LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tôi xin gửi tới PGS.TS. Nguyễn
Văn Cư là người thầy hướng dẫn trực tiếp của tôi. Trong thời gian làm luận
văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy. Tôi cũng học được ở thầy
tác phong làm việc nghiêm túc và khoa học, những điều này sẽ giúp ích cho
tôi rất nhiều trong công việc sau này. Tôi xin kính chúc thầy và gia đình luôn
mạnh khỏe và hạnh phúc.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Chính trị và
cô giáo chủ nhiệm lớp cao học PGS.TS Đào Thị Ngọc Minh đã luôn giúp đỡ,
chỉ bảo, góp ý cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập và làm đề tài. Tôi xin
chúc các thầy cô luôn mạnh khỏe và hạnh phúc.
Tôi xin gửi lời cảm ơn và chúc sức khỏe tới các thầy cô giáo tổ phương
pháp giảng dạy, khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học sư phạm Hà Nội.
Trong thời gian học tập ở trường, chúng tôi trưởng thành nên rất nhiều trong
lĩnh vực chuyên môn cũng như tác phong làm việc và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn lãnh đạo và tập thể giáo viên trường Cao
đẳng nghề GTVT TW II, An Dương, Thành phố Hải Phòng và tập thể lớp
PPDH GDCT K20, bạn bè và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều
trong quá trình học tập cũng như trong thời gian làm luận văn tốt nghiệp.
Trong quá trình làm đề tài, mặc dù tác giả đã bỏ nhiều thời gian, công
sức và được sự hướng dẫn nhiệt, chi tiết của thầy hướng dẫn. Tuy nhiên, do
trình độ còn nhiều hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót. Tôi
mong muốn nhận được những góp ý xây dựng từ phía các thầy cô và mọi
người quan tâm đến đề tài này, đề tài này được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2011
Tác giả
Phạm Thị Thanh Yến
1
MÔN HỌC CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ…………....9
1.1. Cơ sở lý luận của việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong dạy
học phần triết học của môn học Chính trị ở trường Cao đẳng nghề……9
1.1.1. Một số quan niệm về sự phát triển trong triết học trước Mác………9
1.1.2. Quan niệm về sự phát triển trong triết học Mác – Lênin…………..26
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong
dạy học phần triết học của môn học Chính trị ở trường Cao đẳng nghề 32
1.2.1. Tình hình dạy học phần triết học môn Chính trị ở các trường Cao
đẳng nghề hiện nay………………………………………………………....32
1.2.2. Tình hình dạy học phần triết học môn Chính trị ở trường Cao đẳng
nghề Giao thông vận tải Trung ương II……………………………………
35
1.3. Vai trò của việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong dạy học môn
Chính trị ( phần triết học) ở trường Cao đẳng nghề………………………..40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……………………………………………………48
3
Chương 2: THỰC NGHIỆM VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG DẠY HỌC MÔN
CHÍNH TRỊ PHẦN TRIẾT HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG II……………………..50
2.1. Kế hoạch thực nghiệm…………………………………………………50
2.1.1. Giả thuyết thực nghiệm………………………………………………50
2.1.2. Mục đích thực nghiệm……………………………………………….50
4
MỞ ĐẦU
quyết để hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường
lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn là nền tảng cơ sở để học
tập, nghiên cứu các môn khoa học khác, vận dụng nó một cách sáng tạo trong
hoạt động thực tiễn của đời sống. Như vậy, rõ ràng việc học tập, nghiên cứu
môn học Chính trị là hết sức cần thiết đối với bản thân mỗi người.
