trách nhiệm dân sự trong pháp luật phong kiến Việt Nam - Pdf 26

Một số vấn đề về trách nhiệm dân sự
trong pháp luật phong kiến việt nam
Trong thời gian dài gần 400 năm ( 1428-1802), các nhà nớc phong kiến nớc
ta không ngừng xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Do tình hình chính trị xã hội ở
từng triều đại và mỗi đời vua có những biến động, nên tình hình phát triển của
pháp luật cũng có sự khác nhau. Hình thức pháp luật thế kỷ XV-XVIII rất đa
dạng và phong phú. Nhng pháp luật ở thời kỳ này hầu hết là của triều Lê hoặc
phải mang danh nghĩa vua Lê, nhất là thời Hồng Đức đã góp phần quan trọng
trong việc củng cố nhà nớc và quốc gia Đại Việt.
Bộ Quốc triều hình luật là sự kết tinh và đỉnh cao của những thành tựu lập
pháp thế kỷ XV-XVIII, là bộ luật tiêu biểu nhất trong lịch sử pháp luật phong
kiến Việt Nam.
Thành tựu pháp luật điển hình của triều Nguyễn là bộ Hoàng Việt Luật lệ và
các tập Hội điển. Hoàng Việt Luật lệ là một trong 2 bộ luật điển hình đợc soạn
thảo theo một quy trình chặt chẽ dơí sự kiểm soát của Hoàng Đế.
Bộ Hoàng Việt Luật lệ gồm 398 điều, chia thành 22 quyển. Cách thức phân
chia các quyển, mục căn cứ vào thẩm quyền chức năng của Lục bộ. Cấu trúc này
gần giống bộ Đại Thanh Luật lệ
So với Quốc triều hình luật triều Lê, Hoàng Việt Luật lệ mang tính khái
quát cao hơn, Việc chia quyển đã bớc đầu có sự phân ngành, tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình áp dụng pháp luật. Các chế định về trách nhiệm dân sự pháp luật
thời Lê (Quốc triều Hình luật) và pháp luật thời nhà Nguyễn (Hoàng Việt luật
lệ)đợc quy định sơ sài và tản mạn. Các quy định này không phân biệt rõ trách
nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Chế tài hình sự đợc quy định trớc hết nhằm
trừng phạt kẻ nào đã xâm phạm vào tài sản hoặc nhân thân của ngời khác, ngoài
hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thờng cho nạn nhân về thiệt hại xảy ra.
1
Trong chế độ phong kiến ruộng đất là t liệu sản xuất cơ bản là tài sản chính
trong gia đình. Bởi vậy, ở Bộ luật Hồng Đức ruộng đất cũng là đối tợng điều
chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực dân sự. Nó đợc thể hiện qua hình thức sở hữu
và hợp đồng. Quốc Triều hình luật đã phản ánh hai chế độ sở hữu ruộng đất

