Thực chất và ý nghĩa của nhận thức luận phật giáo - Pdf 94

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ THẮNG
THỰC CHẤT VÀ Ý NGHĨA
CỦA NHẬN THỨC LUẬN PHẬT GIÁO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
TRIẾT HỌC
Huế, 2010
NGUYỄN THỊ THẮNG - LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC - HUẾ, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THẮNG
THỰC CHẤT VÀ Ý NGHĨA
CỦA NHẬN THỨC LUẬN PHẬT GIÁO
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THANH TÂN
Huế, 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên
cứu của bản thân tôi, trong đó có sự kế thừa kết quả
nghiên cứu của các học giả đi trước, với những trích
dẫn và sử dụng các tài liệu trong giới hạn cho phép.
Luận văn này chưa được công bố trên các phương
tiện thông tin cũng như không trùng với bất kỳ công

nội dung quan trọng trong vấn đề cơ bản của triết học, có thực chất là vấn đề
về mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong quá trình nhận thức. Vì vậy,
lý luận nhận thức có nội dung rất phong phú gồm quan niệm về bản chất của
nhận thức, về quá trình nhận thức và các cấp độ của nhận thức, chân lý và
tiêu chuẩn của chân lý cũng như tính tin cậy của tri thức Vấn đề nhận thức
luận trong triết học còn được thể hiện về phương diện bản thể luận, trong
quan niệm về ý thức, sự lý giải về mối quan hệ giữa ý thức và vật chất và
trong cả tư tưởng triết học về con người.
Mọi trào lưu triết học trong sự phát triển của mình không thể không đề
cập đến các vấn đề nhận thức luận. Triết học Phật giáo cũng vậy, có một nội
dung quan trọng là bàn về các vấn đề nhận thức luận. Nhận thức luận Phật
giáo không chỉ có tác dụng làm sáng tỏ những tư tưởng triết học của bản thân
trường phái này, mà còn có những cống hiến nhất định cho sự phát triển của
nhận thức luận nói chung. Vì vậy, sẽ thật là thiếu sót khi chúng ta bàn về
nhận thức luận nói chung mà bỏ qua vấn đề nhận thức luận trong triết học
Phật giáo, bởi nếu không bàn về nhận thức luận Phật giáo thì không thể bàn
đến triết học Phật giáo - một trào lưu triết học đã từng có những ảnh hưởng
nhất định trong lịch sử tư tưởng của loài người ở quá khứ, hiện tại và trong cả
tương lai.
Có thể nhận định rằng, mảng nhận thức luận trong triết học Phật giáo
bên cạnh những hạn chế nhất định còn có những đóng góp to lớn cho sự phát
triển tư duy triết học Phật giáo nói riêng và cho nền triết học của nhân loại
nói chung. Vì thế, bàn về nhận thức luận Phật giáo là một điều cần thiết đối
với những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy triết học. Xuất phát từ
lý do đó, tác giả chọn vấn đề: “Thực chất và ý nghĩa của nhận thức luận
Phật giáo” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, các vấn đề của nhận thức luận đã được bàn đến ngay từ buổi
ban đầu khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra Phật giáo. Ngoài số lượng
Kinh, Luật, Luận của Phật giáo được tích lũy hơn 2600 năm qua, còn có

Bên cạnh những công trình nói trên, khi bàn về nhận thức luận Phật giáo
còn có các tác phẩm như: “Lối vào nhân minh học” của Thích Thiện Siêu,
“Duy thức học nhập môn” của Thích Thiện Hoa; “Tâm lý học Phật giáo” của
Thích Tâm Thiện
Các công trình trên đây đã bàn về Nhân minh luận, Duy thức học, Lôgic
học, Tâm lý học Phật giáo và có gián tiếp đề cập đến một số khía cạnh nhất
định của nhận thức luận có liên quan đến đề tài. Những công trình đó là tài
liệu tham khảo quý giá, đã có nhiều gợi ý giúp chúng tôi hoàn thành luận văn
của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ thực chất và ý nghĩa của nhận thức luận
Phật giáo.
Trên cơ sở mục đích đó, tác giả đặt ra nhiệm vụ là:
- Phân tích thực chất của nhận thức luận Phật giáo.
- Phân tích ý nghĩa của nhận thức luận Phật giáo đối với sự phát triển
của bản thân triết học Phật giáo nói riêng và đối với sự phát triển của tư
tưởng triết học nói chung.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận của đề tài là các nguyên lý duy vật biện chứng của triết học
Mác - Lênin; đặc biệt là các nguyên lý duy vật biện chứng về nhận thức.
Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là các nguyên tắc của phép biện
chứng. Để vận dụng các nguyên tắc này vào việc giải quyết các nhiệm vụ của
đề tài, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp chung như phân tích và
tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, thống kê và chú giải các tài liệu.
5. Đóng góp của luận văn
Với luận văn này, tác giả cố gắng trình bày một cách cơ bản, có tính hệ
thống về nhận thức luận Phật giáo trong sự so sánh với nhận thức luận của
các hệ thống triết học khác, nhất là với nhận thức luận mácxít; từ đó đánh giá
ý nghĩa của bộ phận này trong triết học Phật giáo.
Nếu thực hiện được mục đích này, luận văn có thể làm tài liệu tham