Trong dạy học các bộ môn khoa học xã hội, đặc biệt là dạy học môn
học Chính trị, việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển của triết học Mác Lênin có vai trò quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức của người dạy đến
người học, làm cho người học lĩnh hội những kiến thức từ người dạy một
cách có tốt nhất. Trong phần triết học của môn học Chính trị là những kiến
thức triết học có đặc thù là mang tính trừu tượng, khái quát cao. Đặc điểm
trừu tượng và khái quát cao này không phải là sự trống rỗng, mang tính áp đặt
chủ quan mà nó được hình thành bằng cách tách bỏ, nâng cao từ trong những
khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật của các bộ môn khoa học cụ thể phản ánh các mặt, các thuộc tính, các mối liên hệ, quan hệ riêng biệt của các
sự vật, hiện tượng. Điều đó có nghĩa là, từ những dấu hiệu tồn tại trong các
khái niệm, phạm trù riêng biệt, tư duy thực hiện sự "lọc bỏ" cái riêng biệt, cái
cụ thể, chỉ giữ lại cái chung nhất - phản ánh cái bản chất, tất yếu tồn tại trong
mọi sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy. Vì vậy, một số khái
niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật của phần triết học có quan hệ trực tiếp
hoặc gián tiếp đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chúng là cơ sở để
hình thành chức năng thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho người
học.
Vì thế, để dạy tốt phần này buộc người dạy phải nắm vững nguyên lý
về sự phát triển, phải biết vận dụng quan điểm phát triển, áp dụng vào bài
giảng để không rơi vào tình trạng chỉ trình bày “lý luận suông” thiếu tính
thuyết phục, gây nhàm chán cho người học.
Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển,
nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân chúng ta phải có quan điểm
6
điểm về tính phổ biến, trừu tượng, khái quát, đặc thù và các chức năng thế giới
quan, phương pháp luận. Đặc điểm về chức năng phát triển của các khái niệm,
phạm trù, nguyên lý, quy luật của phần triết học được thể hiện ở chỗ, chúng là
những nội dung của sự phản ánh hiện thực khách quan, phản ánh những mối
liên hệ phổ biến giữa người với người trong xã hội. Bản thân hiện thực khách
quan và những mối liên hệ ấy luôn luôn thay đổi, cho nên chúng cũng phải thay
đổi, phát triển cho phù hợp. Mặt khác, bản thân nhận thức của con người luôn
luôn là một quá trình tiếp cận dần dần đến chân lí, đến bản chất của sự vật. Do
đó, các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của môn triết học - với tính
cách là thành quả của quá trình nhận thức đó - cũng phải thường xuyên biến
đổi, thường xuyên được bổ sung để ngày càng hoàn thiện, nhằm đem lại cho
con người sự hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn,chính xác hơn và khoa học hơn.
Và chúng phục vụ cho mục tiêu hình thành con người mới; trang bị cho họ khả
năng tư duy biện chứng, trừu tượng, khái quát cao; hình thành thế giới quan
duy vật biện chứng, phương pháp luận khoa học; biết nhận thức và hành động,
ứng xử đúng đắn và phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại; có khả năng
phê phán và dự đoán đúng đắn quá trình vận động,phát triển của sự vật, hiện
tượng. Thông qua đó mà xây dựng lối sống lành mạnh và lí tưởng cao đẹp, có
tính nhân đạo và nhân văn cao cả; trở thành người công dân chân chính đáp
ứng tốt cho việc xây dựng một xã hội mới hiện đại, dân chủ và văn minh.
