Tài liệu TIỂU LUẬN: Những vấn đề chung về PCA - Pdf 10

1
TIỂU LUẬN Những vấn đề chung về PCA 2

I. GIỚI THIỆU CHUNG

1. Lịch sử
- Hội nghị hoà bình thế giới lần thứ nhất tổ chức tại Hague năm
1899 đã thông qua công ước “giải quyết hoà bình các tranh chấp
quốc tế, thiết lập nên một cơ quan giải quyết tranh chấp toàn cầu:
Trọng tài quốc tế (PCA).PCA là tiền thân của các cơ quan giải

thương mại”.Luật này còn quy định việc chỉ định trọng tài và
quyết định phản đối trọng tài. “Thẩm quyền chỉ định” được thiết
lập bởi sự thoả thuận của các bên.Trong những trường hợp mà các
bên không thể thống nhất về việc lựa chọn thẩm quyền chỉ định,thì
cần thiết phải có một tổ chức quốc tế đáng tin cậy.Bởi vậy theo
điều 6 khoản 2 và điều 7 khoản 2b của uỷ ban LHQ về luật thương
mại quốc tế (UNCITRAL rules):

“ Nếu các bên không thống nhất được thẩm quyền chỉ định,
hoặc nếu thống nhất được nhưng người có thẩm quyền chỉ định từ
chối; hoặc không thể chỉ định trọng tài… thì một trong các bên có
thể yêu cầu Tổng thư ký của PCA chỉ định.

4. Iran-United States Claims – Tribunal ( toà thành lập theo
yêu cầu của Iran và Mỹ) (ví dụ )
4

- Vào năm 1981 Tổng thư ký lần đầu tiên được yêu cầu bổ nhiệm
một thẩm quyền chỉ định, không phải cho một trọng tài thương
mại,mà cho Iran- Hoa Kỳ Claims Tribunal.Sự cung cấp điều kiện
vật chất và sự giúp đỡ … đối với cơ quan đó trong quá trình hình
thành cũng truyền sức sống mới cho PCA.Kể từ năm 1981, gần
200 yêu cầu cho sự bổ nhiệm một thẩm quyền chỉ định đã được đệ
trình lên Tổng thư ký,phần lớn trong số đó là từ giữa những năm
1990.Sự tăng lên này,cũng như sự gia tăng của các trường hợp
phức tạp,đã trực tiếp đưa PCA đến lĩnh vực trọng tài thương mại
quốc tế.Tổng thư ký ngày càng được yêu cầu giải quyết trực tiếp
như thẩm quyền chỉ định,hơn là chỉ đơn thuần bổ nhiệm tổ chức
hoặc cá nhân khác.


2. International Bureau_Ban quốc tế

- Cơ cấu tổ chức cơ bản của PCA được thiết lập trong Công ước
nămm 1899 và 1907. PCA không phải là một toà thực sự với các
thẩm phán thường trực.Thay vào đó,một ban thư ký thường trực,
ban quốc tế và đứng đầu là tổng thư ký,giúp đỡ các bên,trong mỗi
vụ việc,thiết lập và quản lý một toà adhoc. Ban quốc tế là ban thư
ký đang hoạt động của PCA.Nó duy trì danh sách thường trực
những trọng tài tiềm năng,nhận những thông báo trực tiếp từ PCA
(bao gồm những yêu cầu về quyền trọng tài), và quy định những
6
sự phục vụ hành chính đang diễn ra đối với các tòa trọng tài,bao
gồm sự cung cấp các cơ sở cho việc xây dựng PCA.
3.Ủy ban (hội đồng) hành chính - Administrative Council