Thứ nhất, làm sao biết rõ tiến trình nhận thức?
Thứ hai, nếu phân loại những gì mình nhận thức được thì có bao nhiêu
đối tượng được lượng biết tất cả?
Thứ ba, bằng cách nào mình lượng biết được những đối tượng ấy (các
hình thái của nhận thức)?
Những câu hỏi cứ lần lượt đặt ra song không phải trường phái triết học nào
cũng có thể trả lời và trả lời thấu đáo được. Vậy, triết học Phật giáo thì sao?
Trước hết, chúng ta tìm hiểu những quan niệm khái quát trong nhận thức
luận Phật giáo qua giáo lý Tám thức.
Phật giáo cho rằng, con người có sáu năng lực nhận biết về đối tượng,
gọi là Lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Tương ứng với Lục căn là đối
tượng trong khách thể nhận thức (gọi là Cảnh) gồm Lục trần: sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp. Khi Lục căn gặp phải Lục trần trong quá trình nhận biết
thì Phật giáo gọi là Lục nhập. Sự gặp gỡ của Lục căn và Lục trần trong quá
trình nhận biết sinh ra cái biết, gọi là Thức, mà trước hết gồm có Lục thức:
Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.
Nhãn căn lấy sắc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhãn thức.
Nhĩ căn lấy thính trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhĩ thức.
Tỷ căn lấy hương trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Tỷ thức.
Thiệt căn lấy vị trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thiệt thức.
Thân căn lấy xúc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thân thức.
Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi , tác dụng thấy, nghe, ngửi ấy là Thức. Mỗi
thức có một tác dụng riêng, thức là một tác dụng vô hình, vô tướng. Thức ở
đâu cũng có và ở đâu có căn và có cảnh thì tác dụng ấy có thể được biểu hiện.
Phân biệt thuần tuý của năm thức ấy là một phân biệt bằng trực giác, nên
không phải là một phân biệt có tính cách suy tầm, đắn đo. Phân biệt suy tầm đắn
đo là phân biệt của thức thứ sáu tức ý thức rộng lớn vô cùng. Đối tượng của ý
thức là Pháp trần sinh ra các tư tưởng. Khi thức này hợp tác cùng năm thức
trước thì đối tượng tổng hợp của nó là ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
Nếu năm căn trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) có quan năng phát sinh

phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức
trong bộ óc con người về hiện thực khách quan. Thế giới khách quan ở đây là
vật chất tồn tại trong sự vận động, từ vận động ở trình độ thấp như vận động
có tính cơ giới của các vật thể vô cơ đến sự vận động ở trình độ cao như
trong sự sống, trong các hình thái kinh tế - xã hội, trong các hoạt động tư duy,
sáng tạo, các hoạt động tâm lý của con người Như vậy, có thể nói, đối
tượng nhận thức trong triết học Mác - Lênin được quan niệm là các sự kiện,
hiện tượng và quá trình đa dạng của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Trong triết học Phật giáo, khách thể nhận thức được chia thành ba
nhóm, gọi là Tam cảnh gồm: Tánh cảnh, Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh. Ba
cảnh này còn được gọi là Tướng phần, trong tương quan với chủ thể nhận
thức thì được gọi là Kiến phần.
Kinh Bộ lượng - Du già của Phật giáo cho rằng, thực tại là một dòng
biến chuyển, vận động không ngừng, là sự thống nhất của vận động và đứng
im. Các thời điểm đứng im đó diễn ra trong thời khắc rất ngắn, và ngay trong
thời điểm ngắn ngũi như vậy, thực tại cũng đã có sinh, có diệt, có đủ bốn
tướng sinh, trụ, dị, diệt. Mặc dù có tương tục tiếp nối, song sự vật ở những sát
na khác nhau được coi là những hiện tượng khác nhau. Mỗi sát na cũng có
tính tách biệt với những sát na khác.
Vì vậy, chỉ những thực tại có trong từng sát na mới là đích thực, hay còn
gọi là thực tại tối cao, thực tại trực tiếp, thực tại cứu cánh. Đó là thực tại
không có vị trí xác định trong không gian và trì tục tính (tính liên tục) trong
thời gian, mà chỉ là những điểm tồn tại trong từng sát na. Thực tại đó là thực
tại siêu ngôn ngữ, không thể diễn đạt thành lời. Thực tại này trong nhận thức
luận Phật giáo gọi là Tánh cảnh.
Tánh là bản chất, Cảnh là đối tượng. Như vậy, Tánh cảnh là bản chất
của đối tượng hay là bản chất của thực tại khách quan. Tác giả Thích Tâm
Thiện trong tác phẩm Tâm lý học Phật giáo đã nhận định rằng: “Tự thân đỉnh
Lambiang thì hoàn toàn khác so với tri giác của chúng ta về nó. Đỉnh
Lambiang trong thực tại và trong tri giác không giống nhau vì bản thân tri

