Những giá trị của cách phân loại trong tội phạm trong pháp luật phong kiến không chỉ có ý
nghĩa trong xã hội phong kiến mà phần nào đã được các nhà làm luật hiện nay kế thừa, phát
triển và vận dụng một cách triệt để vào hoàn cảnh mới của thời đại. Cùng tôi đi giải quyết các
vấn đề sau các bản sẽ hiểu thêm về: “ Các cách phân loại tội phạm trong các bộ luật phong kiến
Việt Nam và ý nghĩa của việc phân loại tội phạm đó’’
1. Quan niệm về tội phạm trong pháp luật phong kiến Việt Nam
Các nhà làm luật thời phong kiến đã nhận biết và thấy được các quan niệm về tội phạm
nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ là những quan điểm chứ chưa đưa ra được các khái niệm và
định nghĩa rõ ràng. Tuy không có những định nghĩa cụ thể về tội phạm là gì nhưng trong Bộ Quốc
Triều Hình Luật (QTHL) thời Lê đã có những quan niệm về tội phạm là việc xâm hại đến sự an
toàn, bất khả xâm phạm của chế độ quân chủ triều Lê, mà trước hết là sự an toàn của nhà vua và
hoàng cung (nhóm tội Thập ác), xâm phạm trật tự kỷ cương, đạo đức xã hội theo quan điểm Nho
giáo, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, tài sản của con người. Đến thời nhà Nguyễn,
trong bộ Hoàng Việt Luật Lệ (HVLL) cũng không có những định nghĩa chung về tội phạm mà chỉ
đi thẳng vào các qui định cụ thể đối với từng loại tội.
Nhà làm luật phong kiến quan niệm về tội phạm theo hướng thiên về dấu hiệu của hình thức
phạm tội, những dấu hiệu đó phải được quy định trong luật mới bị coi là phạm tội. Đó là những
hành vi nguy hiểm cho xã hội ở những mức độ khác nhau như xâm phạm sự an toàn của nhà vua,
hoàng cung, xâm phạm trật tự an ninh xã hội, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người khác,...
Tất cả những hành vi đó đều bị coi là tội phạm không phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của xã
hôi của hành vi phạm tội.
Nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy pháp luật hình sự lúc đó mang
tính phổ biến, có phạm vi trừng trị hay tác động rất rộng dựa trên một quan niệm rất rộng về tội
phạm. Biện pháp trừng trị hình sự được áp dụng không những đối với các tội phạm hiểu theo khái
niệm của luật hình sự hiện đại thuộc đối tượng xử lý của luật hình sự, mà còn đối với cả những
hành vi vi phạm những quy định về các quan hệ trong lĩnh vực sinh hoạt hành chính, lễ nghi, gia
đình, dân sư, ruộng đất, thuế…mà trong xã hội hiện đại đối với những hành vi đó thường được áp
dụng những chế tài hành chính, dân sự hoặc những chế tài khác không mang tính chất hình sự.
2. Các cách phân loại tội phạm trong các Bộ luật phong kiến Việt Nam
Qua việc tham khảo một số tài liệu tôi thấy có nhiều cách phân loại tội phạm khác nhau
khá hợp lí thể hiện được sự bao quát về các cách phân loại tội phạm trong các bộ luật phong
đồ, tội lưu mà cha mẹ già yếu không ai nuôi dưỡng thì xử 100 trượng, tội còn thừa thì nhận giá chuộc, cho ở
nhà nuôi đưỡng cha mẹ".
Theo nhận định, đây là cách phân loại quan trọng nhất, tôi cho sự phân hóa trách nhiệm hình
sự qua các loại hình phạt từ đó có thể biết đâu là tội nặng, đâu là tội nhẹ và là cơ sở cho chúng ta
biết tội đó thuộc thẩm quyền của cấp xét xử nào.
2.2. Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm (khách thể)
Tội phạm được chia làm hai loại tội theo tính chất nghiêm trọng là tội thập ác và tội thường
đây thực ra không phải là cách phân loại trực tiếp tội phạm mà đây chỉ là kết quả gián tiếp của
việc liệt kê mười loại tội được coi là nguy hiểm nhất đối với chế độ quân chủ như đối với trật tự,
kỉ cương, đạo đức xã hội. Loại tội thập ác bao gồm mười nhóm tội khác nhau, đó là nhóm mưu
phản, nhóm mưu đại nghịch, nhóm mưu chống đối (mưu phiến), nhóm ác nghịch, nhóm bất đạo,
nhóm đại bất kính, nhóm bất hiếu, nhóm bất mục, nhóm bất nghĩa và nhóm nội loạn. Đối với các
tội thường khác, các nhà làm luật đã căn cứ vào tính chất, mức độ của các hành vi để tạo thành
những nhóm, những chương tương đối hợp lý ốtrừ những điều luật liên quan đến tội thập ác).
