tiểu luận môn quản trị sự thay những vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu của sự đổi mới và cách tân - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
\[

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ SỰ THAY

ĐỀ TÀI :
NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT LÕI TRONG NGHIÊN
CỨU CỦA SỰ ĐỔI MỚI VÀ CÁCH TÂN

Thầy hướng dẫn :
Nguyễn Hữu Lam
Trần Hồng Hải
Nhóm 1:

1. Đào Hùng Anh
2. Trần Thái Bảo.
3. Huỳnh Gia Xuyên.
4. Nguyễn Thành Sơn
NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT LÕI TRONG NGHIÊN CỨU CỦA SỰ ĐỔI MỚI
VÀ CÁCH TÂN. Quyển sách này chứa đựng các vấn đề đậm chất lý thuyết, đứng trên góc độ phân
tích từng tiểu ban riêng biệt và sẽ dọc thời gian với quá trình thay đổi và đổi mới một
cách trải rộng. Giống như các lý thuyết khác, điểm quan trọng nhất khi nhìn vào là sự đa
dạng về ý tưởng và các thành phần của vấn đề này. Nhưng khi chúng ta nhìn lại xa hơn,
về chuẩn mực và vấn đề trung tâm thì vấn đề này là khâu chính của chương này.

Thông suốt cuốn sách ba câu hỏi cơ bản được thể hiện chúng như sau:

Một người có thể trả lời câu hỏi này như thế nào dựa trên lý thuyết về sự thay đổi
và cách tân của tổ ch
ức. Coi vị trí của sự thay đổi cần một lý thuyết nói lên diện mạo của
sự thay đổi và cách tân và để làm lệch đi sự chú ý của các lý thuyết hác. Sự thay đổi là
một hiện tượng đa dạng mà các phương pháp đều cố gắn giới hạn chúng. Nhưng khi nhìn
vào với từng mặt của vấn đề chúng ta có thể thấy một số câu trả lời rất nổi bật, nhưng

đây chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi này với ba lời giải đáp. Mỗi câu trả lời sẽ tập trung trên
từng khía cạnh một của sự thay đổi và cách tân. Trong khi không có câu trả lời nào là
hoàn thiện cho mọi góc cạnh của sự thay đổi cả. Nhưng nếu tập trung chúng lại thì chúng
ta có thể chỉ ra một lý thuyết cho sự thay đổi và cách tân.

Lý thuyết của sự thay đổi chống lại lý thuyết thay đổi.

Định nghĩa chủ yếu của sự thay đổi và cách tân là mô tả vai trò của con người
trong các quy trình. Theo Binnis’s (1966) có sự vược trội trong các lý thuyết, đã tập trung
vào vấn đề thế nào là sự thay đổi của tổ chức và tìm ra các nhân tố của sự thay đổi, và lý
thuyết thay đổi thì đã đề cập đến sự thay đổi có thể như thế nào và bằng cách nào có thể
quản lý được chúng trong tổ chức đã tỏ ra rất hữu ích. Cách đề cập này đã chỉ ra vai trò
của con người trong sự thay đổi của tổ chức trong điều kiện tập trung vào việc có hay
không có hoạch định về thay đổi đã bàn bạc bởi Seo tại chương 4. Hoạch định sự thay đổi
là một sự hình thành có chủ ý và hoạch định sự thay đổi có hiệu quả như thế nào trong lý
thuyết sự thay đổi. Có một quy cách để thực hiện hoạch định sự thay đổi; thay đổi để cải
thiện hiện trạng và đạt đến một điểm mà có trạng thái ổn định hơn. Mặt khác, sự không
hoạch định có thể có hay không ảnh hưởng bởi nhân tố con người. Nó có thể làm cho tổ
chức có thể đạt đến một trạng thái tốt hay xấu. Sự tương phản giữa hoạch định và không
hoạch định sự thay đổi tập trung vào sự chú ý ở sự suy giảm trong vấn đề dàng dựng, xây
dựng hay điều khiển, lý thuyết của hoạch định sự thay đổi chỉ rỏ phương hướng để thành
công và điều khiển quy trình của sự thai đổi. Lý thuyết về sự không hoạch định sự thay
đổi, xét trên một phương diện nào đó, cho thấy rằng thay đổi là làm suy giảm lực cho