cảnh và Tự đới chất cảnh (chúng tôi sẽ làm rõ ở phần sau).
Cảnh thứ ba là Độc ảnh cảnh, đây là thế giới ảnh tượng do ý thức tái thiết
lại khi vắng mặt cảm giác trực tiếp, nghĩa là khi nó hoạt động vượt qua ảnh
hưởng cộng tác của năm thức đầu. Đây cũng là những hình ảnh, biểu tượng,
khái niệm, ngôn từ có tính thuần túy đã vượt qua sự chi phối trực tiếp của hiện
thực khách quan đứng sau chúng, là thực tại có trong tâm thức của con người,
do con người tạo dựng nên, là sản phẩm thuần túy của tư duy con người. Độc
ảnh cảnh chỉ có thể là đối tượng của ý thức mà không thể là đối tượng của các
thức khác. Khi ý thức cộng tác với năm thức đầu thì đối tượng có thể là Tánh
cảnh hay Đới chất cảnh. Còn khi nó hoạt động độc lập, vượt khỏi năm thức ấy
thì đối tượng của nó chỉ có thể là Độc ảnh cảnh, thế giới những ảnh tượng, có
cả trong các trường hợp hồi tưởng, tưởng tượng và mộng mị.
Độc ảnh cảnh có hai loại, đó là độc ảnh cảnh hữu chất và độc ảnh cảnh
vô chất.
Độc ảnh hữu chất là những ảnh tượng trung thành của những cảm giác
và ý tưởng đã từng làm đối tượng của ý thức. Ý thức tạo dựng lại ảnh tượng
của những gì đã làm đối tượng cho nó trước kia, và lấy những ảnh tượng này
làm đối tượng. Ảnh tượng của một con hổ mà ta thấy hôm qua nay được nhớ
lại trong trí nhớ của chúng ta, đó là một Độc ảnh cảnh chứ không phải là một
Đới chất cảnh. Vì sao? Bởi vì nó không được cấu tạo trực tiếp trong trường
hợp cảm giác. Ảnh tượng con hổ được tạo dựng trên một đới chất đã từng có
mặt, cho nên được gọi là Độc ảnh cảnh hữu chất.
Trái lại, Độc ảnh vô chất lại là sản phẩm hoàn toàn của ý thức, không
phải là hình bóng trung thành của các đối tượng cảm giác. Chẳng hạn, ảnh
tượng một vị thần trong nhận thức trẻ thơ hay ảnh tượng của một ngôi nhà mà
mình ước mơ sẽ xây dựng nên sau này đó là những Độc ảnh vô chất.
Tóm lại, Độc ảnh cảnh vô chất là đối tượng của ý thức trong trường hợp
tưởng tượng sáng tạo, trong khi Độc ảnh cảnh hữu chất là đối tượng của ý
thức trong trường hợp tưởng tượng phục hồi.
Có thể nói, đối tượng của nhận thức như được trình bày ở trên thể hiện

