1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG
Thanh toán qua ngân hàng đã ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát
triển của hệ thống ngân hàng. Tại Việt Nam, do lịch sử của hệ thống ngân hàng còn non trẻ
nên thanh toán qua ngân hàng mới được chú trọng phát triển trong thời gian gần đây.
Nhưng với tiện ích của các hình thức thanh toán qua ngân hàng, Chính phủ và Ngân hàng
Nhà nước đã tập trung nhiều nỗ lực cho việc phát triển lĩnh vực đặc biệt này nhằm đáp ứng
nhu cầu thanh toán của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
1.1 Khái niệm
Thanh toán qua ngân hàng là quan hệ thanh toán được thực hiện và tiến hành bằng
cách trích chuyển một số tiền trên tài khoản của cá nhân, tổ chức này sang tài khoản của cá
nhân, tổ chức khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia thanh toán thông qua hệ
thống ngân hàng. Ngân hàng là người cung ứng dịch vụ thanh toán.
Nếu việc thanh toán diễn ra trong phạm vi một quốc gia thì được gọi là thanh toán
trong nước, nếu việc thanh toán diễn ra vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia thì được
gọi là thanh toán quốc tế.
1.2 Đặc điểm
Thanh toán qua ngân hàng có các đặc điểm cơ bản sau:
Thanh toán qua ngân hàng là thanh toán chuyển khoản, không có sự xuất hiện
của tiền mặt.
Thanh toán qua ngân hàng là thanh toán chuyển khoản, diễn ra thông qua việc ghi
tăng hay giảm tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức, cá nhân liên quan tại
ngân hàng. Vì vậy, thanh toán qua ngân hàng không có sự xuất hiện của tiền mặt và tiền
chỉ xuất hiện dưới hình thức tiền ghi sổ, được ghi chép trên các chứng từ, sổ sách kế toán
và được gọi là tiền chuyển khoản.
Ngân hàng là trung gian thanh toán.
Trong thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp thường chỉ có 2 chủ thể tham gia là người
phải thanh toán (người mắc nợ, người mua) và người thụ hưởng (người chủ nợ, người bán).
Nhưng để thanh toán được qua ngân hàng, ngoài 2 chủ thể trên còn có thêm chủ thể thứ ba
là ngân hàng.
Khi thực hiện thanh toán, ngân hàng đóng vai trò là trung gian giữa người có nghĩa
vụ thanh toán và người thụ hưởng. Khi nhận được yêu cầu thanh toán, ngân hàng tiến hành
Đối với ngân hàng:
Ngân hàng có thể gia tăng nguồn vốn huy động và sử dụng nguồn vốn này với chi
phí thấp. Để thực hiện thanh toán qua ngân hàng thì khách hàng phải có tài khoản tiền gửi
thanh toán mở tại ngân hàng. Đây là một kênh huy động vốn của ngân hàng. Mặc dù số dư
trên các tài khoản này biến động thường xuyên nhưng nó vẫn duy trì một tỷ lệ ổn định và
đặc biệt là ngân hàng có thể trả lãi rất thấp hoặc không trả lãi cho nguồn vốn huy động này.
Ngân hàng có thể sử dụng nguồn này để cấp tín dụng cho khách hàng với một tỷ trọng nhất
định theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài ra, thanh toán qua ngân hàng còn mang lại thu nhập cho ngân hàng từ việc thu
phí dịch vụ. Ngân hàng có thể thu được phí khi thực hiện thanh toán cho khách hàng. Dịch
vụ thanh toán qua ngân hàng càng hiện đại, càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì
thu nhập của ngân hàng từ phí dịch vụ sẽ càng nhiều.
