tiểu luận những vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu của sự đổi mới và cách tân - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC


TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ SỰ THAY ĐỔI

ĐỀ TÀI :
NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT LÕI TRONG
NGHIÊN CỨU CỦA SỰ ĐỔI MỚI VÀ
CÁCH TÂN

Thầy hướng dẫn :
TS. Nguyễn Hữu Lam
ThS. Trần Hồng Hải
Nhóm 1:
1. Đào Hùng Anh
2. Trần Thái Bảo
3. Huỳnh Gia Xuyên
4. Nguyễn Thành Sơn
-1-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT LÕI TRONG NGHIÊN CỨU CỦA SỰ ĐỔI
MỚI VÀ CÁCH TÂN.
Quyển sách này chứa đựng các vấn đề đậm chất lý thuyết, đứng trên góc độ
phân tích từng phần riêng biệt và sẽ dọc thời gian với quá trình thay đổi và
đổi mới một cách trải rộng. Giống như các lý thuyết khác, điểm quan trọng
nhất khi nhìn vào là sự đa dạng về ý tưởng và các thành phần của vấn đề
này. Nhưng khi chúng ta nhìn lại xa hơn, về chuẩn mực và vấn đề trung tâm
thì vấn đề này là khâu chính của chương này.
Thông suốt cuốn sách ba câu hỏi cơ bản được thể hiện chúng như sau:

M ột người có thể trả lời câu hỏi này như thế nào dựa trên lý thuyết về sự
thay đổi và cách tân của tổ chức. Coi vị trí của sự thay đổi cần một lý thuy ết
nói lên diện mạo của sự thay đổi và cách tân và để làm lệch đi sự chú ý của
các lý thuyết khác. Sự thay đổi là một hiện tượng đa dạng mà các phương
pháp đều cố gắn giới hạn chúng. Nhưng khi nhìn vào với từng mặt của vấn
đề chúng ta có thể thấy một số câu trả lời rất nổi bật, nhưng ở đây chúng tôi
sẽ trả lời câu hỏi này với ba lời giải đáp. Mỗi câu trả lời sẽ tập trung trên
từng khía cạnh một của sự thay đổi và cách tân. Trong khi không có câu trả
lời nào là hoàn thiện cho mọi góc cạnh của sự thay đổi cả. N hưng nếu t ập
trung chúng lại thì chúng ta có thể chỉ ra một lý thuyết cho sự thay đổi và
cách tân.

Lý thuyết của sự thay đối với lý thuyết thay đổi.
Định nghĩa chủ yếu của sự thay đổi và cách tân là mô tả vai trò của con
người trong các quy trình. Theo Binnis’s (1966) có sự vượt trội trong các lý
thuyết, đã tập trung vào vấn đề thế nào là sự thay đổi của tổ chức và tìm ra
các nhân tố của sự thay đổi, và lý thuy ết thay đổi thì đã đề cập đến sự thay
đổi có thể như thế nào và bằng cách nào có thể quản lý được chúng trong tổ
chức đã tỏ ra rất hữu ích. Cách đề cập này đã chỉ ra vai trò của con người
trong sự thay đổi của tổ chức trong điều kiện tập trung vào việc có hay
không có hoạch định về thay đổi đã bàn bạc bởi Seo tại chương 4. Hoạch
định sự thay đổi là một sự hình thành có chủ ý và hoạch định sự thay đổi có
hiệu quả như thế nào trong lý thuy ết sự thay đổi. Có một quy cách để thực
hiện hoạch định sự thay đổi; thay đổi để cải thiện hiện trạng và đạt đến một
điểm mà có trạng thái ổn định hơn. Mặt khác, sự không hoạch định có thể có
-3-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
hay không ảnh hưởng bởi nhân tố con người. Nó có thể làm cho tổ chức có
thể đạt đến một trạng thái tốt hay xấu. Sự tương phản giữa hoạch định và
không hoạch định sự thay đổi tập trung vào sự chú ý ở sự suy giảm trong