Năm thức đầu và ALaya thức là hai loại tâm thức luôn luôn nhận biết
bằng Hiện lượng.
Trước hết là trường hợp nhận thức của năm thức đầu, nghĩa là năm thức
cảm giác qua: thấy, nghe, nếm, ngửi và xúc chạm.
Năm tâm thức hiểu biết Hiện lượng nghĩa là khả năng của năm tâm thức
chỉ hiểu biết được những cảnh vật có hình chất và những cảnh vật không có
thể chất đang hiện hữu trong thế gian. Năm thức này hiểu biết Hiện lượng khi
có tính chất độc lập, nghĩa là khi chưa có sự cộng tác của ý thức - thức thứ
sáu và cũng không có sự so đo chấp trước hay sự điều khiển của thức Mạt na.
Năm tâm thức thường hiểu biết nơi cảnh vật đối tượng không có sự suy luận
và diễn dịch. Nói cách khác, đối với vạn pháp, năm tâm thức hiểu biết không
có tính so lường thiệt hơn, không có phân biệt phải trái, tốt xấu, không có cân
nhắc đúng sai Sự hiểu biết của năm tâm thức này là sự hiểu biết thuộc về
Hiện lượng.
Chẳng hạn, bà của Nam thích cháu mình đọc truyện cổ tích cho bà nghe,
nhưng cậu ấy không thích vì đã có hẹn đi chơi bóng cùng bạn. Bà của Nam
không biết điều đó nên bắt Nam phải đọc và cậu ấy cố đọc nhanh câu chuyện
để kịp giờ đi chơi. Trong lúc đọc truyện, nhãn thức của cậu ấy chỉ để đọc và
Nam đọc một cách tự nhiên, không hề có một chút sai sót nào. Nhưng khi đọc
xong, cậu ấy không thể biết được sách đó nói về gì và nếu có ai đó muốn
nghe Nam kể lại câu chuyện đó thì cậu ấy cũng không thể làm được điều đó.
Vì sao vậy? Vì trong lúc đọc truyện, Nam không hề để ý vào những nhận
định, mặc dù cậu ấy quả quyết đọc không sai một chữ nào của câu truyện.
Đây là một hiện lượng mà nhãn thức của Nam không hề cộng tác với ý thức
(thức thứ sáu) để phân biệt tính chất, giá trị và ý nghĩa của câu truyện. Cho
nên, Nam không thể tường thuật lại câu chuyện ấy cho người khác nghe.
Như vậy, sự nhận biết của năm tâm thức đối với vạn pháp chính là Hiện
lượng. Đó là sự nhận thức trực tiếp, tức khắc, phi ảo giác, phi kiến tạo, thông
qua các kênh hoạt động giác quan tiếp xúc với đối tượng.
Không chỉ có năm tâm thức mới có khả năng nhận biết Hiện lượng mà

giải. Những hiện tượng ảnh tử do năm thức đầu cung cấp đều phát sinh từ nơi
những sự vật có thực chất trong thế gian nên gọi là chân và ý thức hiểu biết
đúng những hiện tượng ảnh tử đó bằng sự suy luận và diễn giải nên gọi là
Chân tỷ lượng.
Nếu Chân tỷ lượng là sự hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị và ý
nghĩa của ý thức thứ sáu về vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy
luận và diễn dịch thì Tợ tỷ lượng là việc ý thức nhớ lại (hồi tưởng) và so sánh
những quá trình nghiệm sống của mình để hiểu biết tính chất, ý nghĩa và giá
trị từng loại trong cuộc đời. Những quá trình nghiệm sống nói trên đã được
đúc kết lại thành những hạt giống và cũng đã được tàng trữ trong thể thức
Alaya. Khi muốn nhớ lại thì ý thức phải nhờ thức Mạt na mang những hình
ảnh của hạt giống này từ trong thể thức Alaya đưa lên để trình diện cho ý
thức thứ sáu so sánh. Sự so sánh này của ý thức để hiểu biết được gọi là Tợ tỷ
lượng, vì những hình ảnh đem so sánh này có phần không thực chất và cũng
không giống những sự vật hiện tượng có mặt trong thế gian.
Hình thái nhận thức thứ ba trong triết học Phật giáo gọi là Phi lượng.
Thực ra, đây không phải là một hình thái nhận thức độc lập với hai hình thái
nhận thức trước. Hiện lượng và Tỷ lượng có khi đúng và cũng có khi sai, mà
mỗi khi sai thì đều là Phi lượng. Hiện lượng mà sai thì không phải là Chân
hiện lượng mà là Tợ hiện lượng. Tỷ lượng mà sai thì không phải là Chân tỷ
lượng mà là Tợ tỷ lượng. Tợ ở đây là có vẻ giống như cái đó nhưng thực ra
không phải là cái đó. Chẳng hạn, khi ta đi trong đêm tối mà nhận lầm sợi dây
làm con rắn thì đó là Tợ hiện lượng; còn khi suy diễn sai một điều gì chẳng
hạn thì đó là Tợ tỷ lượng.
Như vậy, Phi lượng là sự xét đoán của Tỷ lượng và Hiện lượng nhưng
sai lầm, không đúng sự thật. Đây thường là sự hiểu biết của thức Mạt na, một
sự nhận thức bằng tưởng tượng, nhận biết mang tính chất so đo, chấp trước.
Sự xét đoán, so lường của Mạt na thức thường chấp trước những điều không
đúng chân giá trị của hiện tượng thực tại nên gọi là Phi lượng. Thức Mạt na
luôn chấp trước nên khống chế và điều khiển ý thức nhận xét mọi việc và