cứu có thể sử dụng nếu họ có thể hiểu được sự thay đổi và phát triển. Như vậy các nhân
tố và quy trình trong nghiên cứu sự thay đổi có thể được nhận thấy rỏ. Theo Pfeffer
(1982, p.37) đưa ra ý tưởng, “ Thừa kế định nghĩa thuộc về người quản trị là cái gì? là
vấn đề quan trọng, cái gì là biến thiên, và đôi khi làm thế nào để đo sự biến thiên thay đổi
có thể làm giảm đi các nhân tố giải thích và đến lối nói của vấn đề theo hướng mà chúng
không hửu dụng trong khoa học.” theo cách tiếp cận này thì học thuật thuần túy có vẽ có
hửu dụng.
Mặt dầu vậy, yêu cầu rộng rải có thể tạo ra được các lý thuyết mà có thể có liên
quan ít nhiều đến thực tế. Quy trình diễn tả trong mối quan hệ rộng và lý thuyết về sự
thay đổi. Rất khó để kiểm soát hay đạt được một cách nhanh chóng. Số đông và tổ chức
riêng lẽ và các thành viên thì có rất ít kể đến, miêu tả như một vật thể được thả ra giữa
biển với quá ít khả năng mà chúng có thể chống lại. Một số bài học trong bài viết này cho
việc tạo lại hình và hành động lại để đối mặt với tình trạng thực tế này, nhưng nhiều phần
của bài viết theo mối liên hệ của các nhà làm luật của chính phủ và các chiến lược lâu dày
cho các nhà quản trị. Những lời khuyên rằng các nhà quản trị và các chuyên gia sự thay
đổi phải nhận biết được sự khó khăng như thế nào của sự thay đổi và cách tân có thể
được quản lý, những quy trình thay đổi này có thể sẽ diễn biến theo một chiều hứng mà
không được chờ đón. Giá trị mà có thể nhìn thấy ở đây có lẽ là vấn đề này nhưng rất khó
có thể trở nên hữu ích cho các nhà quản trị nhận ra cách làm thế nào để quản lý được sự
thay đổi trong công ty. Có một vấn đề cần thiết quan trong trong việc tìm ra các mối liên
quan của lý thuyết trong thực tế cho sự thay đổi trong tổ chức. Sự thiếu cơ sở lý thuyết có
thể chuyển san các dạng thực hành có thể xãy ra, Việc này nhấn mạnh đến nhiều nghiên
cứu gần đây trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô có thể xãy ra cho tổ chức và dân cư. Việc này
có xu hướng là các chú ý trực tiếp xa rời với các nhân tố mà có thể được quản lý và xây
dựng. Lý thuyết về chủ động hành động cho cá nhân (chương 2), cho nhóm (Chương 3),
và cho tổ chức (chương 4, 6, 9) có thể cúng cấp các thông tin dể dàng hơn cho việc áp
dụng thực tế.

Thay đổi gián đoạn so sánh với sự thay đổi liên tục:


- Lý thuyết của Greenwood về sự thay đổi trong lĩ
nh vực tổ chức ( chương 10).

Lý thuyết về sự thay đổi liên tục bao gồm:
- Sự tương tác giửa cá nhân và xã hội đến sự thay đổi thành phần (woodman và
Dewett chương 2).
- Lý thuyết về học hỏi trong tôe chức được bàn bởi Seo (chương 4) và Lewin
(chương 5).
- Lý thuyết ngẫu nhiên (chương 5).
- Lý thuyết mối quan hệ cộng đồng và dân số (Baum và Rao, chương 8).
- Lý thuyết của Hatch về sự thay đổi văn hóa (chương 7).
- Thiết kế tổ chức và nghệ thuật truyền thông được bàn bởi Van de Ven và
Hargrave (chương 9).

Bảng 1.1 So sánh giữa thay đổi gián đoạn và thay đổi liên tục .

Tính chất

Thay đổi gián đoạn Thay đổi liên tục
Phép ẩn dụ về tổ
chức.
Khung phân tích
Khái niệm quan trọng: sự trì trệ,
cấu trúc sâu hay tương quan, khởi
sự, thay thế, tính gián đoạn, cách
mạng. Chủ tâm thay đổi: Hũy bỏ, thay
đổi, tạo lập lại, thay đổi là quán
tính, tuyến tính, cấp tiến, và yêu
cầu sự can thiệp từ bên ngoài. Nguồn khởi xướng: Người tạo rat
hay đổi được tìm thấy điểm của
đòn bẫy trong tổ chức. Tác nhân
thay dổi thay đổi hệ thống đo
lường, giản đồ . Tổ chức là nổi bật và tự tổ
chức và thay đổi là bất biến,
biến chuyển và chông chất
mãi.