khác trong sách bàn về sự thay đổi, như woodman và Dewett trong tường sự
thay đổi ở (chương 2) và Seo trong hoạch định sự thay đổi của tổ chức
(chương 4). Drazin Logic của tổ chức (chương 6). Bởi vì lý thuyết của logic
học là lý thuyết của sự thay đổi nhưng các nhà quản trì và các nhà hoạt động
trong sự thay đổi cũng xem logic là mục tiêu hay m ục đích của sự thay đổi
trong tổ chức.
Lý thuyết của sự thay đổi và cách tân trong tổ chức làm một lý thuyết khoa
học, hơn làm m ột vấn đề về thực hành. Như vậy vấn đề này có ưu điển cho
các nhà nghiên cứu có thể sử dụng nếu họ có thể hiểu được sự thay đổi và
phát triển. Như vậy các nhân tố và quy trình trong nghiên cứu sự thay đổi có
thể được nhận thấy rỏ. Theo Pfeffer (1982, p.37) đưa ra ý tưởng, “ Thừa kế
định nghĩa thuộc về người quản trị là cái gì? là vấn đề quan trọng, cái gì là
biến thiên, và đôi khi làm thế nào để đo sự biến thiên t hay đổi có thể làm
giảm đi các nhân tố giải thích và lối nói của vấn đề theo hướng mà chúng
không hữu dụng trong khoa học.” theo cách tiếp cận này thì học thuật thuần
túy có vẽ có hiệu quả.
M ặt dầu vậy, yêu cầu rộng hơn có thể tạo ra được các lý thuyết mà có thể có
liên quan ít nhiều đến thực tế. Quy trình diễn tả trong mối quan hệ rộng và lý
thuyết về sự thay đổi. Rất khó để kiểm soát hay đạt được một cách nhanh
chóng. Số đông và tổ chức riêng lẽ và các thành viên thì có rất ít kể đến,
miêu tả như một vật thể được thả ra giữa biển với quá ít khả năng mà chúng
có tồn tại. M ột số bài học trong bài viết này cho việc tạo lại hình thể và hành
động để đối mặt với tình trạng thực tế này, nhưng nhiều phần của bài viết
theo mối liên hệ của các nhà làm luật của chính phủ và các chiến lược lâu
dày cho các nhà quản trị. Những lời khuyên rằng các nhà quản trị và các
chuyên gia về thay đổi phải nhận biết được sự khó khăng như thế nào của
sự thay đổi và cách tân để có thể quản lý được chúng, những quy trình thay
đổi này có thể s ẽ diễn biến theo một chiều hướng mà không được chờ đón.
Giá trị mà có thể nhìn thấy ở đây có lẽ là vấn đề này nhưng rất khó có thể trở
nên hữu ích cho các nhà quản trị nhận ra cách làm thế nào để quản lý được

thể được bàn bạc bởi woodman và Dewett ( chương 2).
- Lý thuyết nhấn mạnh trạng thái cân bằng (được bàn trong trong nhiều
chương).
- Lý thuy ết về luận lý của tổ chức ( chương 6).
-6-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
- Các lý thuyết thời kỳ đầu và sau của hoạch định sự thay đổi được bàn
bởi Seo et al. (chương 4).
- Lý thuy ết lựa chọn chiến lược (Lewin et al, chương 5)
- Sự tiến hóa kinh tế (chương 5).
- Lý thuy ết của Schein về thay đổi văn hóa (chương 7).
- Hầu hết các quy luận hành động thu thập được bàn bởi Ven và
Hargrave (chương 9).
- Lý thuy ết của Greenwood về sự thay đổi trong lĩnh vực tổ chức (
chương 10).
Lý thuy ết về sự thay đổi liên tục bao gồm:
- Sự tương t ác giữa cá nhân và xã hội đến sự thay đổi thành phần
(woodman và D ewett chương 2).
- Lý thuy ết về học hỏi trong tổ chức được bàn bởi Seo (chương 4) và
Lewin (chương 5).
- Lý thuy ết ngẫu nhiên (chương 5).
- Lý thuyết mối quan hệ cộng đồng và tổng thể (Baum và Rao, chương
8).
- Lý thuy ết của Hatch về sự thay đổi văn hóa (chương 7).
- Thiết kế tổ chức và nghệ thuật truyền thông được bàn bởi Van de Ven
và Hargrave (chương 9).