Đối với QTHL phân ra như sau: Nhóm tội xâm phạm về an toàn thân thể của vua, xâm phạm sự an
toàn,yên tĩnh, nghi lễ cung phủ. (Chương 2 – Vệ cấm: từ điều 50 đến 96). Nhóm tội xâm phạm lễ nghi, quan
hệ vua tôi, và chê độ quân chủ. (Chương 3 – Vi chế: từ điều 97 đến 240). Nhóm tội phạm về quân sự
(Chương 4 – Quân chính: từ điều 241 đến 283). Nhóm tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình, chế độ quản
lý nhân khẩu. (Chương 5 – Hôn nhân: từ điều 284 đến 341). Nhóm tội xâm phạm chế độ quân điền.
(Chương 6-Điền sản: từ điều 342 đến 400). Nhóm tội thông gian. (Chương 7 – Thông gian: từ điều 401 đến
410). Nhóm tội đạo tặc. (Chương 8 – Đạo tặc: từ điều 411 đến 464). Nhóm tội đấu tụng. (Chương 9 – Đấu
tụng: từ điều 465 đến 514). Nhóm tội trá nguỵ. (Chương 10 – Trá nguỵ: từ điều 515 đến 552). Nhóm tội
xâm phạm an toàn nơi đông người. (Chương 11 – Tạp phạm: từ điều 553 đến 644). Nhóm tội bộ vong.
(Chương 12 – Bộ vong: từ điều 645 đến 656). Nhóm tội đoán ngục. (Chương 13 – Đoán ngục: từ điều 658
đến 772). Đối với HVLL: Đạo tặc (giặc cướp): từ điều 223 đến 250 . Nhân mạng (giết người): từ điều 251
đến 270. Đấu ẩu (đánh nhau): từ điều 271 đến 292. Lăng mạ (chửi mắng): từ điều 293 đến 300. Hối lộ (nhận
của đút lót): từ điều 312 đến 320. Trá nguỵ (man trá, giả mạo): từ điều 321 đến 331. Phạm gian (gian dâm):
từ điều 332 đến 340. Tạp phạm (nhóm tội cho phép chuộc bằng tiền): từ điều 341 đến 351.
Các nhóm tội khác như:Vi phạm chế độ quan chức. Vi phạm về dân sự, ruộng đất, nhà ở, cưới gả. Vi phạm
về trật tự nghi chế, lăng tẩm các thời vua. Vi phạm về thương khố, chính sách thuế. Tội phạm về quân sự
luật lúc bấy giờ thì: “Việc người ta phạm không có ghi trong luật lệ đều không thể buộc tội. Nhưng lường đo
tình lý không thể gọi là không có tội nên xử theo bất ưng vi”.
Theo căn cứ này tội phạm được chia thành hai loại là tội do cố ý và tội do vô ý. Pháp luật
phong kiến Việt Nam không quy định nội dung của lỗi cố ý và lỗi vô ý, tức là không có định
nghĩa thống nhất, đồng thời không quy định tội cố ý và tội vô ý riêng rẽ khi quy định tội phạm cụ
thể. Nhưng quy định nguyên tắc chung, các nhà làm luật lại khẳng định rõ quan điểm xử phạt
phân biệt giữa tội cố ý và tội vô ý.
2.5. Phân loại tội phạm theo giai đoạn thực hiện tội phạm
Cổ luật chia thành nhiều giai đoạn khác nhau căn cứ theo các giai đoạn thực hiện tội phạm
như: đã hành động, chưa hành động, đã thành, chưa thành... Đặc biệt, cổ luật còn quy định tội
phạm cho các hành vi mới xuất hiện trên phương diện là mưu đồ hoặc là có nguy cơ cao, nhằm
ngăn ngừa hậu quả thiệt hại gây ra cho xã hội, nhưng đặc biệt vẫn là để ngăn chặn các hành vi
nguy hại tới vương quyền của nhà vua, như bộ QTHL có quy định: "những người vào trong cung điện
làm việc hết giờ mà không ra khỏi khu vực ngoại điện thì xử tội lưu, ở trong cung bị xử tội giảo, ở lại nơi vua
nằm thì xử tội chém" (Điều 55).