Bên cạnh đó, khi cung ứng có chất lượng dịch vụ thanh toán thì ngân hàng có thể tạo
và giữ được mối quan hệ tốt với khách hàng.Nếu khách hàng hài long với dịch vụ thanh
toán của ngân hàng thì khách hàng sẽ tiếp tục sử dụng nhiều sản phẩm, dịch vụ khác của
ngân hàng để gia tăng tiện ích của mình. Từ đó, mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng ngày càng được củng cố. Hơn thế nữa khi hài long với dịch vụ thanh toán ngân hàng
cung cấp, khách hàng sẽ mở rộng phạm vi thanh toán của mình với các đối tác qua tài
khoản tiền gửi thanh toán mở tại ngân hàng. Thông qua đó, ngân hàng sẽ có thêm thông tin
về các đối tác của khách hàng mình để có thể tiếp cận và thiết lập mối quan hệ mới, mở
rộng khối lượng khách hàng của mình.
Đối với nền kinh tế:
Thanh toán qua ngân hàng giúp tiết kiệm được các chi phí lưu thông tiền mặt trong
nền kinh tế như chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm, bảo hiểm rủi ro, chi phí in ấn
tiền… Đồng thời, thanh toán qua ngân hàng được thực hiện bằng cách ghi sổ nên hạn chế
được rủi ro lưu thông tiền mặt.
Việc thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông,
góp phần kiểm soát lạm phát. Các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt đều được lưu
lại trên sổ sách kế toán tại ngân hàng nên ngân hàng dễ dàng kiểm soát hoạt động của các
đơn vị thuộc nhiều ngành kinh tế khác nhau.
tập thể, cá thể, các tổ chức đoàn thể, xã hội.
Cá nhân (các thể nhân): mọi thể nhân đều có quyền sử dụng dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng.
1.4.2 Phạm vi áp dụng:
Nếu phân chia theo lãnh thổ, hoạt động thanh toán bao gồm:
Thanh toán trong nước: là hoạt động thanh toán trong phạm vi một nước. Tất cả
các NHTM Việt Nam đều có thể cung ứng dịch vụ thanh toán quốc nội.
Thanh toán quốc tế: là hoạt động thanh toán vượt ra khỏi biên giới của một quốc
gia. Chỉ những NHTM nào có đủ điều kiện về mạng lưới, cơ sở kỹ thuật, đội ngũ
chuyên môn, được NHNN cấp giấy phép hoạt động ngoại hối mới được thực hiện
dịch vụ thanh toán quốc tế.
1.4.3 Tài khoản thanh toán:
Tất cả các doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân Việt Nam…
(gọi chung là các tổ chức, cá nhân) được phép lựa chọn ngân hàng để mở tài khoản thanh
toán; riêng các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị vũ trang mở tài khoản tại Kho bạc
Ngân hàng Nhà nước để thanh toán. Việc mở tài khoản thanh toán và thực hiện thanh toán
phải phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
Loại tài khoản, tính chất của tài khoản, điều kiện, thủ tục mở, sử dụng tài khoản
thanh toán do ngân hàng thương mại và các tổ chức cung ứng dịch vụ quy định, phù hợp
với quy định của Ngân hàng Nhà nước và pháp luật hiện hành.
Tất cả các chủ tài khoản phải đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản tại thời điểm thanh
toán để chi trả theo lệnh của chủ tài khoản hoặc theo thỏa thuận giữa chủ tài khoản với
ngân hàng. Trường hợp chủ tài khoản được ngân hàng cung ứng dịch vụ thấu chi thì phải
có thỏa thuận bằng văn bản và quy định rõ hạn mức thấu chi.
Các giao dịch thanh toán có liên quan đến ngoại hối đều phải tuân thủ các quy định
hiện hành về quản lý ngoại hối của Việt Nam.
1.4.4 Lệnh thanh toán và chứng từ thanh toán:
Lệnh thanh toán: là lệnh của các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán đối
với các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (NHNN, NHTM…) dưới các hình
thức khác nhau (chứng từ giấy, chứng từ điện tử) để yêu cầu thực hiện giao dịch
do bằng cách trao tay.
