới người lao động,
làm người lao động đổi mới về nhận thức và hành động, họ thực sự làm chủ
và lo lắng cùng doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hơn. Chính đó là sự thay
đổi, đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức đoàn thể xuất phát của tổ
chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp. Cổ phần hoá đã tạo thêm nhiều
việc làm cho người lao động, tiền lương và thu nhập được đảm bảo; quyền,
trách nhiệm và nghĩa vụ được khẳng định rõ ràng hơn và cao hơn.
- Phần lớn các doanh nhiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình là
những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh với quy mô nhỏ, năng lực sản xuất
kinh doanh và tính cạnh tranh thấp. Quảng Bình đang là tỉnh nghèo, lại trải
qua chiến tranh tàn phá nặng nề, sau khi chia tách tỉnh trở về lại địa giới cũ,
các cơ sở kinh tế hạ tầng kỹ thuật chưa có gì, công nghiệp chưa phát triển, vì
Đảng, đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm và góp phần quan trọng vào
việc hình thành phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
thông qua những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của đội ngũ đảng viên
và quần chúng nhân dân.
Đây cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động quan trọng trong xây
dựng nội bộ đảng như: kết nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh
giá đảng viên; nơi đảng viên thường xuyên thực hành các nguyên tắc tổ chức
và sinh hoạt; nơi xuất phát để cử ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.
20
Tổ chức cơ sở đảng còn là tổ chức cầu nối Đảng với quần chúng nhân
dân, là một mắt khâu trọng yếu để duy trì mối liên hệ Đảng với dân, là tổ
chức đảng gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo nhân dân và nắm bắt tâm tư,
nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh với Đảng. Dân tin Đảng,
theo Đảng hay không là nhờ ở vai trò của cơ sở đảng, cán bộ đảng viên.
Với tính cách là hạt nhân chính trị ở cơ sở, tổ chức cơ sở đảng là một
bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị cơ sở, nhưng đây là tổ chức lãnh đạo
tất cả các tổ chức khác trong hệ thống đó, là tổ chức bảo đảm cho mọi hoạt
động ở cơ sở theo đúng định hướng chính trị của Đảng. Mỗi tổ chức cơ sở
đảng có vai trò là trung tâm lãnh đạo chính trị, tổ chức và qui tụ sức mạnh của
toàn đơn vị để hoàn tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
Do vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở đảng như vậy, từ ngày thành
lập đến nay, ở mọi thời kỳ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam luôn coi các tổ chức cơ sở đảng là những đơn vị chiến đấu cơ
bản, những tế bào của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chi bộ là nền
móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt" và “Đảng mạnh là do chi bộ
tốt”. Việc xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng là nhiệm vụ
thường xuyên và quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng.
Các tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần
hoá ở Quảng Bình cũng có vai trò vị trí, vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở
đảng nói chung. Do đặc điểm của mình, vị trí, vai trò đó thể hiện rõ hơn ở
của doanh nghiệp và cũng không có cơ sở để cho rằng có sự cản trở đó trong
thực tế.
Thực hiện chủ trương của Đảng là phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung
tâm, tổ chức đảng trong doanh nghiệp đương nhiên càng phải lấy công tác xây
dựng kinh tế làm trung tâm. Tuy không trực tiếp nắm việc quản lý kinh
doanh, nhưng thông qua công tác chính trị tư tưởng của tổ chức đảng kết hợp
với việc cải tiến doanh nghiệp, phát triển sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, tổ chức đảng sẽ thể hiện vai trò hạt nhân chính trị trong quá trình này.
- Là tổ chức lãnh đạo, tập hợp, phát huy quyền làm chủ của cán bộ,
công chức, người lao động, tăng cường mối liên hệ Đảng với quần chúng ở
22
trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá. Các chi, đảng bộ cơ sở
trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá hoạt động trong mối quan hệ
thường xuyên với quần chúng và với thực tiễn, chủ động giải quyết những
vấn đề đặt ra hằng ngày, hàng giờ trong công tác, phát huy tính chủ động sáng
tạo của quần chúng để xây dựng Đảng, xây dựng doanh nghiệp.
- Là tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà
nước đã cổ phần hoá. Việc kiểm tra, giám sát này thông qua chế độ kiểm tra
tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tóm lại, tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ
phần hoá có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng và cả sự
hoạt động, phát triển của doanh nghiệp. Từ thực tế 30 doanh nghiệp cổ phần
hoá ở Quảng Bình cho thấy sự hoạt động của tổ chức cơ sở đảng ở đây mang
lại kết quả tốt cho cả việc xây dựng kinh tế và xây dựng Đảng.
1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng trong doanh
nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình
Doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình chia thành ba
loại chính: công ty cổ phần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (theo Luật
nghiệp nhà nước.
Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng trong công ty cổ
phần Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ công ty:
+ Về chức năng: đảng bộ, chi bộ trong công ty cổ phần có vốn Nhà
nước là hạt nhân chính trị, lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng và tuyên
truyền, vận động các thành viên trong công ty thực hiện đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệ và các quy chế, quy
định của công ty; tham gia xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm
vụ sản xuất, kinh doanh của công ty, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước,
bảo đảm lợi ích hợp pháp của các cổ đông và người lao động; xây dựng đảng
bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh.
24
+ Về nhiệm vụ:
- Đối với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, an ninh, quốc phòng:
Căn cứ vào điều lệ và các quy chế, quy định của công ty để tham gia
với hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) xây dựng chiến lược đầu tư,
phát triển và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh
của công ty theo đường lối, chủ trương cảu Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước; bảo tồn và phát triển vốn của công ty, của Nhà nước; hoàn thành
nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ
đông, người lao động. Lãnh đạo, vận động các thành viên trong công ty thực
hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, tích cực tham gia các hoạt động xã hội
và giữ gìn trật tự an toàn trong công ty.
Phối hợp với hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc), ban kiểm
soát lãnh đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và các quy chế
của công ty; thực hiện chế độ thông tin và bảo đảm quyền được thông tin của
đảng viên; phát huy vai trò làm chủ của người lao động, đoàn kết đảng viên,
quần chúng vì mục tiêu phát triển sản xuất, kinh doanh của công ty; ngăn
ngừa, đấu tranh khắc phục những biểu hiện vi phạm pháp luật trong công ty
làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của các cổ đông và người lao động.