-7-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
Bảng 1.1 : So sánh giữa thay đổi gián đoạn và thay đổi liên tục Vai trò của tác
nhân sự thay đổi.

Tổ chức là thiên về sự không
muốn thay đổi và t hay đổi là
không thường xuyên, không
liên tục và không chủ tâm.
.
Thay đổi là xảy ra một cách
thỉnh thoản hay có tính phân
kỳ từ trạng thái cân bằng. Do
bên ngoài tác động. Có sự
không thích hợp cho tổ chức
cho việc thích ứng với môi
trường của sự thay đổi.

Viển cảnh: Vĩ mô, khoản
cách, toàn cầu.
Tầm quan trọng: dung trong
thời kỳ ngắn.
Khái niệm quan trọng: sự trì
trệ, cấu trúc sâu hay tương
quan, khởi sự, thay thế, tính
gián đoạn, cách mạng.

Không phương hướng
của các xu thế hiện hữu,
-8-
QTSTD-NHÓM1-MBA8 Nguồn khởi xướng: N gười
tạo ra hay đổi được tìm thấy
điểm của đòn bẫy trong tổ
chức. Tác nhân thay đổi thay
đổi hệ thống đo lường, giản
đồ . thay đ
ổi l
à vòng l
ặp,
quy trình không có kết
thúc, luôn vận động và
tồn tại vĩnh cửu. Ý thức của người tạo
dựng là người nhận
dạng sự thay đổi. Tác
nhân thay dổi nhận biết,
tạo ra sự đáng chú ý,
chuyển đổi và học tập.

trình của sự phát triển, mở ra một chuỗi khác nhau cho các sự kiện thay đổi,
và cho việc chi phối với các cơ chế khác nhau được sinh ra hay các động
lực. - M ô hình vòng đời mô tả quy trình của thay đổi trong thực tế như một
quy trình thông qua quy trình cần thiết của giai đoạn hay thời kỳ. Bài
viết đặc biệt về giai đoạn và thời kỳ được đặt ra và quy định bởi tổ
chức, bắt đầu của một vòng lặp.
Thuy
ế
t ti
ế
n h
ó
a

Thuy
ế
t v
ò
ng
đ

i

Thuy
ế
t
m

trong tổng thể. Vòng tiến triển này được xây dựng bởi sự tranh đua
giữa các thực thể hiện hữu trong tổng thể.
Bốn lý thuyết đó có thể được biểu lộ thông qua hai hướng. Chỉ số đo lường
sự thay đổi, các câu hỏi về sự thay đổi được trình bài trong các hành động
của từng thực thể riêng biệt hay đa thực thể? Sự tiến hóa và lý thuyết biện
chứng vận hành trên đa thực thể. Sức mạnh của sự tiến hóa được định nghĩa
trong vấn đề chúng ảnh hưởng cho tổng thể và khống có ý nghĩa xa ở mức
độ của thực thể đơn lẽ. Lý thuyết biện chứng đòi hỏi ít nhất hai thực thể để
đưa vào vai trò của luận đề và phản đề. M ặt khác, lý thuyết vòng đời và lý
thuyết mục đích luận vận hành trên thực thể đơn. Trong trường hợp mô hình
vòng đời, sự phát triển được giải thích như phương trình của tiềm năng nội
tại trong thực thể. Trong khi thực thể môi trường và các thực thể khác có thể
tự chúng định hình một cách nội tại, chúng phụ thuộc vào tiềm năng nội tại
một cách nghiêm khắc. Sự thúc đẩy thực tế cho sự phát triển đến từ bên
trong thực thể đơn, cho toàn bộ quy trình phát triển của thực thể. Lý thuy ết
về cứu cánh, cũng vậy, yêu cầu chỉ mục tiêu của một thực thể, sự xây dựng
xã hội, để giải thích cho sự phát triển. Lý thuyết cứu cánh có thể vận hành
trong nhiều thành viên của tổ chức hay một nhóm tổ chức khi có sự thống
nhất giữa các cá nhân cho phép chúng cá thể hành động trong các thực thể tổ
-11-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
chức độc lập. t huyết cơ học tổng quát của bốn quy trình lý thuyết cũng có
nhiều điểm khác nhau theo chiều thứ hai theo cách quy trình của sự thay đổi
được phải được tiên nghiệm hay quy trình được xây dựng và nảy sinh như
một quy trình của sự thay đổi được m ở ra. Phương thức ra lệnh của kênh
thay đổi phát triển của thực thể trong hướng thứ cấp, sự tồn tại và phỏng
theo kinh điển có sự hình thành của chúng trong các định nghĩa theo cách có
thể đếm được. Phương thức xây dựng của sự thay đổi sinh ra một cách vô
tiền lệ, trong sự nghiên cứu quá khứ thường không liên tục và không thể
đoán trước được sự khởi đầu trong quá khứ. Động lực ra lệnh gợi lên một