Căn cứ vào tính chất sử dụng:
Séc chuyển khoản: là loại séc chỉ được dùng để thanh toán theo lối chuyển khoản
bằng cách ghi có vào các tài khoản liên quan. Trên tờ séc có cụm từ “trả vào tài khoản…”,
người thụ hưởng chỉ được trả tiền bằng chuyển khoản chứ không nhận tiền mặt được.
Séc tiền mặt: là loại séc mà người thụ hưởng được quyền rút tiền mặt hoặc được
thanh toán bằng chuyển khoản.
2.1.1.3 Những nguyên tắc chung
Việc phát hành, sử dụng và thanh toán séc được thực hiện theo Luật Các công cụ
chuyển nhượng số 49/2005/QH11 do Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ
ngày 01/07/2006, và quyết định số 30/2006/QĐ-NHNN ngày 11/07/2006 về quy chế cung
ứng và sử dụng séc.
Thủ tục cung ứng séc
Khi có nhu cầu sử dụng séc, chủ tài khoản hoặc người được ủy quyền lập giấy đề
nghị cung ứng séc nộp cho tổ chức cung ứng séc.
Tổ chức cung ứng kiểm tra điều kiện của người đề nghị cung ứng séc.
Trước khi giao séc cho khách hàng, tổ chức cung ứng séc trắng phải chịu trách nhiệm
in, dập chữ hoặc ghi sẵn nội dung các yếu tố: số séc, tên người bị ký phát, tên người ký
phát,…
Các yếu tố của séc và điều kiện thanh toán séc:
Tờ séc phải được lập trên mẫu séc trắng do người bị ký phát cung ứng.
Những yếu tố trên tờ séc phải được in hoặc ghi rõ bằng bút mực hoặc bút bi, không
viết bằng bút chì hoặc bút đỏ, không sửa chữa, tẩy xóa. Chữ viết là tiếng Việt, trường hợp
séc có yếu tố nước ngoài thì séc có thể sử dụng tiếng nước ngoài theo thỏa thuận của các
bên.
Số tiền bằng số và bằng chữ phải khớp đúng. Số tiền bằng số viết bằng chữ Ả Rập.
Số tiền bằng chữ viết rõ nghĩa, chữ đầu phải viết hoa và viết sát dòng đầu tiên.
Ngày ký phát là ngày mà người ký phát ghi trên tờ séc.
Chữ ký của người ký phát phải là chữ ký bằng tay trực tiếp trên tờ séc theo mẫu đã
đăng ký tại người bị ký phát.
(4b) Đơn vị thanh toán ghi có tài khoản người thụ hưởng hoặc cho người thụ hưởng
rút tiền mặt.
2.1.2 Thanh toán bằng ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi:
2.1.2.1 Khái niệm:
Ủy nhiệm chi là lệnh chi do chủ tài khoản lập trên mẫu in sẵn để yêu cầu ngân hàng hoặc
kho bạc nơi mình mở tài khoản trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho
người thụ hưởng về tiền hàng hóa dịch vụ hoặc chuyển vào một tài khoản khác của chính
mình.
2.1.2.2 Quy trình lập chứng từ và thanh toán:
Chú thích:
(1) Bên bán giao hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ cho bên mua.
(2) Bên mua lập ủy nhiệm chi theo mẫu gửi đến ngân hàng phục vụ mình để thanh
toán tiền hàng hóa dịch vụ cho bên bán.
(3) Ngân hàng bên mua kiểm tra ủy nhiệm chi do bên mua chuyển đến, nếu hợp lệ thì
trích tiền trên tài khoản của bên mua để trả tiền cho bên bán.
(4) Ngân hàng bên bán ghi có vào tài khoản của bên bán.