- Chức năng giám sát của PCA được giao cho hội đồng hành
chính,cơ quan bao gồm các đại diện ngoại giao của các bên được
cử tới Hà Lan dự hội nghị 1899 và 1907.Hội đồng đưa ra sự chỉ
đạo chung cho công việc của PCA, và giám sát sự quản lý, ngân
sách và chi tiêu của nó(PCA).(Ngân sách của PCA là sự đóng góp
của các quốc gia thành viên, số lượng mà dựa trên hệ thống các
đơn vị được duy trì bởi Hiệp hội bưu chính toàn cầu ( một trong số
ít các tổ chức liên chính phủ tồn tại từ 1899).Do đó,năm 2003,sự
đóng góp cao nhất của quốc gia đơn lẻ là 24,450 euros ( 50 đơn vị
) và thấp nhất là 244.50 euros (0.5 đv).)Tổng thư ký báo cáo
thường niên với hội đồng hành chính về hoạt động của PCA,chức
năng hành chính và chi tiêu của nó.(PCA).
(- Vì thời kỳ tái hoạt động của PCA xảy ra đồng thời với một
chính sách của chính phủ tuyên bố về sự phát triển không đáng kể
trong các tổ chức quốc tế,phần lớn những sự phát triển và mở rộng

đang có hiệu lực:

• Những nguyên tắc không bắt buộc cho việc giải quyết tranh chấp
bằng hình thức trọng tài giữa 2 quốc gia.(1992)
8
• Những nguyên tắc không bắt buộc cho việc giải quyết tranh chấp
bằng trọng ttài giữa 2 bên mà chỉ có một bên là quốc gia (1993).
• Các nguyên tắc không bắt buộc cho Trọng tài liên quan đến các
tổ chức quốc tế và các quốc gia (1996)
• Những nguyên tắc không bắt buộc cho trọng tài giữa các tổ chức
quốc tế và các bên tư nhân.(1996)
• Các nguyên tắc hòa giải không bắt buộc (1996)
• Những nguyên tắc không bắt buộc cho việc tìm hiểu tình hình
thực tế của ủy ban điều tra (1997)
• Các nguyên tắc của quy trình giải quyết tranh chấp bằng hình
thức trọng tài liên quan đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
• Các nguyên tắc không bắt buộc cho sự hòa giải tranh chấp liên
quan đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
According to the introduction to the 1992 Optional Rules for
Arbitrating
Disputes between Two States:
“Experience in arbitrations since 1981 suggests that the
UNCITRAL
Arbitration Rules provide fair and effective procedures for
peaceful
resolution of disputes between States concerning the
interpretation,
application and performance of treaties and other agreements,
although
they were originally designed for commercial arbitration.”

thức và đảm bảo sự an toàn của các tài liệu…Ngôn ngữ chính thức
được sử dụng trong PCA là tiếng Anh và tiếng Pháp, nhưng các vụ
kiện có thể tiến hành bằng bất kỳ một ngôn ngữ nào được các bên
đồng ý. III. THẨM QUYỀN 1. Jurisdiction of the Institution
- PCA vốn được thiết lập để giải quyết các tranh chấp giữa các
quốc gia, nhưng Các công ước La Hay lại cho phép sự linh hoạt
trong việc thiết lập một “hội đồng trọng tài đặc biệt”(special Board
of Arbitration).
- Theo các quy định không bắt buộc, nói chung, những bên sau, có
thể chấp thuận đưa vụ việc lên PCA:
+ Giữa hai quốc gia trở lên
+ Giữa Quốc gia và tổ chức quốc tế
+ Giữa hai tổ chức quốc tế trở lên
+ Giữa một quốc gia và một bên tư nhân
+ Giữa một tổ chức quốc tế và một bên tư nhân
- (Các nguyên tắc của PCA trong việc giải quyết các tranh chấp và
các quy định hoà giải không bắt buộc liên quan đến tài nguyên
11

thiên nhiên và môi trường không hề có yêu cầu một trong các bên
phải là quốc gia hoặc tổ chức quốc tế.)

2.Thẩm quyền của toà


cách diễn đạt trong thỏa thuận về việc xét xử bằng trọng tài.Những
nguyên tắc thủ tục của PCA về giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài liên quan đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường quy định rõ
ràng rằng “Sự mô tả tính chất của tranh chấp liên quan tới môi
trường hoặc tài nguyên thiên nhiên là không cần thiết cho thẩm
quyền xét xử,tất cả các bên đều đồng ý đặt một tranh chấp đặc biệt
dưới sự điều chỉnh của các điều luật này”.

