MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4
6. Đóng góp của khóa luận
5
7. Kết cấu của khóa luận
5
NỘI DUNG
6
CHƯƠNG 1: THỰC CHẤT CỦA HỌC THUYẾT MÂU THUẪN
TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN
6
1.1.1. Khoa học lôgích
6
1.1.2. Triết học tự nhiên
13
1.1.3. Triết học tinh thần
16
1.2. Nội dung của “Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học hêghen
26
Đúng như vậy, điều này đã gây tranh cãi trong suốt chiều dài lịch sử
triết học với hai trường phái chính duy vật và duy tâm. Tuy nhiên Lútvích
Phơ Bách đã từng nhận xét rằng: “Chân lí không phải là chủ nghĩa duy vật
hay chủ nghĩa duy tâm, mà chân lí chính là nhân bản học”. Trên một số khía
cạnh nào đó chủ nghĩa duy vật sẽ không bao giờ hoàn thiện nếu thiếu chủ
nghĩa duy tâm. Bởi nó chính là hai mặt thống nhất của một vấn đề, đó là vấn
đề lịch sử triết học. Thật sai lầm khi đứng trên đỉnh cao của chủ nghĩa Mác –
Lênin để nhìn chủ nghĩa duy tâm bằng một con mắt. Đừng quên rằng đỉnh cao
của triết học duy tâm Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là tiền đề trực tiếp
cho triết học Mác – Lênin mà đại biểu của nó không ai khác ngoài triết gia lỗi
lạc Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831).
Đối với hầu hết chúng ta triết học Hêghen quả là một dấu chấm hỏi to
tướng. Ở ông có sự hội ngộ và lan tỏa của các dòng triết học đương đại, đến
nỗi người ta phải lấy ông làm ngã rẽ cho lịch sử triết học. Đúng như vậy, triết
học của Hêghen là một hệ thống đồ sộ, những lĩnh vực nghiên cứu của ông
đâu đâu cũng mở ra cho nhân loại một chân trời mới. Cho đến nay ngót gần
hai thế kỉ, đứng trước ngưỡng của thế kỉ XXI mà ngoảnh lại người ta phải
bàng hoàng và lạ lẫm. Vậy Hêghen là ai? Vai trò của con người này ra sao? Ở
ông có gì đặc biệt?.
Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831) là triết gia thuộc dòng triết
học cổ điển Đức, là người đầu tiên trong lịch sử triết học trước Mác đã trình
bày một cách có hệ thống phép biện chứng mà sau này nó trở thành nội dung
3
cốt cán của triết học Mác – Lênin. Tất cả những tư tưởng này được ông luận
giải trong tác phẩm đồ sộ “Lôgích học” với việc trình bày ba qui luật và
những cặp phạm trù cơ bản.
Việc này đã xứng đáng đưa Hêghen trở thành triết gia thiên tài trong mọ triết
gia thiên tài. Trong hoạt động vật chất phong phú và đa dạng đang diễn ra
hàng ngày hàng giờ. Dù bất cứ ở lĩnh vực nào trong tự nhiên, xã hội, tư duy
hay trong sự sinh thành, tồn tại, phát triển và diệt vong của một hạt bụi, một
“Học thuyết về bản chất”. Bên cạnh đó “Quan điểm cơ bản của G.V.P Hêghen
về lôgích học” của T.S Lê Thanh Tâm, Đại học KHXH và NV, 2003 lại cho
chúng ta thấy rõ hơn sự vận động của “lý tính thế giới” trong “Khoa học lô
gích”. Ngoài ra “Tập bài giảng Triết học cổ Đức” của T.S Nguyễn Thanh
Tân, Đại học Khoa học Huế đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức cơ bản
nhất về triết học cổ điển Đức nói chung và triết học Hêghen nói riêng. Với
tinh thần đó, tôi muốn nghiên cứu học thuyết mâu thuẫn của Hêghen ở một
góc độ mới để chiêm nghiệm đầy đủ hơn tài năng của thiên tài.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Nhằm xác định vị trí và nội dung của
“Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen. Khi đã xác định được “tọa
độ” của học thuyết mâu thuẫn, chúng tôi trình bày ý nghĩa của nó đối với hệ
thống triết học Hêghen nói riêng và lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung. Qua
đó làm bật lên những giá trị của “Học thuyết mâu thuẫn” mà ông đã để lại cho
hậu thế.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Để xác định được vị trí và nội dung
của “Học thuyết mâu thuẫn” trong hệ thống triết học của Hêghen chúng tôi cố
gắng trình bày khái quát ba bộ phận triết học Hê ghen gồm: Khoa học lôgích,
Triết học tự nhiên và Triết học tinh thần. Khi có cái nhìn khái quát về triết học
Hêghen chúng tôi đi vào phần trọng tâm để làm minh bạch nội dung “Học
5
thuyết mâu thuẫn”. Để nhiệm vụ này được hoàn thành chúng tôi đã khảo sát
một số quan niệm trước Hêghen về mâu thuẫn. Cuối cùng là trình bày về sự
triển khai “Học thuyết mâu thuẫn của Hêghen”. Sau khi thấy được vị trí và
nội dung của “học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen, chúng tôi cố
gắng đánh giá một số ý nghĩa cơ bản của nó đối với hệ thống triết học Hêghen
và lịch sử tư tưởng nhân loại. Thông qua so sánh, đối chiếu với các quan niệm
về mâu thuẫn trước Hêghen.