2.1.3 Thanh toán bằng ủy nhiệm thu:
2.1.3.1 Khái niệm:
Ủy nhiệm thu là thể thức thanh toán được tiến hành trên cơ sở giấy ủy nhiệm thu và các
chứng từ hóa đơn do người bán lập, chuyển đến ngân hàng để yêu cầu thu hộ tiền từ người
mua, với điều kiện hai bên mua bán phải thống nhất với nhau, và phải thông báo cho ngân
hàng về việc áp dụng thể thức ủy nhiệm thu để ngân hàng làm căn cứ tổ chức thực hiện
thanh toán.
2.1.3.2 Quy trình thanh toán bằng ủy nhiệm thu:
Chú thích:
(1) Căn cứ vào hợp đồng đã ký bên bán tiến hành gửi hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho
bên mua.
(2) Bên bán lập UNT(4liên) kèm theo các hóa đơn, vận đơn liên quan gửi đến ngân
hàng phục vụ mình, hoặc gửi trực tiếp đến ngân hàng phục vụ người mua (2’) để nhờ
của mình trong hạn mức cho phép (thấu chi), trường hợp này gọi là thẻ ghi nợ.
Thẻ tín dụng: là loại thẻ áp dụng cho những khách hàng có đủ điều kiện được ngân
hàng phát hành thẻ cho vay vốn để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ. Khách hàng
sau khi ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng sẽ được ngân hàng cấp thẻ tín dụng với
một hạn mức tín dụng để thanh toán với người bán. Sau khi sử dụng thẻ khách hàng
phải trả nợ gốc cho ngân hàng phát hành thẻ trong thời gian quy định.
2.1.4.3 Quy trình thanh toán bằng thẻ ngân hàng
Chú thích:
(1a) Người sử dụng thẻ liên hệ với ngân hàng phát hành thẻ.
(1b) Ngân hàng phát hành thẻ phát hành và cung cấp thẻ thanh toán cho khách hàng
theo từng loại phù hợp với đối tượng và điều kiện đã quy định.
(2) Người sử dụng thẻ liên hệ mua hàng hóa dịch vụ của các công ty, xí nghiệp đồng ý
tiếp nhận thanh toán bằng thẻ.
(3) Trong 10 ngày làm việc, người tiếp nhận thẻ cần nộp biên lai vào ngân hàng đại lý
dể đồi tiền kèm theo các hóa đơn chứng từ hàng hóa có liên quan.
(4) Trong phạm vi 1 ngày làm việc kể từ khi nhận được biên lai và chứng từ hóa đơn,
nếu hợp lệ, ngân hàng đại lý trả tiền cho người tiếp nhận theo số tiền phản ánh ở biên
lai.
(5) Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ lập bảng kê và chuyển biên lai đã thanh toán cho
ngân hàng phát hành thẻ.
(6) Ngân hàng phát hành thẻ hoàn lại số tiền mà ngân hàng đại lý đã thanh toán trên cơ
sở các biên lai hợp lệ.
(7) Ngân hàng phát hành và người sử dụng hoàn tất quy trình sử dụng thẻ.
Với những phương thức thanh toán trong nước đã nêu trên, tại Việt Nam, việc ứng dụng
các phương thức này đang ngày càng trở nên phổ biến. Thập kỷ đầu tiên trong thế kỷ 21,
thị trường Việt Nam đã chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ trong thanh toán không dùng
tiền mặt với sự ra đời của nhiều phương tiện và dịch vụ thanh toán mới, hiện đại, tiện ích
đáp ứng được các nhu cầu của người sử dụng với phạm vi tiếp cận mở rộng tới các đối
tượng cá nhân và dân cư. Từ nền tảng thanh toán hoàn toàn thủ công (mọi giao dịch thanh
toán đều dựa trên cơ sở chứng từ giấy) chuyển dần sang phương thức xử lý bán tự động sử
Tuy nhiên, việc mở rộng và sử dụng tài khoản thanh toán qua ngân hàng trong khu vực dân
cư vẫn còn ở mức khiêm tốn. Tỷ trọng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán có xu
hướng giảm dần từ mức 23,7% năm 2001 xuống còn 13% - 15% năm 2010 nhưng vẫn còn
cao so với thế giới. Tỷ trọng này ở các nước phát triển như Thụy Điển là 0,7%; Na Uy là
1%, còn ở các nước đang phát triển như Trung quốc cũng chỉ ở mức 9,7%, Thái Lan là
6,3%.
