quan niệm về tội phạm, cách phân loại tội phạm và ý nghĩa của việc phân loại tội phạm trong pháp luật phong kiến Việt Nam - Pdf 26

Đặt Vấn Đề
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu
hình phạt. Định nghĩa khái niệm tội phạm này vừa đúng, nhng cũng có thể cha đúng. Nó
chỉ đúng với thời đại ngày nay thôi, còn trong giai đoạn phong kiến Việt Nam, nó chỉ
đúng một phần. Tội phạm ở thời đó không chỉ ở trong luật hình sự mà là tất cả các lĩnh
vực của luật pháp. Tại sao lại thế ? Giải quyết bài tập: Quan niệm về tội phạm, cách
phân loại tội phạm và ý nghĩa của việc phân loại tội phạm trong pháp luật phong
kiến Việt Nam , chúng ta có thể tự trả lời.
Giải quyết vấn đề
I. Quan niệm về tội phạm và những yếu tố ảnh hởng.
1.Quan niệm về tội phạm
Nếu nh trong luật hình sự hiện nay, việc quy dịnh về tội phạm thông qua nội dung
trong việc định nghĩa tội phạm là vấn đề đầu tiên, thì pháp luật phong kiến Việt Nam
không nh thế. Và nếu nh hiện nay tội phạm chỉ là đối tợng duy nhất đối với luật hình sự
thì theo quan niệm của ông cha ta trong cổ luật, tội phạm là đối tợng của tất cả các lĩnh
vực pháp luật phong kiến Việt Nam.
Các bộ luật phong kiến Việt Nam cho chúng ta thấy pháp luật hình sự lúc đó mang
tính phổ biến, có quan niệm rất rộng về tội phạm. Biện pháp trừng phạt hình sự đợc áp
dụng không những đối với các tội phạm hiểu theo khái niệm của luật hình sự hiện đại
thuộc đối tợng xử lý của luật hình sự mà còn đối với các hành vi vi phạm của quy định
về các quan hệ trong lĩnh vực hành chính, lĩnh vực lễ nghi, lĩnh vực gia đình, lĩnh vực
ruộng đất, lĩnh vực thuế, Trong các bộ luật phong kiến Việt Nam không có điều luật
định nghĩa khái niệm tội phạm nhng qua các điều luật cụ thể của chúng thì cũng đã phần
nào phản ánh đợc quan niệm về tội phạm của các nhà làm luật lúc bấy giờ.
Bài tập học kỳ môn Lịch sử Nhà nớc và Pháp luật Việt Nam
1
Thứ nhất, quan niệm về tội phạm theo hớng thiên về dấu hiệu hình thức. Cụ thể,
phần lớn các điều luật luôn chứa một công thức: ng ời nào phạm tội X thì phải chịu
hình phạt Y. Hay quy định tại năm loại hình phạt có thể áp dụng. Đó là xuy, trợng, đồ,
lu, tử tơng ứng với năm loại tội đợc thừa nhận trong các bộ luật. Nh vậy dựa vào hình
phạt vừa có thể phân biệt giữa các loại tội phạm vừa gắn tên với từng loại tội phạm với

mức bình thờng. Bên cạnh đó, độ tuổi của chủ thể tuy đợc đặt ra nhng nhằm mục đích
giải quyết vấn đề nhân đạo trong chính sách hình sự. Với mục đích đó, các điều luật gộp
tuổi thấp với độ tuổi cao và phát triển không bình thờng thành từng cặp để xác định
trách nhiệm hình sự. VD: Điều 16 QTHL: ngời 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống cùng
ngời bị phế tật phạm tội lu trở xuống có thể chuộc bằng tiền; 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở
xuống cùng ngời bị ác tật phạm tội ác nghịch cũng có thể cho chuộc; 90 tuổi trở lên, 7
tuổi trở xuống phạm tội chết cũng không đợc hành hình. Trong HVLL, đối với tội mu
phản Điều 223, ng ời già trên 90 tuổi vẫn xử chém bởi tuổi đã già nhng vẫn nhận biết
đợc. Còn trẻ em dới 15 tuổi còn ấu trĩ không biết gì nên khỏi chết
Ngoài ra, pháp luật phong kiến Việt Nam có những quy định mang tính khái quát
về tình tiết giảm nhẹ hay loại trừ trách nhiệm hình sự, nhng có những quy định cụ thể,
đơn lẻ về những tình tiết đó. VD: phòng vệ chính đáng (thừa nhận quyền tự vệ của cá
nhân); tình tiết cấp thiết ( khẩn cấp: quy định đối với cả việc công lẫn việc t ); thi hành
mệnh lệnh ; quá thất sát thơng ( những việc lầm lỡ, xét theo tình trạng để giảm tội. Lầm
lỡ nghĩa là việc xảy ra ngoài sứ
c ngời, tai mắt không kịp nhận thấy, không kịp nghĩ tới, hay vì vật nặng, sức ngời
không chống nổi hoặc trèo lên trên cao tới những chỗ nguy hiểm để săn bắt cầm thú, để
đến nỗi sát thơng ngời).
Thứ năm, pháp luật phong kiến Việt Nam không phân biệt mức độ nguy hiểm khi
xác định tội phạm nhng khi xác định mức độ trách nhiệm hình sự cho tội phạm cụ thể
thì vấn đề đó đợc đặt ra. Nh vậy, yếu tố ảnh hởng đến hình phạt hay mức độ nặng nhẹ
của tội phạm chính là mức độ nguy hiểm của tội phạm. So với quan niệm của các nhà
làm luật hiện đại thì quan niệm của các nhà làm luật phong kiến Việt Nam cho rằng,
Bài tập học kỳ môn Lịch sử Nhà nớc và Pháp luật Việt Nam
3
quan hệ giữa ngời phạm tội và nạn nhân xét về địa vị xã hội, địa vị trong dòng họ, gia
đình theo lễ giáo phong kiến là yếu tố ảnh hởng không nhỏ đến mức độ nặng nhẹ của
hình phạt và mức hình phạt. Mức nguy hiểm cho xã hội tỉ lệ thuận với địa vị của nạn
nhân và tỉ lệ nghịch với địa vị của ngời phạm tội. Bên cạnh đó, chức quyền hay lợi dụng
chức quyền của chủ thể cũng làm tính nguy hiểm của tội phạm. Ngoài những điểm đó,