Nghiên cứu học thuyết mâu thuẫn trong triết học Hêghen có ý nghĩa
hàng đầu làm cơ sở để giải thích quá trình xuất hiện và hình thành một trong
Chương 2: Ý nghĩa của “Học thuyết về mâu thuẫn” trong triết học
Hêghen.
7
Chương 1
THỰC CHẤT CỦA HỌC THUYẾT MÂU THUẪN
TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN
1.1. Vị trí của “Học thuyết mâu thuẫn” trong hệ thống triết học Hêghen
Hêghen triển khai lý tính thế giới qua ba dạng thức và tương ứng ông
cấu tạo hệ thống triết học của mình theo ba bộ phận: “Khoa học lôgích”,
“Triết học tự nhiên” và “Triết học tinh thần”. Mỗi bộ phận được xếp tuần tự
và giữa chúng có quan hệ biện chứng với nhau. Vì theo quan điểm của
Hêghen thì “ý niệm tuyệt đối” là đối tượng của lôgích học, với tư cách là phần
đầu hệ thống của ông. “Ý niệm tuyệt đối” của ông là một quá trình tư duy, xét
riêng bản thân nó, dưới hình thức “thuần túy” tách khỏi con người. Còn bản
thân hiện thực thì Hêghen lại coi là một quá trình lôgích. Theo Hêghen vì
rằng “ý niệm tuyệt đối” là nằm “trên trời” nên lôgích với tính chất là học
thuyết về “bầu trời” phải đi trước triết học về thế giới tự nhiên. Lịch sử tự
nhiên và lịch sử xã hội đối với Hêghen là lôgích học thực nghiệm. Trong mỗi
bộ phận của hệ thống này là mỗi một nhiệm vụ, nội dung và phương pháp
riêng được Hêghen trình bày một cách chi tiết và sâu sắc.
1.1.1. Khoa học lôgích
“Khoa học lôgích” của Hêghen có nhiệm vụ chỉ rõ xem “tinh thần thế
giới” phát triển từ tồn tại thuần túy lên đến quan niệm tuyệt đối như thế nào.
Hêghen thừa nhận tồn tại, bản chất và khái niệm là ba sự “quy định” chủ yếu,
ba hình thức thể hiện chủ yếu của cái tuyệt đối trong quá trình tự phát triển
của nó ở lĩnh vực lôgích. Người ta thường nói “lôgích học dạy cho con người
ta suy nghĩ” nhưng đối với Hêghen không chỉ thế mà lôgích học còn giúp
nghiên cứu được bản thể của thế giới. Nó đồng nhất với tư duy nên Hêghen
gọi là “tư duy vì nó”. Nghiên cứu lý tính tồn tại được dưới dạng các phạm trù
lôgích. Vậy nên Hêghen cho rằng “Khoa học lôgích” là vương quốc của
phận thứ nhất của “Khoa học lôgích” là “học thuyết về tồn tại”. Đây là bộ
phận đầu tiên của “Khoa học lôgích”. Nó trình bày ý niệm lôgích ở giai đoạn
đầu gồm ba thiên: Thiên 1: “Chất” (hay tính qui định) Hêghen đã trình bày
qua ba vòng khâu: “Tồn tại nói chung”, “tồn tại hiện có” và “tồn tại vì nó”.
