quan niệm về tội phạm, các cách phân loại tội phạm và ý nghĩa của việc phân loại tội phạm trong pháp luật phong kiến việt nam - Pdf 22

Trong pháp luật phong kiến nước ta, các quy phạm đều được trình bày dưới hình
thức các quy phạm pháp luật hình sự, vì vậy các vấn đề về tội phạm đã phát triển
rất sớm trong lịch sử xây dựng luật pháp. Việt Nam lại đang trên bước đường hội
nhập toàn cầu, xã hội biến đổi ngày càng nhanh chóng khiến cho tầm quan trọng và
yêu cầu đối với pháp luật ngày càng nâng cao. Do đó nhu cầu nghiên cứu, sửa đổi
luật pháp cho phù hợp với tình hình đất nước đang ngày càng tiến lên là một nhu
cầu cần thiết. Một trong những phương pháp nghiên cứu, sửa đổi tốt nhất đối với
pháp luật chính là nghiên cứu các qui định của pháp luật cổ xưa, từ đó rút ra những
kinh nghiệm, những nét đặc sắc riêng để áp dụng đối với pháp luật hiện hành. Để
hiểu hơn về các vấn đề về tội phạm trong pháp luật phong kiến Việt Nam , tôi sẽ
trình bày với các bạn vấn đề: “Quan niệm về tội phạm, các cách phân loại tội
phạm và ý nghĩa của việc phân loại tội phạm trong pháp luật phong kiến Việt
Nam ”.B. Nội dung
I. Quan niệm về tội phạm
Nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy pháp luật hình sự lúc
đó mang tính phổ biến, có phạm vi trừng trị hay tác động rất rộng dựa trên một
quan niệm rất rộng về tội phạm. Biện pháp trừng trị hình sự được áp dụng không
những đối với các tội phạm hiểu theo khái niệm của luật hình sự hiện đại thuộc đối
tượng xử lý của luật hình sự, mà còn đối với cả những hành vi vi phạm những quy
định về các quan hệ trong lĩnh vực sinh hoạt hành chính, lễ nghi, gia đình, dân sư,
ruộng đất, thuế…mà trong xã hội hiện đại đối với những hành vi đó thường được
áp dụng những chế tài hành chính, dân sự hoặc những chế tài khác không mang
tính chất hình sự. Chẳng hạn, có thể nhìn thấy rõ điều đó trong Quốc triều hình
luật, ở các chương: hộ hôn, điền sản…

Trong các văn bản pháp luật hình sự lúc đó không có quy định khái quát về tội
phạm, về việc phân biệt khái niệm tội phạm theo luật hình sư với các hành vi vi
phạm pháp luật khác. Nhưng bên cạnh đó đối với một số loại tội phạm, nhà làm

Tóm lại, các nhà làm luật thời phong kiến đã nhận biết và thấy được các quan niệm
về tội phạm nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ là những quan điểm chứ chưa đưa ra
được các khái niệm và định nghĩa rõ ràng.

II. Các cách phân loại tội phạm
Do việc phân loại tội phạm theo pháp luật phong kiến không được dựa trên những
cơ sở thống nhất nên theo các nhà nghiên cứu, có nhiều tiêu chí phân loại tội phạm
được đưa ra. Trong các quan điểm về phân loại tội phạm, có những quan điểm
được lưu giữ và áp dụng đến ngày nay, trong đó có ba cách phân loại được các nhà
nghiên cứu đi theo là: Phân loại tội phạm dựa theo loại hình phạt; Phân loại tội
phạm dựa theo ý chí người phạm tội; Phân loại tội phạm theo nhóm tội thập ác và
ngoài thập ác. Cùng với đó là một số cách phân loai khác kém phổ biến hơn như
phân loại tội phạm dựa vào khách thể của tội phạm, phân loại theo tuổi tác và tàn
tật, dựa vào khách thể của tội phạm…

1. Phân loại tội phạm dựa theo loại hình phạt
Trong pháp luật phong kiến Việt Nam , các nhà làm luật rất quan tâm đến hình
phạt. Hệ thống hình phạt được chia thành nhóm tội ngũ hình và nhóm tội ngoài ngũ
hình, nhằm đề cao tính răn đe, ngũ hình được qui định ở ngay điều 1 của cả hai bộ
luật QTHL và HVLL.

