Quan niệm, cách nhìn về vấn đề tội phạm trong pháp luật phong kiến - Pdf 28

I. Đặt vấn đề:
Tội phạm là một vấn đề quan trọng trong luật hình sự nói riêng và pháp luật
nói chung. Vì vậy ngay từ thời phong kiến, pháp luật đã có những quan niệm về
vấn đề tội phạm, tuy chưa đưa lên được thành một khái niệm cụ thể về tội phạm
nhưng cũng là một vấn đề chủ yếu được đề cập đến. Qua các đạo chiếu chỉ các
thời kì Lý, Trần, Hồ và chủ yếu là hai bộ luật thời kì phong kiến còn giữ lại
được tới ngày nay là bộ Quốc triều hình luật thời Lê Sơ (còn gọi là Bộ luật
Hồng Đức) và bộ Hoàng Việt luật lệ thời vua Gia Long nhà Nguyễn, ta có thể
tìm hiểu về những quan niệm, cách nhìn về vấn đề tội phạm trong pháp luật
phong kiến.
II. Giải quyết vấn đề
1. Quan niệm về khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm
Quan niệm về tội phạm trong xã hội phong kiến trước đây được hiểu rất rộng. Tuy không có những định nghĩa cụ thể
về tội phạm là gì nhưng trong Bộ Quốc Triều Hình Luật (QTHL) thời Lê đã có những quan niệm về tội phạm là việc xâm hại
đến sự an toàn, bất khả xâm phạm của chế độ quân chủ triều Lê, mà trước hết là sự an toàn của nhà vua và hoàng cung xâm
phạm trật tự kỷ cương, đạo đức xã hội theo quan điểm Nho giáo, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, tài sản của con
người. Đến thời nhà Nguyễn, trong bộ Hoàng Việt Luật Lệ (HVLL) cũng không có những định nghĩa chung về tội phạm mà
chỉ đi thẳng vào các qui định cụ thể đối với từng loại tội. Nhìn chung pháp luật Phong kiến không nêu ra định nghĩa về khái
niệm tội phạm nói chung và về từng tội phạm nói riêng, mà đi ngay vào miêu tả cụ thể, chi tiết từng hành vi, mức độ, hậu quả
phạm tội... nhưng ta cũng có thể hiểu được quan niệm tội phạm của pháp luật phong kiến là tất cả những hành vi vi phạm pháp
luật không chỉ trong lĩnh vực hình sự mà trong cả các lĩnh vực dân sự, hành chính, thuế khóa, ruộng đất và kể cả trong quan
hệ đạo đức (Ví dụ: Điều 130- QTHL quy định: Có tang ông bà, cha mẹ và chồng mà giấu không khóc thì phải
tội đồ làm khao đinh; Điều 98 HVLL quy định: “Phàm trai gái để tang cha mẹ,
thê thiếp để tang chồng mà tự thân chủ hôn, cưới gả thì bị phạt 100 trượng…”) .
Bộ luật cũng thừa nhận một dấu hiệu khác của tội phạm là dấu hiệu “được
quy định trong luật”, khẳng định sự hiện diện của nguyên tắc “không có luật thì
không có tội” như là một biểu hiện của nguyên tắc pháp chế.
Còn về phân loại tội phạm thì pháp luật phong kiến Việt Nam phân loại tội
phạm theo 3 hướng đó là: theo hình phạt (tội xuy, tội đồ, tội trượng, tội lưu, tội
tử), theo tầm quan trọng của quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại (tội thập ác và
tội thường), theo lỗi của người phạm tội (tội cố ý và tội vô ý). Đồng thời có sự