Một số nguyên nhân của vấn đề hạn chế trong thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt
Nam có thể kể đến như sau:
- Thói quen sử dụng tiền mặt của người dân
Nhiều người dân còn mang tấm lý “để tiền trong tài khoản ngân hàng thì không yên tâm”.
Còn không ít người dân cho rằng, cứ phải tiền trong tay mới là tiền của mình, còn để trong
tài khoản thì không biết thế nào. Trong mua sắm cũng vậy, phần đông người mua và người
bán vẫn quen thực hiện theo phương thức thanh toán bằng tiền mặt ngay khi giao hàng, vì
người tiêu dùng lo ngại khi mua hàng qua mạng có thể sẽ mua phải sản phẩm không dùng
được hoặc chất lượng không đạt như mong muốn hoặc thậm chí là không nhận được hàng
hoá mặc dù tiền đã được chuyển khoản, trong khi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của
Việt Nam vẫn chưa thực sự hiệu quả. Ngoài ra, niềm tin của người dân vào chiếc máy
ATM cũng còn thấp sau không ít những vụ việc mất an ninh, giao dịch bị lỗi, đánh cấp mã
pin, máy ATM bị rò rĩ điện nên người dân cũng ngại thực hiện các giao dịch trên máy
ATM. Khoảng 80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt và cũng vì thế chiếc máy ATM ở
Việt Nam được gọi là máy rút tiền tự động trong khi bản chất của ATM là máy giao dịch
tự động.
- Những bất cập trong hành lang pháp lý
Thời gian qua, mặc dù hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán đã cải thiện khá nhiều
song vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thanh toán điện
tử và thương mại điện tử. Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội thông qua ngày
19/11/2005 nhưng vẫn chưa đủ cơ sở để các ngân hàng tổ chức triển khai các kênh giao
dịch điện tử vì chưa tạo được một cơ chế tổng hợp điều chỉnh hoạt động thương mại điện
tử trong ngành ngân hàng, chưa có sự chấp nhận đồng bộ giao dịch điện tử, chứng từ điện
tử giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan (như Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải
sự thiếu thống nhất trong hệ thống các thiết bị tiếp nhận thẻ tại Việt Nam. Người dùng thẻ
thanh toán tại Việt Nam gặp khó khăn do hệ thống chấp nhận thẻ của các ngân hàng chưa
có sự liên thông đầy đủ. Thực tế hiện nay ở một số trung tâm mua sắm và siêu thị có trang
bị POS nhưng lượng khách thanh toán qua thẻ chỉ đếm trên đầu ngón tay bởi các máy POS
này chỉ chấp nhận thẻ VISA và Master chứ chưa dùng được cho các thẻ nội địa, vì thế gây
bất tiện cho người dùng.
Thời gian gần đây, trước sự đòi hỏi của thị trường và cạnh tranh trong dịch vụ ngân hàng,
tình hình đầu tư và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng đã được cải
thiện. Tuy nhiên, vì trong phát triển hoạt động thanh toán, vốn đầu tư đòi hỏi rất lớn mà
thời gian thu hồi lại lâu mà hiệu quả đầu tư cũng chưa đạt hiệu quả như mong muốn, nên
thường các ngân hàng lớn mới có khả năng tập trung vốn đầu tư trang thiết bị phục vụ hoạt
động thanh toán.