Thay đổi là mô hình của sự
biến cải vô tận trong quy
trình tiến hóa và thực hành
xã hội. nó được gây ra bởi
tính không ổn định của tổ
chức và yêu cầu hành động

thay đổi thường dựa trên nền tản của sự không liên tục. Lý thuyết hệ thống phức hợp
thích ứng của McGrath và Tschan của nhóm cũng được xây dựng xung quanh hai vấn đề
của sự thay đổi liên tục và gián đoạn. Hơn thế nửa, một số lý thuyết được bàn đến ở trên
như lý thuyết của Greenwood về sự thay đổi của tổ chức, kết hợp giữa sự thay đổi liên
tục với mức độ hành động thực tiễn có thể dịch chuyển quy trình thông qua sự không liên
tục. Trong khi lý thuyết tập trung vào không liên tục, nó được coi là quy trình phía dưới
cảu liên tục của các hành động cho việc xây dựng lên các bộ phận của lý thuyết.
Một số lý thuyết rơi vào khu vực nào đó giữa hai thái cự đã được bàn đến đã có
nét đặc biệt không cần thiết. Từ sự thay đổi gián đoạn thì dể hiểu hơn ở cách nhìn vĩ mô
hay phân tích trên diện rộng. Trong khi đó thay đổi liên tục thì tốt hơn cho việc phân tích
dựa trên mức độ vi mô hoặc phân tích địa phương. Và chúng không hề có sự đối lập và
hoàn toàn có thể dùng và có triển vọng sử dùng (chương 13). Hơn thế nửa, thực tế cho
rằng có một số sự thay đổi xảy ra với chúng ta một cách từ từ và hầu hết không thể thấy
rỏ, nhưng ngược lại một số khác thì phát triển đều đặng bởi một số bước ngoặt gãy đổ
quan trọng, tiếp tục cho minh chứng sự không mâu thuẫn của gián đoạn và liên tục của
thay đổi. Bốn động lực cơ bản cho sự thay đổi:

Định nghĩa thứ ba cho sự thay đổi trên phương diện cơ học. Van de Ven và Poole
(1995) định nghĩa bốn lý thuyết đơn giản liên quan giải thích cho quy trình của sự thay
đổi và cách tân. Hình 1.1 chỉ rằng mỗi lý thuyết là một quy trình của sự phát triển, mở ra
một chuỗi khác nhau cho các sự kiện thay đổi, và cho việc chi phối với các cơ chế khác
nhau được sinh ra hay các động lực.
- Mô hình vòng đời mô tả quy trình của thay đổi trong thực tế như một quy trình
thông qua quy trình cần thiết của giai đoạn hay thời kỳ. Bài viết đặc biệt về giai

của tổ chức hay một nhóm tổ chức khi có sự thống nhất giữa các cá nhân cho phép chúng
cá thể hành động trong các thực thể tổ chức độc lập. thuyết cơ học tổng quát của bốn quy
trình lý thuyết cũng có nhiều điểm khác nhau theo chiều thứ hai theo cách quy trình của
sự thay đổi được phải được tiên nghiệm hay quy trình được xây dựng và nảy sinh như
một quy trình của sự thay đổi được mở ra. Phương thức ra lệnh của kênh thay đổi phát
triển của thực thể trong hướng thứ cấp, sự bảo dưỡng và phỏng theo kinh điển có sự hình
thành của chúng trong các định nghĩa theo cách có thể đếm được. Phương thức xây dựng
của sự thay đổi sinh ra một cách vô tiền l
ệ, trong sự nghiên cứu quá khứ thường không
liên tục và không thể đoán trước được sự khởi đầu trong quá khứ. Động lực ra lệnh gợi
lên một quy trình của trường hợp thay đổi với một chương trình tiền tạo dựng hay một
thủ tục hành động. Động lực xây dựng, trong một mặt khác sản xuất ra một quy trình
hành động mới mà có thể tạo ra công thức nguyên bản của các thực thể. Lý thuyết Vòng
đời và lý thuyết sự phát triển vận hành trong theo phương thức ra lệnh. Trong khi lý
thuyết về cứu cánh và lý thuyết biện chứng lại vận hành trong phương thức xây dựng.
Hai chiều của đơn vị và cách thức của sự thay đổi định nghĩa thuyết cơ học sinh ra từ
sự vận động và quy trình. Chúng khác nhau theo chiều hướng, sự lớn lên của thay đổi, sự
cơ bản của thay đổi và khả năng phá hủy sự thay đổi, những cái mà có thể phân loại sự
thay đổi của tổ chức dựa trên hệ quả và hậu quả do chúng gây ra. Một mặt ưu điểm của
hệ thống hình học là có thể phân biệt từng dộng lực của quy trình thay đổi trước khi
chúng được kết luận là gì.
Sườn chung nhất của các lý thuyết cho nghiên cứu về sự thay đổi và cách tân trong
cuốn sách này là mô hình vòng đời, cái mà phản ánh tầm quan trọng trên các mô hình
trong sự phát triển về cách nghỉ về sự phát triển và thay đổi. Ví dụ như mô hình của vòng
đời chứa đựng lý thuyết về sự phát triển nhóm ( chương 3), mô hình tổng hợp (chương 9)
và mô hình xã hội (chương 2). Mô hình thuyết cứu cánh, mà được nhấn mạnh vai trò của
người lãnh đạo và các tổ chức thai đổi như việc xây dựng sự thay đổi với các thành viên
của tổ chức, cũng là những cái chung. Ví dụ trong phần này bao gồm lý thuyế của Schein
về sự thay đổi xã hội (chương 7), lý thuyết về thiết kế tổ chức (chương 9) và lý thuyết hệ
thống tự tổ chức (chương 6 và 12). Phát triển phổ biến trong hai thập kỷ qua là lý thuyết