Ở tồn tại nói chung Hêghen đã luận chứng nó với ba vòng khâu: “Tồn
tại thuần túy” đồng thời là “hư vô thuần túy” và sự kết hợp giữa chúng là
“sinh thành”. “Sinh thành” được hiểu là một cái gì đó đang đúng với tồn tại
nhưng chưa thực sự tồn tại. Sinh thành là một cái tồn tại đồng thời không tồn
tại. Bản thân nó vừa tồn tại vừa không “tồn tại vì nó” đang đi vào hư vô. Theo
Hêghen cái ban đầu tồn tại thuần túy là tồn tại không có tính qui định có
nghĩa là hư vô. Vậy sinh thành là một mâu thuẫn. Nó tương ứng với thuyết
“vô thường”. Theo thuyết “vô thường” thì: “Sắc sắc không không”, “diệc hữu
diệc không”, “phi hữu phi không”. Vậy sinh thành có đủ ba đặc điểm của nhà
Phật. Điều này có thể khẳng định rằng: G. V. P Hêghen ngang tầm với tư duy
Phật giáo đại thừa. Hêghen đã lột bỏ sinh thành tức là vừa chấm dứt nó vừa
duy trì nó. Chuyển tồn tại nói chung ra “tồn tại hiện có”. “Tồn tại hiện có” là
tồn tại có có tính quy định tức là tồn tại có chất nhưng chất chưa đầy đủ. Dù
vậy nó là một tồn tại hữu hạn chứa đựng sự vận động bên trong. Chính vì vậy
làm cho chất càng ngày càng đầy đủ hơn, khi chất đầy đủ thì chuyển sang
“tồn tại vì nó”. Đây là quá trình phát triển của vật chất. Phát triển của chất về
mặt lượng của chất hoặc quá trình phát triển về qui mô của chất. Đến đây
Hêghen chuyển sang thiên thứ hai của “học thuyết về tồn tại”: “lượng” (khi
đầy đủ thì chất sẽ chuyển hóa về lượng) khi chất trở nên đầy đủ thì ta nhìn
thấy “chất” ở lượng. Hêghen viết rằng: “Mọi sự sinh ra và chết đi không phải
là sự tiệm tiến liên tục mà trái lại là sự gián đoạn của sự tiệm tiến ấy, và là
bước nhảy vọt phát sinh từ những thay đổi về lượng chuyển thành thay đổi về
chất”. Giai đoạn đầu của “lượng thuần túy”. “lượng thuần túy” là lượng “bàng
quan” với chất tức là lượng trở nên xa lạ với chất. Nó không thể hiện mức độ
10
với chất, làm cho chất bị mất đi. Xét về mặt tư duy thì chỉ nhìn thấy lượng mà
hiện ra, đó chính là hiện tượng.
Thiên thứ hai: “Hiện tượng” là một mặt phản đề của bản chất hoặc đó
là một mặt khác của bản chất hay là một sự khác đi một sự tồn tại của bản
chất. Hiện tượng có sự phát triển vì bản chất là những cái mâu thuẫn nên nó
không yên tĩnh. Nó cũng trải qua ba vòng khâu: “Bề ngoài”, “tồn tại” và “qui
luật”.
Từ chỗ hiện tượng xa lạ với bản chất ở bề ngoài đến chổ thống nhất với bản
chất của qui luật thì bản chất lúc này đã vượt qua hiện tượng để trở thành hiện
thực.
Thiên thứ ba: “Hiện thực” là tồn tại hợp lí của bản chất. Đặc trưng của
nó hoàn toàn hợp lí vì nó tồn tại có bản chất nên nó hợp lí. Hiện thực cũng trải
qua ba vòng khâu: “Khả năng – hiện thực”; “tất nhiên – ngẫu nhiên”; “nhân
quả - kết quả”. Toàn bộ các vòng khâu biện chứng của hiện thực thống nhất
với nhau và có tác động qua lại. Đến tác động qua lại là sự phát triển đầy đủ
nhất của hiện thực và cũng là sự phát triển đầy đủ của bản chất nên bản chất
chuyển hóa thành “khái niệm”. Trong biện chứng của những khái niệm
Hêghen đã dự đoán được những quan niệm về sự vận động và thay đổi phổ
biến. Về chỗ này Lênin viết rằng: “Vận động và tự vận động sự thay đổi sự
vận động và sức sống, nguyên lý của mọi sự tự vận động, sự thúc đẩy đến vận
động và đến sự hoạt động sự đối lập với tồn tại chất. Ai sẽ tin rằng đó là thực
chất của chủ nghĩa Hêghen trừu tượng và khó hiểu” [7, 116]. Ta thấy điểm rất
hợp lý của Hêghen nêu ra ở đây là sự nhận thức đi từ bề ngoài đến bản chất và
khi nắm bắt đầy đủ bản chất thì xây dựng “khái niệm”. Do đó “khái niệm” là
chân lý của tồn tại.