Hiệu quả của việc thực hiện những mục tiêu cơ bản đó, có quan hệ trực
tiếp đến khả năng và trình độ giảng dạy các tri thức triết học của người giáo
viên cũng như việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển của triết học Mác Lênin trong dạy học phần triết học. Nếu người giáo viên thực hiện không hiệu
quả sẽ dẫn tới tình trạng người học sẽ không hiểu được đầy đủ về bản chất,
cấu trúc, nội dung và những vấn đề có tính quy luật của đời sống xã hội, dẫn
đến hệ quả là người học không những không hiểu, mà còn không có đủ những
kiến thức cần thiết để tiếp thu những bài tiếp theo trong chương trình cũng
hội, Hà Nội 2005;
9
Vấn đề vận dụng nguyên lý về sự phát triển của triết học Mác - Lênin
trong quá trình dạy học thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
bài viết của nhiều tác giả được công bố trên sách, báo và các tạp chí như: Tập
“Đề cương bài giảng triết học cho cao học và nghiên cứu sinh trường Đại học
sư phạm Hà Nội – bài lý luận hình thái kinh tế - xã hội” của Thầy giáo, Phó
Giáo sư, Tiễn sĩ Nguyễn Văn Cư, Chủ tịch hội đồng nghiên cứu khoa học, chủ
nhiệm khoa Giáo Dục chính trị, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2008. Cuốn
"Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ
thông", Nxb Đại học Đại học sư phạm, 2008 của tác giả - thầy giáo Đinh Văn
Đức - giảng viên khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn học Mác – Lênin
và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường Đại học”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004 của tác giả Nguyễn Duy Bắc. Tác giả Trần Văn Phòng, “Đổi mới
phương pháp học tập lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí
Lịch sử Đảng, số 7, 2006. Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, “Một số vấn đề về
triết học - con người - xã hội”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002. Thầy giáo
Phùng Văn Bộ (Chủ biên), “Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và
nghiên cứu triết học”, Nxb Giáo dục.
Những công trình khoa học nêu trên là những nhận định rất sâu sắc của
tác giả khi bàn về nguyên lý về sự phát triển đồng thời đã đề cập, phân tích,
làm rõ về nguyên lý phát triển và những cách tiếp cận vận dụng chủ nghĩa duy
vật biện chứng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội con người
cũng như các bài viết về việc dạy học phần triết học của môn học Chính trị,
đó là nguồn tư liệu vô cùng quý báu cho luận văn.
Tuy nhiên nếu kể riêng việc vận dụng nguyên lý về sự phát trển của
Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung Ương II và đề xuất phương
hướng, giải pháp để vận dụng tốt nguyên lý này trong quá trình dạy học.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguyên lý về sự phát triển của
triết học Mác - Lênin trong dạy học và việc vận dụng nguyên lý về sự phát
11
triển của triết học Mác - Lênin trong dạy học phần triết học của môn Chính trị
tại Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung Ương II ở Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vận dụng nguyên lý về sự phát
triển của triết học Mác - Lênin trong dạy học phần triết học của môn Chính
trị, đồng thời đề xuất phương hướng, giải pháp vận dụng nguyên lý về sự phát
triển của triết học Mác - Lênin trong dạy học phần triết học của môn Chính trị
tại Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung Ương II ở Hải Phòng.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài
Các đề tài luận văn thạc sỹ của khoa là từ trước tới nay chủ yếu là
nghiên cứu về phương pháp giảng dạy các chương hay các bài cụ thể của
môn Mác - Lênin, điểm mới của khoá luận này là nghiên cứu cả vấn đề lý
luận và phương pháp giảng dạy để dạy học một bài cụ thể trong chương trình
Triết học.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được thực hiện trong luận văn là:
phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, điều tra xã hội học, thống
kê, so sánh, khảo sát, thực nghiệm sư phạm, phỏng vấn và trao đổi kinh
nghiệm với các giáo viên có nhiều kinh nghiệm dạy học.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
động” là mọi biến đổi chung, chưa nói đến khuynh hướng cụ thể đi lên
hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu.
Ngay từ thời cổ đại triết học đã rất phát triển, cũng chính ngay lúc
này có thể nhận thấy triết học đã có sự phân chia thành hai trường phái đối
13
lập đó là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Thời gian không phải là
liều thuốc để xoa dịu hay rút ngắn khoảng cách, sự đối lập ấy mà ngược lại
cuộc chiến tư tưởng ấy lại càng trở lên sâu sắc, quyết liệt hơn. Trong rất
nhiều những đối lập, mâu thuẫn thì nguyên lý về sự phát triển là một điển
hình.