người phạm tội, tuy tên gọi tội giống nhau, nhưng phải phân biệt sự phạm tội vì
lầm lỡ hay cố ý, phải xét tội nặng nhẹ mà thêm bớt, không nên câu nệ để hợp
với ý nghĩa việc xét xử hình án ‘Tha người lầm lỡ không kể tội nặng, bắt tội
người cố ý không kể tội nhẹ’”. Mặc dù lỗi không được coi là một dấu hiệu của
tội phạm nhưng QTHL cũng đã có đề cập tới những trường hợp bất khả kháng
là những trường hợp được coi là không có lỗi và xác định những trường hợp này
2
không bị xử tội, ví dụ như điều 182 quy định: “…Nếu đường đê vững chắc lại
cố gắng giữ gìn, song vì nước lụt quá to, sức người không chống nổi mà đê vỡ thì
không bị xử tội”. Hay như điều 15-HVLL quy định: “Phàm phạm mười ác, giết
người, ăn trộm đồ quan, trộm bạo… cướp người, buôn người, xúi xiểm giết
người, cố ý thêm bớt tội nhân, biết sự việc mà cố ý dung túng… những loại ấy
đều là thực phạm, đều cố tâm phạm tội dù gặp dịp ân xá cũng không được tha.
Còn những người phạm tội vì lầm lẫn nghĩa là giết người, làm bị thương người
bởi vô ý, làm cháy nhà bởi vô ý, lơ là làm hư vật quan… lơ đễnh không khéo trói
để sảy tù… đều là vô tâm mà phạm tội thì được ân xá hoặc giảm tội như giáng từ
tội chết xuống tội lưu, tội lưu qua tội đồ…”.
3. Quan niệm về âm mưu phạm tội và hành vi phạm tội
Qua các điều khoản của các bộ luật thời phong kiến đã cho thấy quan niệm của
các nhà luật về âm mưu phạm tội và hành vi phạm tội. Một người bị coi là tội
phạm khi người đó có hành vi phạm tội. Nhưng đối với một số trọng tội (nhất là
những tội nguy hại tới vương quyền) nhà làm luật đương thời bấy giờ quan
niệm dù chưa có hành vi phạm tội, mà chỉ cần có âm mưu phạm tội đã là tội
phạm và tội phạm hoàn thành. Ví dụ: trong Điều 2-QTHL (Thập ác) có các tội
mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn. Và phân biệt các giai đoạn phạm tội cũng
như hậu quả phạm tội để xác định trách nhiệm hình sự, các giai đoạn thực hiện
tội phạm bao gồm : mưu đồ, tổ chức, thực hiện, hậu quả, đã hành động, chưa
hành động, đã thành, chưa thành. Đối với tội trừng phạt từ mưu đồ, HVLL quan
niệm rằng mưu là phải có từ 2 người trở lên, nếu là mưu của một người thì phải
biểu hiện qua hành động. Luật pháp trừng phạt từ mưu đồ nhằm ngăn ngừa hậu

* Đánh giá về quan niệm về tội phạm trong pháp luật phong kiến Việt
Nam
- Tích cực:
+ Có đặt ra độ tuổi, địa vị xã hội, các yếu tố tâm lý... để xác định chính sách
hình sự đã thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật phong kiến đối với người
phạm tội trong việc quyết định hình phạt.
+ Việc phân biệt tội cố ý với tội vô ý làm căn cứ để xác định chính sách hình sự
áp dụng đối với kẻ phạm tội là nghiêm khắc hay không nghiêm khắc, làm căn
cứ để áp dụng các nguyên tắc chiếu cố và chuộc tội bằng tiền.
4
+ Có sự phân biệt giữa chính phạm và tòng phạm, các giai đoạn thực hiện tội
phạm và nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội khi ở trong các trường hợp đó
đã thể hiện quan điểm tiến bộ xử đúng người đúng tội, nhân đạo.
- Hạn chế: chưa đưa ra được định nghĩa cụ thể về tội phạm, về lỗi, về
năng lực hành vi, về đồng phạm và các loại người đồng phạm khiến cho việc áp
dụng pháp luật còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại. 2 bộ luật vẫn còn có những
đặc quyền của những người có địa vị trong xã hội, chưa thực sự công bằng với
mọi người.
III. Kết thúc vấn đề
Qua phân tích và nghiên cứu về các đạo chiếu chỉ và đặc biệt là hai bộ
Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, ta có thể thấy những điểm tương
đồng trong quan niệm về tội phạm giữa các triều đại trong thời kì phong kiến
với nhau. Pháp luật trong thời kì phong kiến đều không đưa ra một định nghĩa
cụ thể về tội phạm và những tính chất của tội phạm nhưng qua các quy định cụ
thể về từng tội phạm cũng thể hiện phần nào về quan niệm tội phạm của các nhà
làm luật thời kì này. Sự nghiêm khắc trong pháp luật thời phong kiến thể hiện ở
quan niệm, những quy định về những hành vi vi phạm hành chính, kỉ luật hoặc
đạo đức đều được coi là tội phạm, đây là một hạn chế trong mọi bộ luật thời kì
này. Bên cạnh đó, cũng có những quan niệm tương đồng giữa pháp luật phong
kiến và luật hình sự hiện đại về các tính chất của tội phạm. Vì vậy, việc nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status