Lúc này Hêghen chuyển sang bộ phận thứ ba của “Khoa học lôgích” là”học
thuyết về khái niệm”. “Khái niệm” là sự thống nhất giữa bản chất và tồn tại.
12
Khái niệm cũng trải qua ba vòng khâu lớn, tương ứng với ba thiên được
Hêghen trình bày một cach chi tiết.
Thiên thứ nhất: “Tính chủ quan”. Đây là vòng khâu khái niệm tự nó
tính mục đích. Tính mục đích càng cao càng đầy đủ thì sự vật phát triển phù
hợp với khái niệm của nó. Đó là sự phát triển cuarkhais niệm khách quan đã
hoàn thành trởn nên thống nhất với tính chủ quan. Sự thông nhất này được thể
hiện trong ý niệm. Lênin nhận thấy Hêghen đã đem yếu tố thực tiễn vào nhận
thức luận “đối với Hêghen hành động thực tiễn là một sự suy lý lôgích là một
hình của lôgích. Và như thế là đúng” [7, 188].
Thiên thứ ba: “ý niệm” là sự thống nhất giữa tính khách quan và chủ
quan. Nó là thang bậc cao nhất của khái niệm, trong đó tính chủ quan thuần
túy và khách quan thuần túy được khôi phục làm cho khái niệm ban đầu mang
tính trứu tượng đến lúc này nó thành cụ thể. Trong tính khách quan cái gì
mang tính mục đích thì cái đó chắc chắn phải là sự sống nên đằng sau sự phát
triển tính mục đích chính là sự sống. Lênin nhận xét “bằng cách đưa sự sống
vào ý niệm hoặc vào nhận thức Hêghen đã đem lại cho khái niệm một đời
sống sinh động. Đây là một thiên tài”. Vì nhận thức nảy sinh trên cơ sở của sự
sống. Theo Hêghen “ý niệm” cũng trải qua ba vòng khâu: “sự sống”, “ý niệm
của nhận thức” và “ý niệm tuyệt đối”. Trong “sự sống” lại có ba vòng khâu:
“cá thể sống”, “quá trình sống”, “quá trình của loài”. Trong “ý niệm của nhận
thức” có “ý niệm lý luận” và “ý niệm thực tiễn”. Cống hiến lớn nhất của
Hêghen trong học thuyết ý niệm này là đã chỉ ra hai con đường của nhận thức
chân lý đó là lý luận và thực tiễn. Trong hai con đường này để đạt đến chân lý
thực sự thì phải thống nhất lý luận và thực tiễn. Đến “ý niệm tuyệt đối” thì ý
niệm lôgích đã hoàn thành, hình thức cuả chân lý phát triển đầy đủ tạo điiều
kiện dể lý tính chuyển sang giai đoạn khác.
Như vậy trong học thuyết này chứa đựng những tư tưởng có mầm
14
mống duy vật. Lênin nhận xét “bộ phận đáng ra là duy tâm thì gần với duy vật
nhất” [7, 296]. Và cũng đến đây Hêghen kết thúc “Khoa học lôgích”chuyển
sang “Triết học tự nhiên”. Như đã biết, sau khi Hêghen qua đời tình hình tư
tưởng nước Đức nhất là dòng Triết học bị đảo lộn nghiêm trọng. Ăngghen đã
khái quát thực trạng này trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” đó là tình trạng
chất không có khả năng chứa đựng mâu thuẫn. Nếu có mâu thuẫn thì đó chỉ là
sự “băng hoài” không có sự phát triển. Ông xây dựng “Triết học tự nhiên”
thành ba bộ phận.
Thứ nhất: Cơ học: Trong cơ học được chia làm ba bộ phận: “cơ học
phổ biến”, “cơ học đặc biệt”, “cơ học tuyệt đối”. Cả ba bộ phận ông trình bày
về: điểm, đường, mặt phẳng, không gian, thời gian vận động, mối quan hệ
giữa vật chất và vận động.