đổi ã hội (chương 7 và 13). Các công trình nghiên cứu khác dựa trên mô
hình biện chứng trong đó gồm Farjoun (2002) và Smith và Berg (1987).
Hơn thế nữa, lý t huyết về sự thay đổi không luôn luôn được xây dựng chỉ
trên một động lực. Van de Ven và Poole (1995) cũng đã bàn rằng sự kết hợp
của ba động lực đã t ạo ra lý thuyết về sự thay đổi ngược lại, cho thấy sự
phức tạp của quá trình thay đổi và có sự khác biệt hoàn toàn khi ta chỉ xét
đến chỉ một động lực duy nhất tác động cho sự thay đổi, nếu chúng ta cân
nhắt đến một, hai, ba hay bốn động lực thì có lẽ sẽ tạo ra một lý thuy ết khác
về sự thay đổi. Có bằng chứng rằng 16 sự diễn giải của sự thay đổi của tổ
chức là có thể một cách hợp lý và logic. Có thể thấy trên bảng 1.2 là tương
tự để cho ví dụ về sự ảnh hưởng lẩn nhau tạo hiệu ứng cả bốn động lực để
lựa chọn lý thuyết hợp lý trong vấn đề quản trị.
Bốn sự lựa chọn thứ nhất miêu tả “ảnh hưởng chính” của sự tạo ra ảnh
hưởng cơ học dưới lý t huyết: chương trình của lý thuyết vòng đời, ban hành
có mục đích của lý thuyết về thuyết cứu cánh, sự m âu thuẫn và sự đối đầu
của lý thuyết biến chứng, và sự đấu tranh sinh tồn của lý thuyết tiến hóa. Các
“ lý thuyết động lực đơn này” đã tạo ra các trương hợp khi chỉ một của bốn
động lực đó được chọn để vận hành.
M ười hai lựa chọn còn lại miêu tả “ ảnh hưởng của sự tương tác” của vận
hành phụ thuộc lẩn nhau của hai hay nhiều hơn trong bốn nhân tố tác động.
Lựa chọn từ 5 đến 10 được gọi là “ lý thuyết động lực đôi” bởi vì chúng
miêu tả trường hợp khi chỉ có hai trong số bốn nhân tố được vận hành và cho
ra quy trình thay đổi của tổ chức. Lựa chọn từ 11 đến 14 miêu tả “ lý thuyết
ba động lực”, lúc đó ba trong số bốn nhân tố được xét đến sự vận hành có
tương tác cho sự thay đổi của tổ chức. Lựa chọn 15 là “Lý thuyết bốn động
-13-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
lực” đó là trường hợp phức t ạp nhất khi tất cả bốn nhân tố được đưa vào và
tương tác nhau để cho ra một tình trạng nào đó. Cuối cùng, là lựa chọn 16
miêu tả một trường hợp không có hiệu lực, khi không có bất cứ động lực nào

ban hành
Đ

ng l

c có
tính chất xây
dựng giữa
những thực
thể : mâu
thuẫn và
những sự
tổng hợp
Động lực
bắt buộc
giữa những
thực thể :
sự chọn lựa
có tính cạnh
tranh
1. Chu k
ỳ sống
(Cameron và
Whetten, 1983)
có không không không
2. Thuy
ết mục
đích luận (March
và Simon, 1958)
không có không không