5.Thời hạn

Các nguyên tắc khác nhau về thủ tục không đặt ra một quy định về
thời hạn cho việc đưa tranh chấp lên tòa PCA.Những sự hạn chế
đó có thể thấy trong thỏa thuận về xét xử bằng phương pháp trọng
tài.

IV – NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG

1. Luật áp dụng
13

1.1 – Nguyên tắc thủ tục
- Ban đầu, Luật áp dụng trong quá trình xét xử sẽ do các bên lựa
chọn bằng việc chấp thuận áp dụng những nguyên tắc thủ tục cụ
thể.
- Các nguyên tắc thủ tục hiện nay, cũng như các nguyên tắc của
PCA (xuất phát từ các nguyên tắc của UNCITRAL) tạo ra sự linh
hoạt trong vấn đề thủ tục cho toà trọng tài và các bên. Có rất ít các
điều khoản bắt buộc, nghĩa là, các bên có thể thông qua thoả thuận
để thay đổi những quy định thủ tục. Tất cả các nguyên tắc của
PCA đều quy định, toà có thể điều hành việc xét xử theo cách mà

tranh chấp - phải có thông báo về việc tranh chấp cho phía bên kia
- bên bị đơn. Thông báo phải bao gồm những thông tin sau:
- Yêu cầu tranh chấp phải được giao cho trọng tài xét xử.
- Tên và địa chỉ của các bên.
- Liên hệ đến một điều khoản hay thoả thuận về tranh chấp.
- Liên hệ tới điều ước, thoả thuận, ký kết hoặc các văn kiện pháp lý
khác có liên quan đến tranh chấp phát sinh.
- Bản chất chung của vụ việc và chỉ ra mức độ liên quan
- Tìm kiếm sự hỗ trợ và biện pháp khắc phục.
- Đề nghị số lượng trọng tài.

Những quy định trên gần như được dẫn nguyên văn các
nguyên tắc giải quyết tranh chấp của UNCITRAL, bởi các quy
định này được thực hiện trong tranh chấp thương mại, hướng tới
15

thừa nhận giải quyết tranh chấp dựa trên điều khoản tranh chấp
trong tương lai có trong hợp đồng thương mại. Trong trường hợp
tranh chấp được đưa ra theo thoả thuận, đặc biệt liên quan đến các
quốc gia, không bên nào được chỉ định là nguyên đơn hay bị đơn.

2.2 – Thành lập trọng tài

- Các bên có thể thoả thuận đưa ra quy định thành lập toà án trọng
tài. Theo như Công ước 1899 và 1907, các bên chỉ có thể lựa chọn
trọng tài theo danh sách mà PCA đưa ra. Tuy nhiên, quy định này
đã không còn từ rất lâu.
- Cách thành lập một toà án trọng tài cơ bản được phản ánh trong
Công ước 1899 và 1907 và nhiều nguyên tắc của PCA liên quan
đến sự sắp xếp của mỗi bên. Trong số các trọng tài mà các bên chỉ

quốc gia hoặc Tổng thư ký bổ nhiệm, nhưng cũng không yêu cầu
nhất thiết phải lựa chọn trọng tài từ hội đồng này.

2.3 – Phản đối trọng tài

Theo quy định của PCA, một bên có thể phản đối một trọng
tài nếu họ có nghi ngờ chính đáng về tính công bằng hay độc lập
của trọng tài đó. Nếu bên kia cũng đồng tình với sự phản đối này,
hoặc bản thân trọng tài đó tự rút khỏi vụ việc thì một trọng tài mới
sẽ được chỉ định theo cách mà trọng tài trước đó đã được chỉ định.
Mặt khác, phản đối sẽ được quyết định một lần nữa bởi người có
17

thẩm quyền trong hội đồng trọng tài, cũng như sự chấp thuận lẫn
nhau giữa các bên hoặc sự chấp nhận của Tồng thư ký PCA.