Ngoài ra, các tội phạm về mưu đồ cũng được qui định rõ ở từng điều lệ trong bộ HVLl như ở
tội Nhân Mạng chia làm 3 hạng mưu sát nhân đã thực hiện nhưng chưa thành, không gây thương
tích; đã làm bị thương hoặc đã thành. Tùy theo giai đoạn mà mức hình phạt khác nhau. Đối với
một số trọng tội ( nhóm tội nguy hại đến vương quyền như mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn)
dù chưa có hành vi phạm tội chỉ là âm mưu phạm tội cũng được coi là tội phạm và là tội phạm đã
hoàn thành.
2.6. Phân loại tội phạm đồng phạm
Pháp luật thời Lê đã có những qui định về phạm tội đồng phạm nhưng lại không có những
định nghĩa rõ ràng về đồng phạm và những người đồng phạm. Điều 469- QTHL: " đồng mưu đánh
người bị thương, thì kẻ nào đánh nhiều đòn nặng là thủ phạm, kẻ chủ mưu cũng phải cùng một tội,còn người
tòng phạm thì được giảm một bậc”.
Đến triều Nguyễn, những qui định về đồng phạm cũng đã rõ ràng hơn. Nhà làm luật đã đưa ra
các khái niệm: Đồng phạm là cùng phạm tội gồm chính phạm và tòng phạm. Chính phạm xử nặng
hơn tòng phạm một bậc. Chính phạm là kẻ chủ mưu, tác giả tinh thần, ý đồ, tạo ý, đầu nậu, khởi
3
Phân loại tội phạm là đòi hỏi cần cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự trong luật cũng như
trong áp dụng luật, chính vì vậy, phân loại tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong cả ba lĩnh vực
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tôi cho rằng nó có những ý nghĩa thiết yếu sau:
Trước tiên, phân loại tội phạm giúp cho các nhà làm luật có thể sắp xếp theo hệ thống các
chương nhóm điều luật dựa trên sự đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm. Tôi ví dụ: Những tội phạm xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của con người được xếp vào
nhóm tội Lăng mạ. Trong nhóm tội Lăng mạ, lại có những hình phạt theo các mức độ khác nhau,
có cả trường hợp cơ bản, tăng nặng lẫn giảm nhẹ. Ngoài ra, việc phân loại còn thể hiện sự phân
hoá trách nhiệm hình sự trong luật, ví dụ: Người già và trẻ em được miễn giảm hình phạt. Người
phạm tội do vô ý được miễn hay giảm nhẹ hình phạt. Người chủ mưu, cầm đầu, tái phạm thì phải
chịu hình phạt nặng hơn…
Hai là, pháp luật phong kiến có rất nhiều tiêu chí để phân loại tội phạm, trong đó có những
cách phân loại có ý nghĩa rất lớn cho việc xây dựng bộ luật hình sự hiện nay, giúp cho các cơ
quan xét xử định tội lượng hình cho chính xác, bởi pháp luật phong kiến có một nguyên tắc quan
4
trọng là: “vô luật, bất hình”. Nó vừa giúp trừng phạt người phạm tội một cách khách quan, chính
xác nhằm bảo vệ những người không có tội và bảo vệ những giá trị của nhà nước phong kiến.
Thứ ba, phân loại tội phạm hỗ trợ cho việc áp dụng luật hiệu quả hơn. Rõ ràng một khi đã sắp
xếp một cách hệ thống các tội phạm cùng các hình phạt đi kèm thì việc áp dễ dàng hơn rất nhiều.
Một người phạm tội cướp, thì hành vi đó sẽ nằm ở chương Đạo tặc, căn cứ vào các tình tiết, nội
dung vụ án, nhân thân người phạm tội thì quan xét xử có thể áp dụng được nhanh và tránh được
lọt lưới tội phạm.
Hơn nữa, sự phân loại trên sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng các khung hình phạt cho các tội
phạm cụ thể cũng như xây dựng các khung hình phạt trong luật hình sự và trong các ngành luật
khác có liên quan các quy định thể hiện sự phân hóa trong đường lối xử lý tội phạm chặt chẽ,
không dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm cho việc ổn định xã hội dễ dàng hơn. Từ đó, giúp
các triều đại phong kiến duy trì và tồn tại được trong thời gian dài.
Ngoài ra, luật tách riêng nhóm tội thập ác ra khỏi các tội thường, nhấn mạnh sự nguy hiểm,
thể hiện quan điểm trừng trị nghiêm khắc đối với hành vi thuộc mười tội thập ác mà luật định.
Bên cạnh đó, một điều luật quy định nhiều tội phạm khác nhau và trong các tội này không xâm