1958)
không có có không
7. Sinh t hái h
ọc
cộng đồng
(Astley, 1985)
không không có có
8. Nh
ững mô
hình thích ứng
với sự chọn lựa
(Aldrich, 1979)
có không không có
9. Nh
ững giai
đoạn phát triển
và khủng hoảng
của tổ chức
(Greiner, 1972)
có không có không
10. Tr
ạng thái
cân bằng nhấn
mạnh của tổ
chức (Tushman
và Romanelli,
không có không có
-15-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
1985)


14. Tâm lý xã
h
ội của tổ chức
(Weick, 1979)
có có không có
Nh
ững lý thuyết
bốn động lực

15. Nh
ững quá
trình phát triển
của nhân loại
(Riegel, 1976)
có có có có
16. ?

Thùng
rác (Cohen,
M arch, và Olsen,
1972)
không không không không
Nguồn : phỏng theo Van de Ven và Poole (1995)
Thay đổi thuộc về tổ chức (chương 10), một mô hình chu kỳ sống mô tả cấp
độ tiến bộ về mặt vĩ mô của sự thay đổi, nhưng sự thay đổi được điều khiển
bởi hành động thuộc về thuyết mục đích luận bởi những cá nhân và những tổ
chức. Chương 9 mô tả những lý thuyết của sự thay đổi thuộc về tổ chức
thông qua tập hợp hành động làm thay đổi những tổ chức mà được dựa trên
mâu thuẫn có tính chất biện chứng, mà còn bộc lộ thông qua những giai

“những sự khác biệt mà tạo nên một sự khác biệt” dọc theo thay đổi của
những giảng đường mà thay đổi và sự đổi mới diễn ra.
Nhiều sự giống nhau được nói về câu hỏi thứ hai, ‘‘Cách tiếp cận tốt nhất
cho việc nghiên cứu sự thay đổi và sự đổi mới là gì ?’’
-17-
QTSTD-NHÓM1-MBA8

Những cách tiế p cận để nghiên cứu sự thay đổi và sự đổi mới
M ohr (1982; Poole và những người khác., 2000) lần đầu tiên phân biệt
những cách tiếp cận về thay đổi và những cách tiếp cận về quá trình đối với
những bài nghiên cứu khoa học xã hội, và sự khác biệt khá thuyết phục trong
những bài nghiên cứu về tổ chức. Trong những điều kiện nói chung, một lý
thuyết thay đổi giải thích sự thay đổi dưới dạng những mối quan hệ giữa
những biến độc lập và những biến phụ thuộc, trong khi một lý thuyết quá
trình giải thích một chuỗi những sự kiện ảnh hưởng như thế nào đến một vài
kết quả. Hai cách tiếp cận này thì nhường chỗ cho những khái niệm khác về
sự thay đổi và ám chỉ phải có những tiêu chuẩn khác để đánh giá nghiên cứu
về sự thay đổi và sự đổi mới. Hình vẽ 1.2 cung cấp một bức tranh về sự so
sánh giữa hai cách tiếp cận này.
M ột lý thuyết thay đổi tập trung vào những biến số mà đại diện cho những
tác động hoặc những thuộc tính quan trọng của đề tài nghiên cứu. Những sự
giải thích đưa đến một hình t hức của những câu khẳng định thuộc về nguyên
nhân hoặc những mô hình mà bao gồm những biến số này (ví dụ, X là
nguyên nhân của Y, mà là nguy ên nhân của Z), và một mục tiêu tiềm ẩn của
nghiên cứu về thay đổi là thiết lập những điều kiện cần thiết và có đủ điều
kiện để mang đến một kết quả. Nghiên cứu về thay đổi dùng những bảng
thiết kế nghiên cứu phỏng vấn điều tra và thực nghiệm và được đặt trong mô
hình tuy ến t ính nói chung mà giải thích cho hầu hết những phương pháp
thống kê nói chung, bao gồm phân tích phương sai (ANOVA), hồi quy, phân
tích nhân tố, và mô hình cấu trúc cân bằng. Một tiêu chuẩn quan trọng để