2.2 Thanh toán quốc tế:
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh giữa các tổ chức hay cá
nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác để hoàn thành các quan hệ kinh tế,
thương mại, quan hệ xã hội, ngoại giao Thanh toán quốc tế đóng một vai trò rất quan
trọng, đặc biệt là trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay khi các quan hệ hợp tác quốc tế
ngày càng được mở rộng. Không nằm ngoài xu hướng đó, các ngân hàng Việt Nam đã
không ngừng phát triển, đa dạng hóa các dịch vụ thanh toán quốc tế của mình.
Trong thanh toán quốc tế, người ta sử dụng nhiều loại phương tiện thanh toán khác nhau,
có thể kể đến như:
Hối phiếu:
Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho một người
khác yêu cầu người này khi nhận tờ phiếu phải trả ngay hoặc phải ký chấp nhận trả tiền ghi
trên hối phiếu tại một ngày xác định.
Hối phiếu là một phương tiện thanh toán quốc tế phổ biến được sử dụng và luân chuyển
rộng rãi nhờ phương pháp ký hậu. Bên cạnh đó, như chúng ta cũng đã biết cùng với sự
phát triển của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, được sự đảm bảo chi trả của
ngân hàng ( là phát hành tín dụng thư, ngân hàng xác nhận ), hối phiếu đã và đang được
sử dụng trong hoạt động thanh toán tế một cách tin cậy.
Ngân hàng chuyển ền
Người yêu cầu
chuyển ền
Người hưởng lợi
Ngân hàng trả ền
4
3 2
1
6
5
thông tin cũng như hoạt động thương mại điện tử. Cùng với sự ra đời và phát triển của các
hình thức bảo mật tiên tiến như vạch từ, CHIP, thẻ thanh toán ngày càng trở thành một
công cụ thanh toán khá phổ biến hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt mang lại nhiều
tiện ích trong cuộc sống. Chính vì lẽ đó, hầu hết các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
hiệnnay đều thực hiện ký kết các hợp đồng hợp tác liên kết với các thương hiệu thẻ quốc tế
phổ biến như Master, Visa, UnionPay cho ra đời các sản phẩm thẻ thanh toán theo tiêu
chuẩn quốc tế đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng của khách hàng.
Tóm lại, mỗi một phương tiện thanh toán đều có những ưu và nhược điểm khác nhau phù
hợp cho hoạt động kinh tế hay phi kinh tế. Do đó, tùy theo từng trường hợp mà mỗi
phương tiện thanh toán trên được sử dụng hay không.
Nhằm để xử lý các mối quan hê giữa các bên liên quan đến việc thanh toán theo một trinh
tự nhất định, người ta sử dụng một trong những phương thức thanh toán sau:
2.2.1 Phương thức chuyển tiền:
Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người yêu cầu chuyển
tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người
hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định.
Quy trình chuyển tiền bằng điện
Chú thích:
(1) Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng cung cấp dịch vụ hàng
hóa hoặc các thỏa thuận.
(1) Người xuất khẩu hoặc người cung ứng dịch vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ và gửi
trực tiếp chứng từ giao hàng cho người nhập khẩu.
(2) Người xuất khẩu hoặc người cung ứng dịch vụ ký phát một hối phiếu, một hóa đơn đòi
tiền người nhập khẩu và viết lệnh nhờ thu ủy thác cho ngân hàng nước mình thu tiền từ
người nhập khẩu.
(3) Ngân hàng chuyển ủy thác cho ngân hàng đại lý của nước mình ở nước người nhập
khẩu bằng thư nhờ thu và kèm với hối phiếu hoặc hóa đơn yêu cầu ngân hàng này thu tiền
từ người nhập khẩu.
(4) Ngân hàng đại lý xuất trình hối phiếu hoặc hóa đơn yêu cầu người nhập khẩu trả tiền
nếu là hối phiếu trả tiền ngay, hoặc chấp nhận trả tiền nếu là hối phiếu trả chậm.
(5) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người hưởng lợi, nếu nhờ thu hối trả chậm
thì ngân hàng sẽ chuyển trả hối phiếu đã được người nhập khẩu ký chấp nhận thanh toán.