*Quan niệm về sự phát triển trong triết học phương Đông
Với tư cách là một khoa học lịch sử triết học thì lịch sử triết học
phương Đông có đầy đủ những đặc điểm, tính chất, đối tượng và phương
pháp nghiên cứu của lịch sử triết học. Sự phát triển của triết học phương
Đông chính là sự giao thoa tư tưởng và văn hóa khu vực mang bản sắc riêng
vô cùng độc đáo so với triết học phương Tây.
Trung Quốc và Ấn Độ là hai trung tâm văn minh, văn học lớn của nhân
loại. Đồng thời nơi đây cũng là hai nền triết học lớn của các dân tộc phương
Đông cổ đại nói chung và các dân tộc châu Á nói riêng. Tính đa dạng, phong
phú, sâu sắc của triết học phương Đông mà tiêu biểu là triết học Trung Quốc
và Ấn Độ nói lên rằng bất cứ sự coi thường nào về văn hóa và tư tưởng của
các dân tộc châu Á đều là chủ quan trong khoa học về lịch sử, cắt xén lịch sử,
do đó không nhận thấy được tính đa dạng trong sự thống nhất của lịch sử triết
học nhân loại.
Mác từng nói rằng lịch sử phương Đông là lịch sử tôn giáo, điều này
đặc biệt thích hợp với Ấn Độ. Ở Ấn Độ đã có nhiều hệ thống tôn giáo tồn tại
và các hệ thống triết học thường gắn liền với tôn giáo. Đã gắn với tôn giáo thì
khó tránh khỏi duy tâm hay hữu thần dầu có lúc nhà triết học đã cố tách khỏi
của Ajiva, có đặc tính sờ mó được, có âm thanh, mùi, sắc và vị…”.
Như vậy có thể thấy rằng trong quan niệm của phái Jaina, đặc biệt là
trong quan niệm về thế giới vừa mang tính siêu hình vừa biện chứng, vừa lộ
diện khuynh hướng duy vật, nhưng đồng thời thể hiện tính chất duy tâm.
Phái Lokàyata “ Lokàyata là triết học duy vật triệt để nhất trong các
trường phái triết học Ấn Độ cổ”. Phái đã khẳng định thế giới sự vật hiện
tượng có nguồn gốc từ vật chất và luôn luôn vận động biến đổi. Thế giới này
có nguồn gốc từ bốn yếu tố vật chất là đất, nước, lửa, không khí. Mỗi yếu tố
15
đều tồn tại trong sự vận động và tác động lẫn nhau chính từ đó cấu thành nên
vạn vật, là cơ sở tạo nên sự biến đổi đa dạng phong phú của thế giới vật chất.
Cũng theo họ ý thức nảy sinh từ vật chất. Đây là một trong những tư tưởng có
khuynh hướng duy vật, tuy nhiên lại chưa có phương pháp luận đúng đắn,
khoa học nên không phát triển và dần bị mai một.
Triết học Phật giáo
Buddaha Trung Quốc dịch là Phật, có nghĩa là đấng giác ngộ, sáng suốt
và giác ngộ người khác. Ở Ấn Độ Phật giáo là một trong ba trường phái tà
đạo của toàn bộ chín hệ thống triết học Ấn Độ cổ. Phật giáo là trường phái
triết học cách mạng so với các trường phái triết học khác, và nó có ảnh hưởng
lớn trên phạm vi thế giới.
Nguyên lý “ nhân duyên khởi ” coi vạn vật trong vũ trụ đều có nguyên
nhân tự thân, không do một đấng thần linh nào tạo ra cả. Sự đa dạng của tồn
tại là do “ nhân duyên ” tạo ra. Nhân duyên hội thì sự vật tạo ra, nhân duyên
hết thì sự vật không còn. “ Nhân duyên” quan hệ với “Nhân quả”. Nhân là
nghiệp lực. Quả là nghiệp lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên. “Nhân
duyên khởi” và “ Nhân quả” là nguyên lý phổ biến tuyệt đối của mọi tồn tại.