như các vấn đề được bàn đến do Vn de Ven và Poole (1995) và Poole (2000). Trong
chương 13. Poole và Van de Ven mở rộng khung nghiên cứu có chứa đựng sự biến đổi
của bốn động lực cơ bản.
Một số lý thuyết trong cuốn sách này kết hợp hai hài nhiều hơn các động lực cơ bản.
Trong lý thuyết của Greenwood , là lý thuyết của sự thay đổi tổ chức (chương 10).

Bảng 1.2 : Những lý thuyết của thay đổi và phát triển tổ chức có thể hợp lý
Sự tác động lẫn nhau làm phát sinh những phương pháp

Vận động Vận động có Vận động có Vận động
bắt buộc
bên trong
thực thể :
sắp xảy ra
chương trình
tính chất xây
dựng bên
trong thực
tế : có mục
đích ban
hành
tính chất xây
dựng giữa
những thực
thể : mâu
thuẫn và
những sự
tổng hợp
bắt buộc
giữa những

1972)
có không có không
10. Trạng thái cân bằng nhấn mạnh
của tổ chức (Tushman và Romanelli,
1985)
không có không có
Những lý thuyết tam vận động

11. Sự điều chỉnh lẫn nhau của người
ủng hộ (Lindblom, 1965)
có có có không
12. ? không có có có
13. ? có không có có
14. Tâm lý xã hội của tổ chức
(Weick, 1979)
có có không có
Những lý thuyết tứ vận động

15. Những quá trình phát triển của
nhân loại (Riegel, 1976)
có có có có
16. ?—Thùng rác (Cohen, March, và
Olsen, 1972)
không không không không
Nguồn : phỏng theo Van de Ven và Poole (1995).
Thay đổi thuộc về tổ chức (chương 10), một mô hình chu kỳ sống mô tả cấp độ tiến bộ về
mặt vĩ mô của sự thay đổi, nhưng sự thay đổi được điều khiển bởi hành động thuộc về
thuyết cứu cánh bởi những cá nhân và những tổ chức. Chương 9 mô tả những lý thuyết
của sự thay đổi thuộc về tổ chức thông qua tập hợp hành động làm thay đổi những tổ
chức mà được dựa trên mâu thuẫn có tính chất biện chứng, mà còn bộc lộ thông qua