tính. Riêng biểu tượng, nhận thức luận Phật giáo coi là hình thức của nhận
thức Tỷ lượng.
Trong nhận thức luận mácxít, nhận thức cảm tính chỉ cung cấp những
hiểu biết ban đầu về đối tượng nhận thức. Những hiểu biết đó thường là về
những vẻ bề ngoài của đối tượng. Từ những tri thức trực quan, cảm tính, bề
ngoài đó chưa thể phân biệt được hoặc xác định được cái bản chất và không
bản chất, cái tất nhiên và ngẫu nhiên, tính phổ biến và cá biệt. Hơn nữa, nhận
thức cảm tính luôn bị giới hạn trong hoạt động của các giác quan nên nhận
biết không thể vượt ra ngoài giới hạn của tri giác. Như vậy, với nhận thức
cảm tính, con người không thể nhận biết mọi không gian, sắc màu, âm thanh,
mùi vị hay tiếp xúc được với những khối lượng cực lớn, cực nhỏ; trong khi
nhiệm vụ của nhận thức là phải nắm bắt được bản chất, tính tất yếu và tính
quy luật của đối tượng. Nhận thức luận mácxít cho rằng, để thực hiện được
nhiệm vụ đó, quá trình nhận thức phải chuyển lên giai đoạn cao hơn, nhận
thức lý tính.
Coi hình thái nhận thức đầu tiên - Hiện lượng có đối tượng nhận thức là
cái riêng, cái đặc thù nên đích mà các nhà triết học Phật giáo hướng tới cho
Hiện lượng là chân lý tuyệt đối. Chính cái chân lý tuyệt đối ấy là tiền đề quan
trọng của quá trình lập luận. Chân lý tuyệt đối ở đây có thể đến với chủ thể
bằng nhiều con đường khác nhau như: trực quan cảm tính, trực quan siêu
nghiệm, bằng trực giác tâm linh. Với các đặc trưng nhận thức trực tiếp bằng
cảm giác, phi kiến tạo, phi ảo giác, cộng thêm vào đó là những trực giác siêu
nghiệm, tâm linh thì nhận thức của con người mới tiệm cận với chân lý tuyệt
đối được. Tức là chỉ riêng ở giai đoạn này, theo nhận thức luận Phật giáo, con
người mới có thể nắm bắt bản chất đích thực của thế giới các sự vật hiện
tượng, hiểu được bản chất của thế giới tự thân. Nếu chuyển sang hình thái
nhận thức Tỷ lượng thì con người sẽ không làm được điều đó. Rõ ràng, đây là
một điểm khác với nhận thức luận mácxít.
Về giai đoạn nhận thức thứ hai, nhận thức luận mácxít cho rằng, nhận
thức lý tính có được là hoạt động của tư duy trừu tượng. Tư duy trừu tượng