- Không đợc ức hiếp để mua ruộng đất của ngời khác (Điều 353)
- Các quy định này cho ta thấy bộ luật đã điều chỉnh ba loại hợp đồng về
ruộng đất.
- Hợp đồng mua bán ruộng đất nhà làm luật thời bấy giờ gọi là bán đứt và
hợp đồng này chỉ hợp pháp khi đủ hai điều kiện
+ Ruộng đất đem bán là của mình
+ Không đợc ức hiếp để mua ruộng đất
- Hợp đồng cầm cố ruộng đất nhà làm luật thời bấy giờ gọi là bán tạm hoặc
ruộng cầm. Ngời bán có quyền chuộc lại trong một thời gian mà đã thoả thuận
hoặc theo luật định đợc ghi trong văn tự nh chẳng hạn theo luật định là 30 năm và
thời điểm chuộc là trớc vụ để khỏi thiệt hại hoa màu lợi tức cho ngời sử dụng.
- Hợp đồng thuê mớn ruộng đất gọi là cấy rẽ ruộng hoặc tá điền cấy nhờ
ruộng cho thuê ruộng đất là có thời hạn. Nếu vi phạm hợp đồng thuê mớn ruộng
đất thì bị phạt rất nặng.
- Vấn đề trách nhiệm dân sự đợc thể hiện qua ba bản hợp đồng trên khá rõ và
trật trẽ đã củng cố quyền nghĩa vụ của những ngời có liên quan.
- Trong khi đó ở bộ luật Hoàng Việt luật lệ có những quy định khá chi tiết
rành mạch nội dung thể hiện trong phần luật bao gồm những vấn đề sau: hộ tịch,
nhân khẩu, thuế điền sản, điền thế, kho tàng, chợ, cửa hàng. Tài sản mang ra giao
dịch dân sự là điền sản, tiền lụa, vàng bạc, xe thuyền, đồ gia dụng, gia súc, gia
cầm...
- Cũng nh bộ Quốc Triều hình luật đối tợng điều chỉnh quan trọng nhất tài sản
là ruộng đất vi tài sản giá trị nhất trong nền kinh tế trọng nông là ruộng đất.
3
- Sở hữu ruộng đất công và t
- Sở hữu công thuộc nhà nớc, thuộc làng xã.
- Sở hữu ruộng đất công và t
+ Sở hữu công thuộc nhà nớc là bất khả xâm phạm nh cung điện, hoàng
thành, thái miếu, lăng tẩm...
+ Sở hữu thuộc làng xã gồm công điền, công thổ, thần minh đình, hồ, ao...

Trong vấn đề khế ớc thuê mớn thể hiện qua thuê mớn nhân công, theo điều
283 Hoàng Việt Luật lệ: Những nông phu, tá điền hay những ngời đợc thêu mớn
để cày cấy, những ngời đợc thuê mớn làm việc tại cửa hàng. Họ không phải hạng
sai bảo, tạp dịch, khác hẳn với nô tỳ. Nếu chủ thuê đánh chết hay gây thơng tích
cho họ xử nh ngời thờng. Trách nhiệm bồi thờng thiệt hại chỉ phát sinh nếu thiệt
hại xảy ra là do ngời gây thiệt hại đã thực hiện một hành vi vi phạm pháp luật.
Hành vi vi phạm pháp luật của ngời gây thiệt hại là sự vi phạm quy định của pháp
luật ấn định rõ việc đợc làm hay không đợc làm. Nghiên cứu pháp luật phong
kiến chúng ta có thể nhận thấy mặc dù cha có sự tách biệt khỏi trách nhiệm hình
sự, nhng pháp luật thời bấy giờ quan niệm về trách nhiệm dân sự cũng tơng tự
nh dân luật hiện đại. Ví dụ: Điều 455 Quốc triều Hình luật quy định cấm không
đợc chứa chấp quân trộm cớp mà ngời chủ trang trại lại chứa chấp, thì ngoài việc
bị phạt 500 quan và tịch thu trang trại, ngời đó còn phải bồi thờng cả tang vật nếu
có. Trong trờng hợp này ngời chủ trang trại đã vi phạm quy định của pháp luật về
không đợc làm một việc (không chứa chấp quân trộm cớp). Do đó, ngời chủ trang
trại phải bồi thờng tang vật do hành vi vi phạm pháp luật của mình. Điều 457 của
Quốc triều Hình luật quy định trách nhiệm của cha mẹ phải bồi thờng tang vật
thay cho con khi con vi phạm những điều mà pháp luật cấm. Trong trờng hợp này
cha mẹ đã không thực hiện tốt trách nhiệm nuôi dỡng giáo dục con (việc phải làm
mà không làm trọn vẹn). Điều 74 Hoàng Việt luật lệ quy định: xã trởng ẩn lậu
dân đinh ngoài phải chịu những hình phạt nh trợng, đồ, lu... còn phải chịu phạt
tiền. Số tiền phạt tuỳ theo số đinh ẩn lậu, ngời tố giác đợc thởng một khoản tiền
nhất định.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status