Mohr (1982; Poole và những người khác., 2000) lần đầu tiên phân biệt phân biệt những
cách tiếp cận về quy mô thay đổi và những cách tiếp cận về tiến trình đối với những bài
nghiên cứu khoa học xã hội, và sự khác biệt khá thuyết phục trong những bài nghiên cứu
về tổ chức. Trong những điều kiện nói chung, một lý thuyết về quy mô thay đổi giải thích
sự thay đổi dưới dạng những mối quan hệ giữa những biến độc lập và những biến phụ
thuộc, trong khi một lý thuyết về tiến trình giải thích một chuỗi những sự kiện ảnh hưởng
như thế nào đến một vài kết quả. Hai cách tiếp cận này thì nhường chỗ cho những khái
niệm khác về sự thay đổi và ám chỉ phải có những tiêu chuẩ
n khác để đánh giá nghiên
cứu về sự thay đổi và sự đổi mới. Hình vẽ 1.2 cung cấp một bức tranh về sự so sánh giữa
hai cách tiếp cận này.
Một lý thuyết về quy mô thay đổi tập trung vào những biến số mà đại diện cho những tác
động hoặc những thuộc tính quan trọng của đề tài nghiên cứu. Những sự giải thích đưa
đến một hình thức của những câu khẳng định thuộc về nguyên nhân hoặc những mô hình
mà bao gồm những biến số này (ví dụ, X là nguyên nhân của Y, mà là nguyên nhân của
Z), và một mục tiêu tiềm ẩn của nghiên cứu về quy mô thay đổi là thiết lập những điều
kiện cần thiết và có đủ điều kiện để mang đến một kết quả. Nghiên cứu về quy mô thay
đổi dùng những bảng thiết kế nghiên cứu phỏng vấn điều tra và thực nghiệm và được đặt
trong mô hình tuyến tính nói chung mà giải thích cho hầu hết những phương pháp thống
kê nói chung, bao gồm phân tích phương sai (ANOVA), hồi quy, phân tích nhân tố, và
mô hình cấu trúc cân bằng. Một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá quy mô thay đổi là
tính khái quát hóa của chúng, mà liên quan đến một loạt những trường hợp, hiện tượng,
hoặc những tình huống sự giải thích thuộc về nguyên nhân vận dụng.
Một vài những loại nghiên cứu khác về sự thay đổi và sự đổi mới của tổ chức dưới đây
theo cách tiếp cận quy mô thay đổi
1. Có lẽ hầu hết những loại phổ biến của việc nghiên cứu quy mô thay đổi giải quyết
thay đổi như một biến số như là tỷ lệ của sự đổi mới (Rogers, 1995), hoặc chiều
sâu của sự thay đổi (Harrison 1970, cũng như Woodman và Dewett, chương 2).
Mục tiêu của những nghiên cứu này để giải thích và/hoặc dự đoán việc xảy ra và
quy mô của sự thay đổi hoặc những tác động của sự thay đổi đến những biến số

Chiến
lược thay
đổi (Y)

Chiến
lược A

Chiến
lược B


Những sự kiện
• Những hoạt động
• Những chọn lựa
Lý thuyết quy mô thay đổi

Lý thuyết tiến trình

Hình vẽ 1.2 : Hai cách tiếp cận để giải thích chiến lược thay đổi. Dựa trên Mohr (1982) và Langley (1999 3. Một cách tiếp cận phổ biến tăng lên là nghiên cứu thay đổi ở những cấp độ phức
tạp của phân tích (Dansereau và những người khác, 1999). Một vài nghiên cứu
trong nhóm này tập trung vào những tác động của sự thay đổi trong một biến số
tại một cấp độ của sự phân tích đến những biến số tại những cấp độ khác – ví dụ,
những phong cah1 lãnh đạo chuyển đổi như thế nào ảnh hưởng đến những đơn vị
làm việc và tạo ra những tập hợp trong những tổ chức làm việc ngoài giờ (Avolio
và Bass, 1995). Những phương pháp để thực hiện phân tích đa cấp độ bao gồm
mô hình tuyến tính theo thứ bậc, bên trong và giữa phân tích, và phân tích sự phụ
thuộc lẫn nhau (Kashy và những người khác., 1999; Klein và Koslowski, 2000).

đơn lẻ không ảnh hưởng đến tổ chức đó) và (b) những nhân tố gây ra nguyên nhân hoạt
động đồng nhất bắt chéo nhau nhiều trường hợp và xấp xỉ cùng thang đo về thời gian
(Abbott, 1988). Những giả định này dường như không giới hạn một cách đặc biệt bên
trong một khung quy mô thay đổi, nhưng chúng loại trừ ảnh hưởng của một vài nhân tố
và những ảnh hưởng nhắc đến rõ rang trong một tiến trình, bao gồm những sự kiện then
chốt, nhiều những nguyên nhân hoạt động thất thường tại những phần khác nhau của tổ
chức và tại những thời điểm khác nhau, những nguyên nhân hoạt động bắt chéo nhau rất
lớn tại những thang đo thời gian khác nhau, và những chuỗi sự kiện trói buộc lại với nhau
trong một kiểu dáng ngẫu nhiên để đưa đến một vài kết quả. Thí dụ như những đề tài về
lịch sử hoặc lý lịch, những mô hình thuộc cấu trúc không cân bằng. Những lý thuyết về
tiến trình cố gắng kết hợp chặt chẽ những nhân tố và những ảnh hưởng này.
Tiêu điểm chính của một lý thuyết tiến trình là một chuỗi những sự kiện mà trải qua thời
gian để đưa đến một vài kết quả. Những sự giải thích trong những lý thuyết tiến trình có
khuynh hướng phức tạp hơn nh
ững sự giải thích về quy mô thay đổi tùy thuộc vào sự
phức tạp của những sự kiện, sự cần thiết để giải thích cho sự liên quan giữa những sự
kiện thuộc về thời gian, những thang đo thời gian khác nhau trong cùng một tiến trình, và
bản chất động của những tiến trình. Những sự giải thích tiến trình có lẽ bao gồm (a) một
sự tính toán của một sự kiện đưa đến kết quả như thế nào và ảnh hưởng đến những sự
kiện theo sau thì như thế nào (ví dụ, những sự kiện loại A có xác suất thành công là 0.7
bởi những sự kiện loại B và xác suất thành công là 0.3 bởi những sự kiện loại C); (b) một
sự giải thích của mô hình tổng quát mà tạo ra những chuỗi (ví dụ., tiến trình phát triển ba
giai đoạn A, B, và C), hoặc (c) cả hai ( trong trường sự giải thích ở cấp độ vi mô và mô
hình tổng quát được nối kết). Những lý thuyết tiến trình kết hợp chặt chẽ với một vài loại
khác nhau của những tác động trong sự giải thích của chúng, bao gồm những sự kiện then
chốt và bước ngoặt, sự ảnh hưởng theo ngữ cảnh, những mô hình tạo thành cho lời hướng
dẫn tổng quát đến sự thay đổi, và những nhân tố gây ra nguyên nhân mà ảnh hưởng đến
một chuỗi những sự kiện. Poole và những người khác. (2000) tranh cãi rằng những sự
giải thích về tiến trình kết hợp chặt chẽ với mô hình bốn nguyên nhân của Aristotle, thêm
hình thức và sự tạo ra kết quả cuối cùng có ảnh hưởng kết quả cuối cùng mà là nền tảng