Sau đó chuyển sang trình bày các hiện tượng vật lý: vật thể, quá trình nhiệt.
Cơ học của Hêghen dù duy tâm, coi giới tự nhiên là “tha hóa” của lý tính thì
Hêghen cũng có nhiều cống hiến lớn: Khi bàn về mối quan hệ giữa vật chất
và vận động thì Hêghen đã nói đến mối liên hệ hữu cơ của vận động và vật
chất coi vận động là cơ sở, là phương thức tồn tại, là thuộc tính của vật chất.
Từ quan điểm biện chứng phân tích vận động ông vạch ra được bản chất của
vận động. Vận động là mâu thuẫn. Mâu thuẫn ổn định và bất biến. Không có
mâu thuẫn thì không có vận động. Nó biểu hiện trong một thời điểm: sự vật
vừa ở chổ nào đó, vừa ở chổ khác, vừa là nó, vừa không phải là nó. Hêghen
đã giải thích nghịch lý “mũi tên bay” của Dênôn. Mũi tên đang bay ta sẽ xác
định được tọa độ của nó với ba đại lượng xi, yi, zi đứng yên. Ông kết luận vận
động bằng đứng yên. Hêghen nhận xét: Dênôn chỉ nói đến kết quả vận động
nên Dênôn đồng nhất vận động với tự nhiên. Trên thực tế mũi tên đang bay
thì khó xác định tọa độ của mũi tên. Nếu có thì mộ tọa độ thương đối mà thôi.
Khi bàn về bản chất của vận động Hêghen chỉ ra hai phương diện vận động là
16
không gian và thời gian. Bản chất của chúng là vận động. Không có vận động
thì không có thời gian và không gian. Theo Hêghen “thời gian và không gian
chỉ là hiện thực trong vận động và vân động là sự sinh thành ra mình, vật chất
là sản phẩm của mối liên hệ nội tại, giữa thời gian; không gian và vận động là
sự thống nhất trực tiếp của chúng. Và cũng giống như không có vận động
thiếu vật chất, vật chất không tồn tại thiếu vận động. Khi đó vật chất là mâu
thuẫn nội tại” [18, 483]. Hêghen quan niệm về không gian là cái cảm tính phi
thể. Ông cho rằng các loài động thực vật có những trình độ cao thấp khác
nhau. Trong đó loài có trình độ cao hơn có tiền đề loài có trình độ thấp hơn.
Những loài có trình độ thấp hơn được chiếm hữu bỡi những loài có trình độ
cao hơn. Đây là tư tưởng tiến hóa ghi nhận trình độ phát triển.
Đối với Hêghen, giới tự nhiên phát triển ở bậc thang cao nhất cũng chỉ
là khắc phục sự “tha hóa” của lý tính thế giới dưới hình thức tiềm tàng. Cho
nên, lý tính thế giới với tính cách là tinh thần tự ý thức được bản thân.
Nó không thể dừng lại lĩnh vực các hiện tượng tự nhiên mà phải khắc phục
sự “tha hóa” của nó bằng cách quay về hoàn thiện trong “tinh thần thế giới”.
Đây là bộ phận cuối cùng và cũng là đích đến cho mỗi chu trình vận động của
“ý niệm tuyệt đối”.
1.1.3. Triết học tinh thần
Là giai đoạn hoàn thành và phát triển của lý tính sau khi khắc phục sự
“tha hóa” của nó ở giới tự nhiên. Theo Hêghen đối tượng của “Triết học tinh
thần” là “tinh thần thế giới” từ lĩnh vực tự nhiên trở về với bản thân mình”
[14, 155]. Cũng là giai đoạn lý tính quay trở về bản chất tinh thần của mình
hoàn thiện sự phát triển. “Triết học tinh thần” trải qua ba bộ phận.
Thứ nhất: “Học thuyết về tinh thần chủ quan”. Là bộ phận trình bày
quan điểm của triết học Hêghen về con người cá thể là trình bày con người
với tư cách là hiện thân của thế giới. Mở đầu cho sự khắc phục “tha hóa” lý
18
tính thế giới khi nó tồn tại trong giới tự nhiên. Khi bàn về con người cá thể thì
Hêghen bàn về thân xác con người. Thân xác chứa đựng căn cứ để lí giải vì
sao ở thân xác con người lý tính khắc phục sự tha hoá. Khi bàn về thân xác
Hêghen cho rằng đó là thể thống nhất hai phương diện: vật liệu tạo nên thân
xác và hình dạng người. Hình dạng người là điều kiện tồn tại của thân xác.