“Duyên ở đây phải được hiểu vừa là nguyên nhân sinh ra cái mới, vừa là kết
quả của quá trình biến đổi cái cũ trước đó. Nhân nhờ duyên mà thành quả, quả
“ Họ cho rằng quá trình tương sinh (bồi đắp, nuôi dưỡng)
và tương khắc (ước chế) là quá trình sinh diệt, và thực chất của quá trình tồn
tại của vật chất là quá trình sinh – diệt không thôi đó”.
Như vậy thuyết Âm – Dương, Ngũ Hành đã thừa nhận tính vật chất của
thế giới,giải thích quy luật phát triển khách quan của thế giới. Tuy còn chất
phác và máy móc nhưng thuyết Âm – Dương, Ngũ Hành đã có tác dụng
chống lại chủ nghĩa duy tâm và mục đích luận trong quan niệm tự nhiên.
Trong triết học Lão Tử, những tư tưởng về sự phát triển được thể hiện
ở phép biện chứng chất phác. Theo Lão Tử, ông cho rằng mọi sự vật đều biến
hóa sinh thành từ “ Đạo” mà ra. Đạo của Lão Tử nhiều khi được dùng như
một thuật ngữ để chỉ trật tự của tự nhiên, về tính quy luật : “ người theo quy
17
luật của đất, đất theo quy luật của trời, trời theo quy luật của “ đạo”, “ đạo”
theo quy luật của tự nhiên”.
“ Đạo theo Lão Tử còn là quy luật chung của sự biến hóa của sự vật,
vừa có trước sự vật, vừa nằm trong sự vật. Quy luật biến hóa tự thân của sự
vật gọi là Đức ( Đức trong tư tưởng Đạo gia thuộc về phạm trù vũ trụ quan)” .
Lão Tử nói “ cái đạo có thể gọi ra được không phải đạo vĩnh cửu, cái
tên có thể nói lên được không phải là cái tên vĩnh cửu, không có tên đó là
nguồn gốc của trời đất, có tên là cái sinh ra muôn vật. Cho nên, thường thì
không để cho người ta thấy cái huyền diệu của nó. Hai cái đó cùng một nguồn
gốc mà hiện ra tên gọi khác nhau, cùng gọi là huyền diệu, cái đạo lớn đã lan
tràn như nước, có thể lan tràn khắp mọi bề, muôn vật dựa vào đó mà sinh….
đạo thường vô vi mà cũng bất vô vi” .
Quy luật phản phục tức là cái gì phát triển đến tột đỉnh tất sẽ trở thành
cái đối lập với chính nó, sự vật khi phát triển đến cực điểm các tính chất của
nó thì những tính chất ấy lại đi ngược lại và trở thành tương phản với chính
nó.
tinh dịch, mà tinh dịch thì ẩm ướt, thứ hai, mọi thực vật đều sống bằng nước
và đâm hoa kết trái bằng nước, sẽ khô héo nếu thiếu nước, thứ ba, bản thân
ánh sang mặt trời và các thiên thể cũng tiêu thụ hơi nước, giống như bản thân
vũ trụ” .
Như vậy trong quan niệm của Talét thì vạn vật được sinh sôi nảy nở từ
bản nguyên đầu tiên là nước, tồn tại và biến đổi với nước, khi mất đi hay tồn
tại cao hơn chúng lại trở về với nước. Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống
nhất, tồn tại như một vòng tuần hoàn mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn
đó.
Khi nhận xét về triết học Talét nói chung, những quan niệm về sự tồn
tại và phát triển của thế giới sự vật hiện tượng nói riêng Ghéc – xe (1818 –
1870) viết: “ Vậy ở đâu trong tự nhiên, trong vòng chuyển biến không ngừng
đó, nơi mà chúng ta không thấy cùng một số đặc điểm ở hai lần, ở đâu trong
đó mà ta tìm được khởi nguyên chung, ít nhất là tìm ra được một phương diện
mà thể hiện chính xác nhất tư tưởng về sự thống nhất và đứng im trong sự đa
19
dạng luôn luôn biến đổi của thế giới vật lý? Không có gì có thể tự nhiên hơn
là việc coi nước là khởi nguyên của các tính chất đó. Nó không có một hình
thức xác định, đứng im, nó ở khắp nơi có sự sống, nó là vận động vĩnh hằng
và bình yên vĩnh hằng…..” .