Romanelli, 1985) thì tình linh hoạt rất cao vì nó vận dụng những tiến trình cho một tuần
và nhiều năm và một loạt những tiến trình rộng lớn khác nhau, bao gồm sự thay đổi của
tổ chức, sự phát triển của nhóm, và sự cải tiến của công nghệ. Bảng 1.3 một vài điểm so
sánh cơ bản về cách tiếp cận theo quy mô thay đổi và cách tiếp cận theo tiến trình.
Langley (1999) và Poole và những người khác (2000) nhận diện một vài loại khác nhau
của những nghiên cứu về sự thay đổi và sự đổi mới dựa theo cách tiếp cận theo tiến trình.
Họ sắp đặt một chuỗi liên tục sơ lược từ sự lý giải cao độ đến định lượng :
1. Một vài của hầu hết công việc có ảnh hưởng trong những nghiên cứu về tổ chức đưa ra
một hình thức của những quá trình lịch sử có tính chất tường thuật mà thuật lại một câu
chuyện chi tiết của một tiến trình (ví dụ., Bartunek, 1984; Chandler, 1964; Pettigrew,
1985). Những bài báo cáo phong phú này phức tạp đan xen nhiều chủ đề và, theo những
chú ý của Langley (1999), tính chất rất dày đặc của chúng xuất phát từ những lý thuyết
tính toán chi ly một điều gì đó của một sự thách thức.
2. Một cách tiếp cận tập trung hơn là nhiều nghiên cứu cụ thể trong thực tế (Leonard-
Barton, 1990). Những nghiên cứu này được thiết kế để so sánh và đối chiếu với một số
trường hợp bị giới hạn “hoặc(a) dự đoán những kết quả giống nhau (một sự tái tạo tầm
thường) hoặc (b) đưa ra những kết quả trái ngược nhau nhưng produce contrary results
but for predictable reasons (một sự tái tạo tầm thường)’’ (Yin 1984, trang 48–49) thông
qua sự phân tích định tính sâu sắc. Những nghiên cứu này thường sử dụng những phương
pháp khác nhau của sự tổng kết và rút ra nghĩa từ nh
ững trường hợp trong nghiên cứu,
như là bản đồ thị giác (Langley và Truax, 1994; Mintzberg, Raisinghani, và Theoret1976;
Quinn, 1980; Van de Ven và Grazman 1999), những sự thể hiện của ma trận (Kuhn và
Poole, 2000; Miles và Huberman, 1994), và sự so sánh của những đoạn trích dẫn và
những tạp san thời sự của những sự kiện (Leonard-Barton, 1990). Những bài báo cáo
được mang lại bởi những nghiên cứu cụ thể trong thực tế thì đặc trưng rất phong phú.,
mặc dù nó không được chi tiết như những bài tường thuật về lịch sử, và chúng thường cô
đọng và rõ ràng hơn những bài tường thuật về lịch sử tập trung vào lý thuyết suông.
Bảng 1.3 : So sánh hai cách tiếp cận quy mô thay đổi và cách tiếp cận tiến trình
Cách tiếp cận quy mô thay đổi Cách tiếp cận tiến trình