Đây là tổ chức linh hồn cơ thể người. Nguồn gốc của hình dạng người là từ ý
niệm. Ý niệm này có ở trong giai đoạn ý niệm lôgích. Khi ý niệm nhập vào
hình dạng người thì vật liệu vật chất được tinh thần hóa và ý niệm được vật
chất hóa. Nhờ vật liệu vật chất mà ý niệm đã có khuôn hình và vật liệu. Nên
khách. Khắc phục được sự đối lập giữa chủ thể và khách thể thông qua
phương thức hoạt động. Lúc này ý thức nhìn thấy rằng mình vừa là chủ thể
vừa là khách thể.
Nhưng phương thức để giải quyết mặt đối lập chủ thể - khách thể là
hoạt động chứ không phải là phạm vị ý thức. Thông quá hoạt động con người
làm chủ thế giới nghĩa là mình và thế giới là một, sự đối lập giữa mình và thế
giới không còn nữa. Đây là cách mà Hêghen hình dung ra.
Học thuyết bàn về con người cá thể trên tinh thần duy tâm khách quan.
Hêghen coi con người và các phương diện của con người là hiện thân của lý
tính thế giới chính là hiện thân của “tinh thần thế giới”.
Hêghen thừa nhận sự phát triển của ý thức gắn liền với sự phát triển thể
xác con người, xét về bản thể thì Hêghen đã manh nha ý thức sinh ra từ thể
xác. Hêghen có mầm mống duy vật về nguồn gốc ý thức, duy vật gần giống
Phơbách. Học thuyết đã tạo ra bước nhảy vọt trong xã hội: phát hiện ra vai trò
của lao động đối với lịch sử con người và đối với xuất hiện ý thức con người.
Phát hiện này có mầm mống duy vật lịch sử Hêghen cũng đã phát hiện ra sự
thống nhất giữa ý thức và thể xác người trong hoạt động con người. Đây là
một tiền đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tuy nhiên, bên cạnh đó biểu hiện
20
phản động cần phê phán của ông là: ông lí giải linh hồn con người gắn liền
với thân xác người. Người châu Á sống ở nhiệt đới nên linh hồn hèn nhát còn
người châu Âu sống ở ôn đới nên linh hồn mạnh mẽ. Đây là tư tưởng phân
biệt chủng tộc, mang tính sôvanh đề cao dân tộc Đức.
Thứ hai: “Học thuyết về tinh thần khách quan”. Muốn xác lập ra quyền
thì phải đặt trong mối quan hệ xã hội và sự thừa nhận được nâng lên cái qui
tắc, qui định của cộng đồng. Những qui định trở thành sự ràng buộc đối với
con người và cá nhân trong quan hệ xã hội mà ta goi đó là luật. Luật không
chỉ là pháp luật mà còn luật trong đạo đức, trong tư duy. Với Hêghen xã hội
trên cộng đồng là nơi ban ra và xác lập các quyền của cộng đồng. Tất cả
những lĩnh vực có những qui định luật thì Hêghen đều gọi chung là pháp
nhất của ý thức tự do con người. Những tiến bộ lịch sử thể hiện bên trong
phong hóa”. Tự do trong phong hóa được thể hiện qua ba hình thức: “tự do
trong gia đình”, “tự do trong xã hội công dân” và “tự do trong nhà nước”.
Trong đó Hêghen cho rằng nhà nước là đỉnh cao của tự do. Đây là một hạn
chế lớn của Hêghen. Ông đứng trên lập trường duy tâm và ông cho rằng: nhà
nước toàn thể thống nhất giữa đạo đức và pháp quyền, những đối kháng trong
xã hội công dân và trong gia đình trở nên hòa hợp thống nhất với nhau.
Như vậy Hêghen đã “đóng khung tự do trong nhà nước” không có tự do
ngoài nhà nước. Dù hạn chế tự do trong nhà nước nhưng Hêghen đúng khi
cho rằng: các cộng đồng chỉ có tự do khi các cộng đồng ấy có nhà nước. Đúng
trong khi xã hội có sự phân chia giai cấp.
Về mặt phương pháp luận thì Hêghen đã cung cấp cho ta một cái nhìn
duy vật lịch sử về sự hình thành của nhà nước.Hêghen cho rằng nhà nước là
sản phẩm của ý niệm pháp quyền.