So với Ta lét triết học của Anaximan đã có một sự phát triển đáng kể,
phức tạp hơn, sâu sắc hơn và biện chứng hơn.
Nếu như Talét đi tìm khởi nguyên từ một hành chất có thể cảm nhận
được bằng giác quan và liên quan chặt chẽ với đời sống của con người là
nước, thì bản nguyên Anaximan lại là một cái không xác định là Apeirôn .
Ông không nói rõ Apeirôn là cái gì cụ thể mà khẳng định đó là một cái vô
định hình, vô cùng tận, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt.
Khác với Talét ông cho rằng Apeirôn ngay từ đầu trong nó đã chứa
chất đó là quy luật của tự nhiên. Theo ông mọi sự vật hiện tượng trong thế
giới đều thay đổi, vận động và phát triển không ngừng.
Trước Hêraclit các nhà triết học tự nhiên như Talét, Acnaximen,
Acnaximan của trường phái Milet đã bằng cách này hay cách khác cũng đã
tiếp cận với quan niệm về vận động và biến đổi của thế giới. Song phải đến
Hêraclit thì mới tồn tại với tư cách một học thuyết về vận động. Một câu nói
nổi tiếng mà khi nhắc tới ông người ta sẽ liên tưởng ngay đó là : “ chúng ta
không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”.
Theo Hêraclit thì vận động của sự vật gắn liền với thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập. Chính mâu thuẫn tồn tại một cách phổ biến trong
sự vật đã trở thành nguồn gốc phát triển của vạn vật. “ Vũ trụ là một thể thống
nhất, nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực
lượng đối lập nhau”, như vậy đấu tranh chính là quy luật phát triển của vũ trụ.
Lênin đã đánh giá cao vai trò những quan niệm của Hêraclit, cho rằng những
quan niệm đó đã thực hiện một trong những điểm cơ bản của phép biện
chứng, mọi cái chỉ xảy ra một lần, không lặp lại mặc dù giữa các sự vật có thể
có những kế thừa nhất định.
21
Đêmôcrit là một trong những nhà triết học duy vật tiêu biểu của triết
học Hi Lạp cổ đại.
Đêmôcrit cho rằng khởi nguyên của các thế giới là nguyên tử. Các
nguyên tử được ông cho là nhỏ nhất không phân chia được, chúng chỉ khác
nhau về trật tự, hình dạng, tư thế….Vận động được xem là bản chất của
nguyên tử, “ có vô số thế giới, chúng ta có đại lượng khác nhau, xuất hiện từ
những khoảng vô tận , sinh ra và tiêu vong…Một thế giới đang phát triển, số
khác đã đạt tới sự trưởng thành, số thứ ba đang suy thoái. Các thế giới đang ra
đời ở một nơi, nhưng lại đang biến mất ở nơi khác. Chúng bị hủy diệt, khi va
hiện tượng trong thế giới mà chúng ta đang sống chẳng qua chỉ là sự mô
phỏng lại từ thế giới ý niệm, là bản sao của thế giới ý niệm. Quan niệm duy
tâm về thế giới đã chi phối quan niệm về xã hội và con người. Sự khác biệt
trong cấu trúc và linh hồn đã quy định sự khác nhau về đẳng cấp xã hội.