phạm đến lợi ích, quan hệ xã hội mà vua đã quy định, đều phải bị trừng trị bởi hình phạt.
Xã hội phong kiến chịu ảnh hởng sâu sắc bởi giáo lý Nho giáo. Nho giáo truyền bá
vào nớc ta mang theo bao giáo lý của Khổng tử, Mạnh Tử hay Trang tử... trong đó có
những tích cực và hạn chế tới mức cực đoan của nó. Tuy nhiên, giá trị nhân văn, giá trị
nhân đạo của Nho giáo là không thể phủ nhận. Ngũ luân (năm quan hệ vua tôi, cha con,
thầy trò , vợ chồng, anh em), ngũ thờng (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), tam cơng (ba mối quan
hệ cơ bản: vua tôi, cha con, vợ chồng), tam tòng (quan niệm về ngời phụ nữ), hay chín
chữ vàng của Nho giáo( tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)...là những giáo lý nhằm
giáo dục còn ngời hớng đến cái chân, thiện, mỹ. Con ngời trở nên tốt đẹp hơn khi biết
giữ mình dới những khuôn thớc đó. Mặt khác, giai đoạn này Nho giáo đã trở thành giáo
lý chính thống trong hoạt động chính trị. Bất kì sự vi phạm nào đối với các chuẩn mực
Nho giáo đều bị xã hội lên án, Nhà nớc cùng với pháp luật trừng trị. Bên cạnh Nho giáo,
t tởng của Pháp gia cũng đợc giai cấp thống trị phong kiến đề cao. Lý luận của Pháp gia
từ rất lâu đã đợc Quản Trọng, Thơng ởng mà nổi bật nhất là Hàn Phi Tử nêu ra rằng:chỉ
có dĩ hình chỉ hình là phơng pháp đúng đắn. Chính vì vậy, xuyên suốt trong giai đoạn
phong kiến, đờng lối cai trị kết hợp giữa Đức trị và Pháp trị. Không phải cái gì cũng có
thể dùng Đức để xử lý. Cuộc sống luôn phức tạp, bản chất con ngời ngày càng thay đổi
cho dù nhân tri sơ, tính bản thiện . Chính vì thế, những nghi lễ mà Đức không giải
quyết đợc thì bắt buộc pháp luật phải giải quyết. Sự trừng phạt bởi pháp luật luôn là biện
pháp nghiêm khắc và làm ngời ta sợ hơn là giáo dục.
Bài tập học kỳ môn Lịch sử Nhà nớc và Pháp luật Việt Nam
5
II. Phân loại tội phạm và ý nghĩa của việc phân loại
tội phạm.
1. Phân loại tội phạm
Phân loại tội phạm là đòi hỏi cần thiết cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự trong
luật cũng nh áp dụng luật, chính vì thế vấn đề này đợc đặt ra trong các bộ luật. Việc
phân loại tội phạm chẳng những hỗ trợ cho việc áp dụng đúng luật mà nếu nhìn rộng ra,
nhà làm luật còn có thể dựa vào tính nguy hiểm quan hệ xã hội mà nó xâm hại để đánh
giá, nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị hiệu quả hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status