Nhóm tội ngũ hình bao gồm có:
1. Xuy hình là hình phạt đánh bằng roi, thường áp dụng đối với các loại tội nhẹ
như đấu ẩu, lăng mạ…Cốt để phạm nhân xấu hổ.
2. Trượng hình là hình phạt đánh bằng trượng, nặng hơn xuy áp dụng với các tội
như đấu ẩu, nhận hối lộ…
3. Đồ hình là hình phạt bắt làm tù khổ sai, áp dụng với các tội tương đối nặng như
hối lộ, trộm cắp…
4. Lưu hình là hình phạt bắt đi lưu đày, tội nặng thì đi xa, tội nhẹ thì đi gần Các
tội phạm áp dụng hình phạt lưu thường là ở mức cao nhất của các tội hối lộ, trộm

hình sự mà người phạm tội phải chịu và xác định cách xử lý đối với các loại tội vô
ý và cố ý. Tức là, áp dụng các hình phạt theo hướng giảm nhẹ cho người phạm tội
vô ý và tăng nặng với tội cố ý, để thể hiện được sự nhân đạo của pháp luật.
3. Phân loại dựa theo nhóm tội thập ác và ngoài thập ác
Tội thập ác là những tội xâm hại đến vương quyền của nhà vua, đến trật tự xã hội
của Nho giáo. Bởi vậy, dưới cái nhìn của nhà làm luật phong kiến, thập ác là những
trọng tội nguy hiểm nhất, và luôn đi kèm với đó là những hình phạt nghiêm khắc
và tàn bạo nhất: " Những kẻ mưu làm phản, mưu làm việc đại nghịch thì xử tội
chém bêu đầu, kẻ tòng phạm và thân đảng biết việc ấy đều phải tội chém, vợ con
điền sản đều bị tịch thu làm của công " (Điều 411 Quốc triều hình luật ). Do đặc
điểm này mà pháp luật phong kiến quy định các tội thập ác không được hưởng
nghị giảm theo chế độ bát nghị, không được chuộc tội bằng tiền, không được
hưởng chế độ đặc xá, đại xá
Thập ác bao gồm :
1. Mưu phản: lật đổ nền cai trị của nhà vua, làm xụp đổ xã tắc.
2. Mưu đại nghịch: phá đền đài, lăng tẩm, cung điện của nhà vua.
3. Mưu bạn: phản bội Tổ quốc theo giặc.
4. Ác nghịch: mưu giết hay đánh ông bà, cha mẹ, tôn thuộc.
5. Bất đạo: vô cớ giết người, cắt tay chân người sống, chế thuốc độc bùa mê,
tàn ác, hung bạo…
6. Đại bất kính: lấy trộm các đồ tế trong lăng tẩm, các vật dụng của vua, làm
giả ấn vua…
7. Bất hiếu: cáo giác hay chửi rủa ông bà, cha mẹ hay ông bà, cha mẹ chồng.
Không phụng dượng bố mẹ, tự ý bỏ nhà, tự ý phân chia tài sản, cưới xin khi có
tang cha mẹ, vui chơi trong khi tang chế, được tin bố mẹ, ông bà chết không chịu
tang hoặc phát tang giả dối.
8. Bất mục: mưu giết hay bán các thân thuộc K(cho đến ngũ đại), đánh hoặc
cáo giác chồng hay các tôn thuộc (cho đến tam đại).
9. Bất nghĩa: dân giết quan lại sở tại, lính tốt giết quan chỉ huy, học trò giết
thầy dạy, vợ không để tang chồng, ăn chơi và tái giá.

nhưng đặc biệt vẫn là để ngăn chặn các hành vi nguy hại tới vương quyền của nhà
vua, như bộ Quốc triều hình luật có quy định: “những người vào trong cung điện
làm việc hết giờ mà không ra khỏi khu vực ngoại điện thì xử tội lưu, ở trong cung
bị xử tội giảo, ở lại nơi vua nằm thì xử tội chém” (Điều 55). Ngoài ra, các tội phạm
về mưu đồ cũng được quy định rõ ở từng điều lệ trong bộ Hoàng Việt luật lệ như ở
tội Nhân Mạng chia làm 3 hạng mưu sát nhân đã thực hiện nhưng chưa thành,
không gây thương tích; đã làm bị thương hoặc đã thành. Tùy theo giai đoạn mà
mức hình phạt khác nhau. Đối với một số trọng tội (nhóm tội nguy hại đến vương
quyền như mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn) dù chưa có hành vi phạm tội mà
chỉ là âm mưu phạm tội cũng được coi là tội phạm và là tội phạm đã hoàn thành.