2.4 – Các biện pháp tạm thời

Theo quy định của PCA, Toà có thể yêu cầu một bên áp dụng
những biện pháp tạm thời cần thiết cho việc bảo đảm quyền lợi
riêng của từng bên hoặc những vấn đề chính trong tranh chấp
thông qua việc đưa ra các tuyên bố tạm thời. Hầu hết, các nguyên
tắc của PCA đều quy định rằng, các bên đều có thể hạn chế quyền
này của toà bằng những thoả thuận chung.
Trong các tranh chấp thương mại, các biện pháp tạm thời có
thể bao gồm việc gửi hàng hoá nhờ một bên thứ 3 hoặc bán các
loại hàng hoá có thể bị hư hại. Ví dụ, trong các quy phạm về Tài
nguyên thiên nhiên và môi trường có quy định toà được phép đưa
ra bất cứ yêu cầu nào về việc áp dụng “các biện pháp tạm thời để
đảm bảo quyền lợi của mỗi bên và ngăn ngừa sự nguy hại nghiêm

2.7 – Tranh tụng viết (written pleadings)

Nguyên đơn sẽ phải trình đơn kiện và sau đó thì bị đơn đưa ra
ý kiến phản bác. Đơn kiện phải bao gồm những thông tin sau:
a. Tên và địa chỉ của các bên
b. Trình bày sự việc
19

c. Các vấn đề đang tranh cãi
d. Hỗ trợ và biện pháp khắc phục
Kèm theo đơn kiện là những văn kiện có liên quan, bao gồm cả
việc chấp thuận thẩm quyền xét xử của toà.
Ý kiến phản bác của bị đơn phải bao gồm các mục b, c, d như
trong đơn kiện của nguyên đơn, kèm theo các văn kiện, chứng cớ
có liên quan mà bị đơn có ý định đưa ra. Đơn phản bác cũng có thể
có một “counter – claim” phát sinh từ một điều ước, thoả thuận, ký
kết hoặc các văn kiện pháp lý tương tự hoặc một tuyên bố phản
kiện. Cả hai đều phải thoả mãn những yêu cầu thủ tục của một
tuyên bố phản bác bình thường.
Các bên có thể sửa đổi, bổ sung văn bản đệ trình bất cứ lúc nào
trừ khi toà thấy việc sửa đổi, bổ sung là không thích đáng và làm
chậm trễ sự trình bày của các bên, gây thiệt hại cho các bên.
Không có trường hợp việc sửa đổi, bổ sung vượt quá thẩm quyền
xét xử của toà. Toà có thẩm quyền quyết định có nên bổ sung thêm
một văn bản đệ trình nào không.
Mặc dù PCA có quy định thời hạn của việc trình lên các văn
bản tranh tụng, nhưng trong vấn đề này, toà thường họp các bên
lại, tham khảo ý kiến để đưa ra quyết định. Điều này không được
quy định trong luật nhưng trong thực tế vẫn thường được áp dụng.
Nếu tranh tụng viết có quá nhiều phần, các bên thường hỏi ý kiến

2.10. Sự can thiệp của bên thứ ba

21

Mặc dù, trong thủ tục xét xử của PCA không có quy định về sự
can thiệp của bên thứ ba, tuy nhiện, nếu tranh chấp xảy ra giữa hai
bên trở lên, các bên có thoả thuận, tranh chấp sẽ được giải quyết
tại PCA.

3 – PHÁN QUYẾT CỦA TOÀ
3.1 – Phán quyết
Phán quyết cuối cùng của toà được thông qua bởi đa số thành
viên trong hội đồng trọng tài, được thể hiện trên văn bản, phải bao
gồm lý do của phán quyết trừ khi các bên không có yêu cầu. Trong
khi các Công ước 1899, 1907 đều quy định rằng, phán quyết phải
công khai thì PCA lại yêu cầu các bên phải có thoả thuận về vấn
đề các lý do có cần phải công khai hay không.
Phán quyết là cuối cùng và ràng buộc các bên, các bên phải thi
hành mà không có sự trì hoãn nào.
Nếu các bên đã đạt được một thoả thuận nào đó trước khi toà
kết thúc xét xử thì họ có thể yêu cầu toà ghi lại thoả thuận đó dưới
dạng quyết định về những điều kiện đã thoả thuận.