-19-
QTSTD-NHÓM1-MBA8 3. M ột cách tiếp cận phổ biến t ăng lên là nghiên cứu thay đổi ở những
cấp độ phức tạp của phân tích (D ansereau và những người khác,
1999). M ột vài nghiên cứu trong nhóm này tập trung vào những tác
động của sự thay đổi trong một biến số tại một cấp độ của sự phân
tích đến những biến số tại những cấp độ khác – ví dụ, những phong
cách lãnh đạo chuyển đổi như thế nào ảnh hưởng đến những đơn vị
làm việc và tạo ra những tập hợp trong những tổ chức làm việc ngoài
giờ (Avolio và Bass, 1995). Những phương pháp để thực hiện phân
tích đa cấp độ bao gồm mô hình tuyến tính theo thứ bậc, bên trong và
giữa phân tích, và phân tích sự phụ thuộc lẫn nhau (Kashy và những
người khác., 1999; Klein và Koslowski, 2000).
Cách tiếp cận thay đổi hữu ích trong việc nghiên cứu sự thay đổi và
những quá trình của sự đổi mới ở hai khía cạnh quan trọng. Đầu tiên,
những lý thuyết thay đổi cung cấp những hình ảnh tốt của những phương
pháp mà điều khiển một quá trình, và những phương pháp nghiên cứu
thay đổi thì rất thích hợp cho việc kiểm tra những giả thuyết liên quan
đến những phương pháp. Thứ hai, cách tiếp cận thay đổi hữu ích cho


Chi
ến
lược B


Nh
ững sự kiện

 Những ho ạt động
 Những chọn lựa
Lý thuy
ết
quy mô thay đ
ổiLý thuy
ết
quá

trìnhHình vẽ 1.2 : Hai cách tiếp cận để giải thích chiến lược thay đổi. Dựa trên Mohr
(1982) và Langley (1999)

-20-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
hoặc sự thay đổi trong những cấu trúc thuộc về nhận thức). Trong khi

-21-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
thường tại những phần khác nhau của t ổ chức và tại những thời điểm khác
nhau, những nguyên nhân hoạt động bắt chéo nhau rất lớn tại những thang
đo thời gian khác nhau, và những chuỗi sự kiện trói buộc lại với nhau trong
một kiểu dáng ngẫu nhiên để đưa đến một vài kết quả. Thí dụ như những đề
tài về lịch sử hoặc lý lịch, những mô hình thuộc cấu trúc không cân bằng.
Những lý thuyết quá trình cố gắng kết hợp chặt chẽ những nhân tố và những
ảnh hưởng này.
Tiêu điểm chính của một lý thuy ết quá trình là một chuỗi những sự kiện mà
trải qua thời gian để đưa đến một vài kết quả. Những sự giải thích trong
những lý thuyết quá trình có khuynh hướng phức tạp hơn những sự giải
thích về thay đổi tùy thuộc vào sự phức tạp của những sự kiện, sự cần thiết
để giải thích cho sự liên quan giữa những sự kiện thuộc về thời gian, những
thang đo thời gian khác nhau trong cùng một quá trình, và bản chất động của
những quá trình. Những sự giải thích quá trình có lẽ bao gồm (a) một sự tính
toán của một sự kiện đưa đến kết quả như thế nào và ảnh hưởng đến những
sự kiện theo sau thì như thế nào (ví dụ, những sự kiện loại A có xác suất
thành công là 0.7 bởi những sự kiện loại B và xác suất thành công là 0.3 bởi
những sự kiện loại C); (b) một sự giải thích của mô hình tổng quát mà tạo ra
những chuỗi (ví dụ., quá trình phát triển ba giai đoạn A, B, và C), hoặc (c) cả
hai (trong trường hợp sự giải thích ở cấp độ vi mô và mô hình tổng quát
được nối kết). Những lý thuyết quá trình kết hợp chặt chẽ với một vài loại
khác nhau của những tác động trong sự giải thích của chúng, bao gồm những
sự kiện then chốt và bước ngoặt, sự ảnh hưởng theo ngữ cảnh, những mô
hình tạo thành cho lời hướng dẫn tổng quát đến sự thay đổi, và những nhân
tố gây ra nguyên nhân mà ảnh hưởng đến một chuỗi những sự kiện. Poole và
những người khác. (2000) tranh cãi rằng những sự giải thích về quá trình kết
hợp chặt chẽ với mô hình bốn nguyên nhân của Aristotle, thêm hình thức và
sự tạo ra kết quả cuối cùng có ảnh hưởng kết quả cuối cùng mà là nền tảng