Thứ ba: “Học thuyết về tinh thần tuyệt đối”. Đối tượng của học thuyết
về “tinh thần tuyệt đối” là tinh thần với thang bậc cao nhất, đó chính là tinh
22
thần tuyệt đối. Trình bày “tinh thần tuyệt đối” với tư cách là nhận thức trong
đó cái tuyệt đối hay chân lý tuyệt đối được thể hiện đầy đủ nhất. Ông đã hai
lần đề cập đến chân lý tuyệt đối ở “Khoa học lôgích” và “tinh thần tuyệt đối”.
Chân lý tuyệt đối lúc này là tuyệt đối về mặt nội dung và hình thức. Nhận
thức tuyệt đối với ba trạng thái. Một là: “Nghệ thuật”, đây là phương thức thể
hiện của chân lý tuyệt đối. Trong nhận thức, cái tuyệt đối hiện ra trước chủ
thể với tư cách là hình ảnh cảm quan, cùng với nó phương thức nhận thức là
con người thưởng thức và say mê nó. Cái tuyệt đối được thưởng thức dưới
dạng là một đối tượng, một khách thể. Dưới hình ảnh cảm quan thì cái tuyệt
đối dường như từ chủ thể hướng về khách thể. Hai là: “Tôn giáo”, là một hình
thức nhận thức cái tuyệt đối, trong đó cái tuyệt đối hiện ra dưới dạng các biểu
tượng. Cùng với các biểu tượng trong tôn giáo người ta lĩnh hội cái tuyệt đối
trong cái “sùng mộ”, “sùng bái”. Đó là sự sùng bái của con tim đối với cái
đã vận dụng thống nhất nguyên tắc lôgích và lịch sử để bàn về lịch sử triết
học. Từ đây ông đã đưa ra lời khuyên: “Khi trình bày một học thuyết nào đó
không nên hạ thấp một học thuyết nào vì cứ một học thuyết là sự phản ánh
của hoàn cảnh thời đại, nó là sự tổng hợp các học thuyết trước đó” và Hêghen
đã thêm yêu cầu: “Không được hiện đại hóa các học thuyết trước đó”. Đây là
lời khuyên quý giá cho các thế hệ sau trong việc nhìn nhận và đánh giá mỗi
một học thuyết nào đó. Ngoài ra Hêghen còn cung cấp cho ta bằng chứng về
qui luật của phép biện chứng.
Ông đã hình dung lịch sử triết học như một vòng tròn lớn biện chứng
trong đó chứa đựng vòng tròn nhỏ. Hêghen là người đưa phép biện chứng vào
giải quyết vấn đề triết học chỉ có điều đứng trên lập trường duy tâm. Dù duy
tâm nhưng Hêghen chứa đựng tư tưởng có mầm mống duy vật. Những tư
tưởng này của Hêghen đã cung cấp cho C. Mác sau này phương thức để sáng
tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đây là tinh hoa trong tư tưởng triết học của
24
Hêghen mà sau này được C. Mác kế thừa, chưng cất và hoàn chỉnh cơ bản
phép biện chứng.
Như vậy đến đây chúng ta đã cơ bản nắm được triết học Hêghen là gì?
gồm có những bộ phận nào? Và mối quan hệ giữa chúng ra sao?. Theo tư
tưởng của ông, bản nguyên đầu tiên của thế giới là “ý niệm tuyệt đối”, do tính
ham hiểu biết vả lại trong bản thân nó luôn chứa đựng mâu thuẫn nên ‘ý niệm
tuyệt đối” đã vận động như là kết quả của sự tự giải quyết các mâu thuẫn nội
bộ thông qua các khái niệm mà Hêghen chứa nó trong cụm từ “phản tư tự
thân”. Sau này C. Mác đã hợp lý hóa nó thành sự “phân đôi cái thống nhất”
được coi là nguyên tắc số một của sự vận động và phát triển. Sự vận động của
“ý niệm tuyệt đối” đã biến nó thành cái khác mình. Nó không còn là nó mà
theo nguyên nghĩa của ông đó là sự “tha hóa” của “ý niệm tuyệt đối”, cái mà
không còn là nó ở đây chính là “giới tự nhiên” (Triết học tự nhiên). Tuy nhiên
“ý niệm tuyệt đối” không dừng lại ở đây mà nó còn tiếp tục vận động và phát
triển. Sự vận động và phát triển đó đã sản sinh ra con người và xã hội (Triết