- Phân loại tội phạm theo đồng phạm:
Điều 469 QTHL: “Đồng mưu đánh người bị thương, thì kẻ nào đánh nhiều đòn
nặng là thủ phạm, kẻ chủ mưu cũng phải cùng một tội, còn người tòng phạm thì
được giảm một bậc”. Như vậy, pháp luật thời Lê đã có những quy định về phạm tội
đồng phạm nhưng lại không có những định nghĩa rõ ràng về đồng phạm và những
người đồng phạm. Đến triều Nguyễn, những quy định về đồng phạm cũng đã rõ
ràng hơn. Nhà làm luật đã đưa ra các khái niệm:

+ Đồng phạm là cùng phạm tội gồm chính phạm và tòng phạm. Chính phạm xử
nặng hơn tòng phạm một bậc.

+ Chính phạm là kẻ chủ mưu, tác giả tinh thần, ý đồ, tạo ý, khởi xướng.

+ Tòng phạm là những người tham gia, thực hành, hành động hoặc không hành
động chia của, che giấu, xúi giục, giúp đỡ hoặc là cùng thực hiện (Điều 29 HVLL).

Các tội phạm về đồng phạm cũng được quy định rõ ràng trong các điều luật cụ thể
về tội phạm: ví dụ như tội Nhân mạng (giết người) hạng nhẹ nhất là “thực hiện
chưa thành, không gây thương tích, chủ mưu xử 100 trượng đồ 3 năm, a tòng cùng

+ Những người từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, dẫu có bị tội chết cũng không
gia hình (bất gia hình), nếu có kẻ nào xúi xiểm thì làm tội kẻ xúi xiểm; nếu ăn trộm
có tang vật thì kẻ nào thu dụng tang vật ấy phải bồi thường.

- Phân loại theo giớí tính
Luật không phân biệt trách nhiệm hình sự đối với nam giới và nữ giới, nhưng khi
thi hành hình phạt, luật có những quy định riêng đối với một số nữ giới phạm tội.
Ví dụ: Khi bị kết án tử hình, nếu nữ phạm nhân có thai thì được hoãn đến khi sinh
con xong trong một thời gian nhất định mới thụ hình.
Điều 7 Quốc triều hình luật quy định việc chuộc tội bằng tiền cho các nữ phạm
nhân mà chồng có quan phẩm. Điều luật đó quy định: “Những đàn bà vì chồng làm
quan có phẩm trật mà phạm tội thì cho theo phẩm mà nghị giảm”.

- Phân loại theo tiền án (án tích)
Các nhà làm luật lúc đó đã phân biệt trường hợp phạm tội lần đầu với trường hợp
phạm tội có tiền án. Nhưng cũng không có quy định nào mang tính khái quát về tái
phạm mà chỉ quy định những hình phạt nghiêm khắc trong những trường hợp cụ
thể.
Chẳng hạn, Điều 429 quy định: “Kẻ ăn trộm mới phạm lần đầu thì phải lưu đi châu
xa. Kẻ trộm đã có tiếng và kẻ trộm tái phạm thì phải tội chém”.
Theo một số cách phân loại còn lại, chúng ta thấy được pháp luật phong kiến đã có
sự phân hóa, cá thể hóa mức độ trách nhiệm hình sự giữa những người phạm tội,
đây là một đóng góp lớn cho luật hình sự hiện đại.

III. Ý nghĩa chung của việc phân loại tội phạm
Pháp luật phong kiến có rất nhiều tiêu chí để phân loại tội phạm, trong đó có những
cách phân loại có ý nghĩa rất lớn cho việc xây dựng bộ luật hình sự hiện nay. Việc
phân loại giúp cho các cơ quan xét xử định tội lượng hình cho chính xác, bởi pháp
luật phong kiến có một nguyên tắc quan trọng là: “vô luật, bất hình”. Nó vừa giúp
trừng phạt người phạm tội một cách khách quan, chính xác nhằm bảo vệ những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status