(6) Ngân hàng đại lý báo có tài khoản của ngân hàng chuyển.
(7) Ngân hàng chuyển báo có tài khoản của người hưởng lợi.
Theo phương thức thanh toán này, ta thấy phương thức nhờ thu trơn không đảm bảo quyền
lợi của bên bán: Nhà xuất khẩu giao hàng và gửi trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu.
Như vậy thông thường hoạt động này diễn ra trước thời điểm thanh toán. Đây có thể là một
bất lợi cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán tiền hàng nhưng đã nắm giữ
được chứng từ để nhận hàng từ nhà chuyên chở nhưng sau đó cố ý chiếm dụng vốn, thanh
toán chậm, thiếu, từ chối thanh toán. Ngân hàng chỉ là một tổ chức trung gian thu hộ và có
thể bị nhà nhập khẩu từ chối. Vì vậy, trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế cần hạn
chế áp dụng phương thức này. Nếu áp dụng phương thức thanh toán này, thì chỉ nên áp
dụng khi cả hai bên là đối tác tin cậy của nhau, giá trị hàng hóa nhỏ , thăm dò thị trường ,
hàng hóa ứ đọng khó tiêu thụ… đồng thời trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần
có các chế tài nghiêm ngặt để bảo đảm nhà nhập khẩu thanh toán.
Trong phương thức nhờ thu hối phiếu trơn ngân hàng cũng chỉ đóng vai trò trung gian
trong thanh toán.Phương thức thanh toán này ít được sử dụng trong thanh toán thương mại
quốc tế vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu.
2.2.2.2 Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection)
Phương thức nhờ thu có kèm theo chứng từ là một trong các phương thức thanh toán áp
(5) Người trả tiền chấp nhận hay từ chối thanh toán.
(6) Ngân hàng thu thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán.
(7) Ngân hàng chuyển thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán.
Trong phương thức này, nhà xuất khẩu không giao trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu.
Nhà nhập khẩu phải trả tiền thì Ngân hàng mới giao chứng từ để mang chứng từ đi nhận
hàng. Như vậy, phương thức này bảo vệ được lợi ích của nhà xuất khẩu, tránh được tình
trạng bị nhà nhập khẩu chiếm dụng vốn, chậm thanh toán, thanh toán không đầy đủ hoặc từ
chối thanh toán.
Như vậy, trong phương thức nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ, người xuất khẩu ngoài việc
uỷ thác cho ngân hàng thu tiền mà còn nhờ ngân hàng thông qua việc khống chế bộ chứng
từ hàng hoá để buộc người nhập khẩu phải trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. Nhờ vậy
phương thức này dảm bảo khả năng thu tiền hơn phương thức chuyển tiền và nhờ thu hối
phiếu trơn. Đã có sự ràng buộc chặc chẽ giữa việc thanh toán tiền và việc nhận hàng của
bên mua. Tuy nhiên việc bên mua có nhận hàng và thanh toán hay không vẫn tuỳ thuộc
vào thiện chí của người mua, như vậy quyền lợi của bên bán vẫn chưa được bảo đảm.
2.2.3 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng
mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một
số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng hoặc chấp
nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho
ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín
dụng.
Thư tín dụng (Letter of credit- L/C): là một bản cam kết dùng trong thanh toán, trong đó
một ngân hàng (ngân hàng phục vụ người nhập khẩu) theo yêu cầu của người nhập khẩu
tiến hành mở và chuyển đến cho chi nhánh hay đại lý của ngân hàng này ở nước ngoài
(ngân hàng phục vụ người xuất khẩu) một L/C cho người hưởng lợi (người xuất khẩu) cam
kết sẽ thanh toán một số tiền nhất định trong phạm vi thời hạn quy định, với điều kiện
người hưởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với nội dung, điều kiện quy định
trong thư tín dụng.
Trình tự tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