3. Một nghiên cứu truyền thống đã tồn tại từ lâu khái quát hóa tiến trình dựa trên một
chuỗi của nhiều thời kỳ hoặc nhiều giai đoạn (Bales và Strodtbeck, 1951; Barley, 1986;
Fisher, 1970; Langley và Truax, 1994; Poole, 1981). Sự phân tích thuộc về giai đoạn cố
gắng nhận diện những thời kỳ gắn kết của hoạt động thông qua một tiến trình diễn ra. Sự
giải thích phổ biến nhất dựa vào những giai đoạn trong mô hình chu kỳ sống (Cameron
và Whetten, 1983; Greiner, 1972; Lacoursiere, 1980), nhưng những loại lý thuyết khác
cũng quan sát những tiến trình dựa trên những thời kỳ (Poole, 1983; Saberwhal và Robey,
1993). Poole và những người khác. (2000) thảo luận một vài phương pháp, cả hai phương
pháp định lượng và định tính, sự nhận diện những thời kỳ và kiểm tra một chuỗi những
giả thuyết của từng thời kỳ. Những lý thuyết về thời kỳ cố gắng tóm lược những yếu tố
cần thiết của dữ liệu tiến trình phong phú trong một bảng báo cáo đơn giản hơn của sự
phát triển như bậc thang hoặc những hoạt động điển hình.
4. Một cách tiếp cận cuối cùng của tiến trình nghiên cứu khám phá dựa vào sự phân tích
định lượng của những chuỗi sự kiện. Chiến lược này (a) định rõ những nhân tố hoặc
những biến số mà tiêu biểu cho những sự kiện, (b) mã hóa những sự kiện để gán những
giá trị cho những biến số này, và (c) phân tích kết quả những chuỗi thời gian để kiểm tra
giả thuyết về một chuỗi những sự kiện hoặc nhận diện những mô hình trong tiến trình.
Van de Ven và Polley (1992) cho ví dụ, chia đoạn một tiến trình đổi mới của sản phẩm
qua nhiều năm thành nhiều tháng và đếm số lượng của sự thay đổi trong ý tưởng sự đổi
mới, những sự can thiệp bởi sự kiểm soát của nguồn lực bên ngoài, và những sự kiện
phản hồi trong mỗi tháng làm phong phú thêm những mô tả của những sự kiện. Họ đã
dùng sự hồi quy của những chuỗi thời gian để kiểm tra một mô hình đang học trong suốt
sự
đổi mới và cũng đã khám phá một mô hình trong những chuỗi thời gian mà đã đề nghị
tiến trình đổi mới được mô tả bởi những thời kỳ ban đầu của sự phá hoại tổ chức trong
tiến trình đang học mà đã giải quyết bởi một thời kỳ được sắp xếp. Sử dụng một loại dữ
liệu khác, Romanelli và Tushman (1994) đã mã hóa những biến số từ một cơ sở dữ liệu
nhiều tài liệu bao gồm những bài báo, những báo cáo thường niên, và giống như nghiên
cứu những mô hình của sự thay đổi trong công nghiệp máy vi tính. Tiến trình phân tích
định lượng dùng một loạt những kỹ thuật, bao gồm phân tích, những kỹ thuật chuỗi thời

và những mô hình sâu sắc trong dữ liệu tiến trình là một công việc khó khăn. Chiều sâu
của dữ liệu tiến trình và sự phức tạp của những tiến trình có khuynh hướng giới hạn số
lượng những trường hợp mà được thu thập, bằng cách này giới hạn độ tin cậy của những
kết luận của nghiên cứu về tiến trình.
Sự phức tạp của nghiên cứu về tiến trình thúc đẩy một vài phương pháp và những hệ
thống giải quyết vấn đề bằng cách đánh giá kinh nghiệm để hỗ trợ người nghiên cứu
trong việc giải quyết những nghiên cứu tiến trình. Langley (1999) cung cấp một sự sang
suốt và hướng dẫn dễ đọc để tiếp cận để xây dựng những lý thuyết của những tiến trình.
Poole và những người khác. (2000; Van de Ven và Poole, 1995) trình bày bốn lý thuyết
thuộc nguyên mẫu của những tiến trình thay đổi và mô tả chúng được nhận diện trong dữ
liệu tiến trình như thế nào và những lý thuyết tiến trình phức tạp hơn được xây dựng từ
những vận động đơn này như thế nào (xem chương 13 là một sự mở rộng của khung lý
thuyết này). Pentland (1999) mô tả sự phân tích có tính chất tường thuật được sử dụng để
xây dựng những tiến trình lý thuyết như thế nào. Một kết quả đặc biệt của Khoa Học T