Tương ứng với ba phần linh hồn của con người ( lý tính, cảm xúc, tình cảm )
chia xã hội ra làm ba hạng người tùy theo bộ phận linh hồn nào đó đóng vai
trò chủ đạo, đó là những kẻ thống trị, tầng lớp võ sĩ, tầng lớp những người lao
động. Trong quan niệm về thế giới Platon đã theo lập trường duy tâm khách
quan, coi mọi sự vật chỉ là sự hiện thân hay là sự mô phỏng của ý niệm. Quan
niệm này của Platon đã phủ nhận sạch trơn sự vận động, phát triển của sự vật,
cho rằng bất cứ sự vật nào cũng chỉ là sự thể hiện đặc thù các ý niệm tương
ứng dưới dạng vật chất.
Aristot, người được Mác đánh giá là “ nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ
đại”, Ăngghen lại nói đó là “ khối óc toàn diện nhất” trong số triết gia cổ đại
Hi Lạp. Cũng giống như triết học Platon, Aristot cũng bàn tới ý niệm, nhưng
những quan niệm về thế giới ý niệm của Aristot đối lập hoàn toàn với những
gì mà Platon đã trình bày trong học thuyết của mình.
Theo Aristot khởi nguyên của vạn vật, của thế giới đã có vật chất, đó là
vật chất thuần túy chưa bị giới hạn trong bất kỳ một hình thức nào cả. Tồn tại
trong một trạng thái không tồn tại, nghĩa là nó chưa là một cái gì cả, nhưng lại
tồn tại với tư cách là khả năng trở thành nột cái gì đó.
23
Dạng vật chất này không do ai sinh ra, nó tồn tại mãi mãi, nhưng là tồn
tại thụ động. Chúng trơ ỳ và mãi mãi trơ ỳ nếu như không được kết hợp với
một hình thức để trở thành một sự vật cụ thể. Hêghen đã nhận xét: “ vật chất
chỉ là cái nền tảng khô cứng mà trên đó diễn ra các biến đổi, và trong những
biến đổi ấy vật chất chỉ là cái chịu đựng”.
Thời kỳ tiền phê phán Canto đã đưa những quan niệm hết sức tiến bộ
về nguyên lý phát triển. Ông tuyên bố: “ hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng
thế giới từ nó, nghĩa là hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy thế
giới đã ra đời từ vật chất như thế nào”.
Theo Canto thế giới này được cấu tạo từ vật chất và luôn luôn vận
động, biến đổi, tất cả các sự vật đều nằm trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau
thông qua lực hút và lực đẩy. Thế giới là kết quả của quá trình phát triển lâu
dài của tự nhiên theo hướng ngày càng hoàn thiện. Ông cho rằng không chỉ
mọi sự vật trong thế giới chúng ta mà cả toàn bộ vũ trụ nói chung đều nằm
trong quá trình phát sinh phát triển và diệt vong như một quy luật.
Học thuyết về nguồn gốc và hình thành vũ trụ của Canto đã đi vào lịch
sử với ý nghĩa cách mạng, vì nó tiến bộ hơn hẳn so với các giả thuyết trước
đay về vũ trụ, chứa đựng nhiều tư tưởng duy vật, đem lại quan niệm mới
trong việc xem xét sự phát triển của thế giới. Theo học thuyết này không chỉ
có trái đất mà cả vũ trụ là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của chính nó, đã bác
bỏ quan niệm siêu hình khi cho rằng một thế giới chúng ta đang tồn tại thì bao
giờ cũng như bây giờ “ mà trái đất và tất cả hệ thống mặt trời thể hiện ra như
là một cái gì đã hình thành trong thời gian”.
Ngoài giả thuyết về nguồn gốc và sự hình thành vũ trụ từ những đám
tinh vân, Canto còn có giả thuyết khoa học về sự lên xuống của thủy triều do
sức hút của mặt trăng và trái đất. Ông cho rằng mỗi thiên thể trong vũ trụ ra
đời hay kết thúc chỉ là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác.
Trong tác phẩm “ Chống Đuyrrinh” Ăngghen đã đánh giá cao hai giả
thuyết khoa học này của Canto bởi hai giả thuyết khoa học này đã đem lại
một quan điểm biện chứng về sự phát triển, về mối liên hệ của các sự vật hiện
25