thức lâu dài xuyên qua vô số những chân lý tương đối bao gồm cả nhận thức
cảm tính và nhận thức lý tính, phải xuất phát từ thực tiễn để hình thành kinh
nghiệm và xây dựng lý luận. Và cuối cùng, điều quan trọng để biết tri thức ấy
đúng hay sai thì phải đem nó áp dụng vào trong thực tiễn. Quá trình ấy là một
quá trình lâu dài, chứ không phải chỉ đơn thuần như sự cảm giác một cách
trực tiếp, vô phân biệt, phi kiến tạo, phi ảo giác và cộng thêm vào đó là
bằng trực giác siêu nghiệm, tâm linh thì con người mới có thể tiệm cận với
chân lý tuyệt đối được. Chính ở đây, trong quá trình nhận thức, triết học Phật
giáo đã mang theo và chứa đựng trong mình một cách rõ ràng yếu tố tâm
linh, là một đặc điểm quan trọng để thể hiện mình với tư cách là một tôn giáo
thật sự như bất kỳ một tôn giáo nào đã từng có mặt và tồn tại trong lịch sử.
Tóm lại:
Với câu hỏi, những đối tượng nào được lượng biết trong quá trình nhận
thức? Nhận thức luận Phật giáo cho rằng, những đối tượng ấy chính là: thế
giới Tánh cảnh, thế giới Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh. Mỗi đối tượng trên
đều mang những sắc thái riêng, tuy nhiên, đích cuối cùng mà nhận thức luận
Phật giáo muốn đạt đến là thế giới Tánh cảnh, bởi đây là thế giới mang bản
chất của đối tượng hay là bản chất của thực tại khách quan.
Với câu hỏi bằng cách nào để lượng biết các đối tượng ấy? nhận thức
luận Phật giáo chỉ ra trong học thuyết Tam lượng rằng có ba hình thái để
nhận biết đối tượng, bao gồm: Hiện lượng, Tỷ lượng và Phi lượng. Cũng như
những đối tượng nhận thức nói trên, mỗi hình thái nhận thức ở đây cũng
mang những sắc thái và những chức năng riêng. Hiện lượng nhận thức một
cách trực tiếp, đúng thật; Tỷ lượng nhận thức một cách so đo, tính toán, suy
diễn, phân biệt; Phi lượng thường mang đến những sự nhận thức sai biệt làm
cho khác đi so với sự thật. Nếu cái đích mà nhận thức luận Phật giáo hướng
tới ở đối tượng là thế giới Tánh cảnh thì ở các hình thái nhận thức đó phải là
Hiện lượng. Bởi chỉ với Hiện lượng thì con người mới có thể nhận thức được
thế giới Tánh cảnh. Chúng ta sẽ rõ hơn khi đi vào trả lời câu hởi lớn nhất mà
tiết 1 đã đặt ra: làm sao để biết rõ tiến trình nhận thức?

duyên, chịu điều kiện hóa bởi những hiện tượng liên hệ. Thức phát sinh do
Căn và Cảnh, nương tựa trên căn cứ phát sinh (căn) và đối tượng của căn cứ
đó là Cảnh để tồn tại. Năm thức trước có những Căn và Cảnh vật chất. Ngũ
căn ở đây là sinh lý và Cảnh ở đây là vật lý. Chẳng hạn, Nhãn thức (thị giác)
không thể tồn tại nếu không có Nhãn căn tức là thị quan và sắc trần, tức là
sắc hình. Sự tiếp nối của những chuỗi xúc chạm giữa các giác quan sinh lý
của con người và đối tượng vật lý của chúng tạo nên sự tiếp nối của những
chuỗi cảm giác mà ta gọi là Thức. Vì Thức luôn luôn biến chuyển. Thức ở
đây là những dòng cảm giác hay tri giác mà không phải là một cái gì bất biến
có tính đồng nhất. Chẳng hạn, khi ta ngắm nhìn một đóa hoa trong một thời
gian dài, ta có cảm tưởng là cảm giác, tri giác và ý thức của ta về sự có mặt
của đóa hoa cũng tồn tại lâu bằng thời gian ta đứng ngắm. Thực ra, không
phải chỉ có một cảm giác, một tri giác và một ý thức mà cả một loạt những
cảm giác, tri giác và ý thức nối tiếp nhau. Với mỗi cảm giác chẳng hạn, trong
thời gian sát na của nó, vừa lúc đóa hoa phát động tác dụng và trở thành đối
tượng của nó, đối tượng này là ảnh tượng của đóa hoa truyền đạt qua con
mắt. Đúng vào lúc này, ảnh tượng của đóa hoa liền được Huân tập trở thành
một tân huân chủng tử và được hiện hành trở lại ngay sau đó để làm bối cảnh
hồi tưởng cho sự hiểu biết, tức tuệ phát sinh do sự tác động của tư duy tức
của tâm sở cuối trong năm tâm sở biến hành (tác ý, xúc, thọ, tưởng và tư). Tri
giác này được tạo ra do một ảnh tượng mới của đóa hoa mà con mắt mới
chuyển đạt vào. Vô số những ảnh tượng như thế được tiếp nối truyền đạt vào
trung khu cảm giác, làm cho vô số đối tượng tiếp nối nhau và vô số hiện
tượng cảm giác và tri giác xuất hiện nối tiếp nhau.

Trích đoạn Lập trường triết học của nhận thức luận Phật giáo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status