Chức (Huber và Van de Ven, 1990) được dành cho những phương pháp khác nhau của
những tiến trình nghiên cứu, và Poole và những người khác. (2000) mô tả bốn phương
pháp phân tích định lượng chỉ duy nhất được phỏng theo nghiên cứu về tiến trình.
Cách tiếp cận về tiến trình thường được đóng vai trò trái ngược với cách tiếp cận về quy
mô thay đổi. Tuy nhiên, nó thì thích hợp để quan sát chúng như bổ sung. Những nghiên
cứu về quy mô thay đổi khảo sát tỉ mỉ và kiểm tra những kỹ thuật mà điều khiển những lý
thuyết về tiến trình, trong khi những nghiên cứu về tiến trình khảo sát tỉ mỉ và kiểm tra
những tính chất tường thuật mà dựa vào những lý thuyết về quy mô thay đổi. Thay vì
tranh cãi hai cách tiếp cận loại trừ lẫn nhau, câu hỏi liên quan là hai cách tiếp cận kết hợp
với nhau như thế nào.
Một chính sách là thực hiện cả hai nghiên cứu về quy mô thay đổi và nghiên cứu về tiến
trình cùng một tập dữ liệu và kết hợp những kết quả. Saberwhal và Robey (1995) thực
hiện như một nghiên cứu và cho thấy những kết quả của quy mô thay đổi và những sự
phân tích tiến trình được chen vào để giải thích tiến trình (xem Poole và Roth 1989a và
Poole và Roth 1989b cho thấy những ví dụ khác nhau của cách tiếp cận này). Thậm chí

hóa những mối quan hệ thuộc về lý thuyết hiện thời mà chính thức hóa những mối quan
hệ thuộc về lý thuyết hiện tại rõ ràng bằng thuật ngữ dễ hiểu (mũi tên e). Mô hình được
chạy tuần tự trong số nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau (8, 24, và 48) và những điều
kiện tiến hóa. Một sự sáng suốt từ mô hình tiến trình là những tổ chức đó với tập trung
địa phương nhiều hơn (ví dụ, những nhóm tham chiếu nhỏ hơn của những đối thủ cạnh
tranh) ‘‘đáp lại ít mạnh hơn đến những tiến trình cấp độ thành viên của sự hợp pháp hóa
và sự cạnh tranh liên quan đến mật độ’’ với những nhóm tham chiếu lớn hơn (mũi tên b).
Điều này đã đề nghị giả thuyết rằng sự phụ thuộc của một vài mật độ chịu ảnh hưởng một
cách khác nhau của những tổ chức (mũi tên f). Lomi và Larson báo cáo rằng những
nghiên cứu thực nghiệm dựa trên tác động của sự phụ thuộc vào mật độ thì phù hợp với
giả thuyết này (mũi tên g). Sự tìm thấy từ nghiên cứu tổ chức được sử dụng cụ thể hóa
mô hình (mũi tên c), và Lomi và Larson thảo luận một vài cách mà những mô hình được
mở rộng vì chúng phản hồi một cách chính xác những mô hình chọn lựa có lý trí của
những tổ chức.
Những mô hình với một vài chi tiết cụ thể thì rõ ràng hơn những lý thuyết, vì chúng được
xây dựng quanh những giả định rõ rang về những cấu trúc quan trọng trong lý thuyết (ví
dụ, những loại biến số, chúng được đo lường như thế nào, vân vân) và những mối quan
hệ trong lý thuyết ấn định (ví dụ, hình thức của những mối quan hệ thiết thực cụ thể trong
số những biến số hoặc những tác nhân của phần mềm). Tuy nhiên, những mô hình c
ũng
trừu tượng hóa lý thuyết bởi tái chính thức hóa những sự trình bày bằng lời nói sang toán
học hoặc những ngôn ngữ mô hình của máy vi tính. Những mô hình thì hữu ích cho việc
nhận được từ những hàm ý của lý thuyết mà không được luận ra từ những hình thức bằng
lời nói của chính bản thân nó vì có những điều phức tạp tiềm ẩn trong lý thuyết mà những
diễn đạt bằng lời nói không thể trình bày một cách thích đáng hoặc vì lý thuyết phức tạp
đến nỗi mà những nhà lý luận không thể suy nghĩ về ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng. Bởi
vì những tiến trình của sự đổi mới và sự thay đổi vốn đã phức tạp, mô hình chính thức có
một khả năng tiềm tàng như một công cụ xây dựng lý thuyết trong lĩnh vực này. Nhiều sự
chú ý được cho vào những mô hình của sự hỗn độn trong một vài năm gần đây và những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status