linh hoạt, “trình độ mà nó bao gồm một phạm vi rộng lớn của những mô
hình phát triển không qua sửa đổi của đặc tính cần thiết (Poole và những
người khác., 2000, trang 43). Một sự giải thích cho quá trình linh hoạt “kéo
dài ra” hoặc “thu hẹp lại” để phù hợp với những trường hợp cụ thể mà khác
với tiến độ và khoảng thời gian của chúng. Chẳng hạn, mô hình trạng thái
cân bằng ngắt quãng của sự thay đổi tổ chức (Gersick, 1991; Tushman and
-23-
QTSTD-NHÓM1-MBA8
Romanelli, 1985) thì tình linh hoạt rất cao vì nó vận dụng những quá trình
cho một tuần và nhiều năm và một loạt những quá trình rộng lớn khác nhau,
bao gồm sự thay đổi của tổ chức, sự phát triển của nhóm, và sự cải tiến của
công nghệ. Bảng 1.3 một vài điểm so sánh cơ bản về cách t iếp cận theo thay
đổi và cách tiếp cận theo quá trình.
Langley (1999) và Poole và những người khác (2000) nhận diện một vài loại
khác nhau của những nghiên cứu về sự thay đổi và sự đổi mới dựa theo cách
tiếp cận theo quá trình. Họ sắp đặt một chuỗi liên tục sơ lược từ sự lý giải
cao độ đến định lượng :
1. Một vài của hầu hết công việc có ảnh hưởng trong những nghiên cứu về tổ
chức đưa ra một hình thức của những quá trình lịch sử có tính chất tường
thuật mà thuật lại một câu chuyện chi tiết của một quá trình (ví dụ., Bartunek,
1984; Chandler, 1964; Pettigrew, 1985). Những bài báo cáo phong phú này
phức tạp đan xen nhiều chủ đề và, theo những chú ý của Langley (1999),
tính chất rất dày đặc của chúng xuất phát từ những lý thuyết tính toán chi ly
một điều gì đó của một sự thách thức.
2. Một cách tiếp cận tập trung hơn là nhiều nghiên cứu cụ thể trong thực tế
(Leonard-Barton, 1990). Những nghiên cứu này được thiết kế để so sánh và
đối chiếu với một số trường hợp bị giới hạn “hoặc(a) dự đoán những kết quả
giống nhau (một sự tái tạo tầm thường) hoặc (b) đưa ra những kết quả trái
ngược nhau nhưng dự đoán được những nguyên nhân (một sự tái tạo tầm
thường)’’ (Yin 1984, trang 48–49) thông qua sự phân tích định tính sâu sắc.

gồm những nguyên nhân có hiệu quả
Những sự giải thích sự thỏa mãn
được bao gồm cuối cùng, chính thức,
và/hoặc có hiệu quả của những
nguyên nhân
Sự phát sinh những sự giải thích tùy
thuộc vào việc vận dụng không thay
đổi theo hình thức dọc theo một loạt
những trường hợp và những cuộc
kiểm tra
Sự phát sinh những sự giải thích tùy
thuộc vào tính linh hoạt của chính
bản thân nó
Đơn điệu, “có giáo dục”, những mối
quan hệ gây ra nguyên nhân
Trật tự về thời gian phản ánh kết quả
Những sự giải thích bao gồm hoạt
động của những nhân tố gây ra
nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau
và những khoảng thời gian khác
nhau
Những mối quan hệ gây ra nguyên
nhân thì không đơn điệu hoặc “có
giáo dục”

3. Một nghiên cứu truyền thống đã tồn tại từ lâu khái quát hóa quá trình dựa
trên một chuỗi của nhiều thời kỳ hoặc nhiều giai đoạn (Bales và Strodtbeck,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status