3.2 - Giải thích và sửa đổi
Sau khi phán quyết được đưa ra, các bên có thể yêu cầu toà
giải thích phán quyết hoặc sửa các lỗi trong tính toán, biên chép,
lỗi in hoặc yêu cầu một phán quyết bổ sung được đưa ra trong quá
trình xét xử nhưng đã bị bỏ sót trong phán quyết. Toà cũng có
quyền chủ động sửa lại các lỗi trong phán quyết trong vòng 30
ngày kể từ ngày đưa ra phán quyết.

Một là, phán quyết về “Chủ quyền lãnh thổ và phạm vi của tranh
chấp” đưa ra ngày 9/10/1998.
Hai là, phán quyết về “Phân định biên giới biển” đưa ra ngày
17/12/1999.

II) Xác lập tòa trọng tài

Dựa trên thỏa thuận trọng tài giữa chính phủ Eritrea và chính phủ
Cộng hòa Yemen vào ngày 3/10/1996, thỏa thuận này là sự tiếp
nối của thỏa thuận về những nguyên tắc chung giữa Eritrea/Yemen
tại Paris ngày 21/5/1996.

III) Thủ tục xét xử

Eritrea và Yemen, hai bên cam kết không sử dụng vũ lực để giải
quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và đường biên giới biển; đã
quyết định thông qua thoả thuận trọng tài và thành lập Toà trọng
tài.
Toà mở phiên họp đầu tiên vào ngày 14 tháng 1 năm 1997 tại
Luân đôn, Anh.
[Phần 5, Phán quyết ] Bốn trọng tài viên của Toà trọng tài
bàn bạc, trao đổi, phê chuẩn, thông qua các hoạt động được uỷ
quyền. Theo điều 7.2 Thoả thuận trọng tài, Toà chỉ định Tổng thư
ký Mr Jonkman của Toà trọng tài Thường trực (PCA) tại Hague và
Thư ký thứ nhất của PCA, Ms Bette E. Shifman lần lượt là người
24

lưu trữ hồ sơ và thư ký của Toà. Địa điểm đăng ký hồ sơ của Tòa
là tại Ban Quốc tế của PCA.
[Phần 6, Phán quyết ] Toà thông báo với hai đại diện của

Cũng theo điều 8.3, Toà có quyền yêu cầu các bên thể hiện quan
điểm của mình bằng văn bản để làm sáng tỏ bất kỳ khía cạnh nào
của các vấn đề trước Toà.
[Phần 10, 11 Phán quyết ] Theo thoả thuận của 2 bên,
Yemen sẽ trình bày lập luận trước liên quan đến nhượng quyền
thăm dò và khai thác dầu mỏ liên đới tới phán quyết về chủ quyền
lãnh thổ trong các phiên tranh tụng .
+ Toà đặt ra một loạt câu hỏi về việc giải thích bằng chứng
nhượng quyền và yêu cầu 2 bên trả lời bằng văn bản trong vòng 7
ngày kể từ khi kết thúc phiên tranh tụng. Và như vậy, theo quy
định, 2 bên phải nộp văn bản trả lời vào ngày 17 tháng 7 năm
1998. Nhưng trên thực tế, Eritrea đã nộp muộn vì có bản phụ lục
đi kèm. Ban Quốc tế của PCA đã nhận được bản phụ lục vào ngày
22 tháng 7 năm 1998; còn Yemen nộp văn bản muộn hơn nữa:
ngày 30 tháng 7 năm 1998. Eritrea phản đối việc nộp hồ sơ muộn
này của Yemen.
[Phần 12, Phán quyết ] Trong quá trình tranh tụng bổ sung
vào tháng 11 năm 1998, Toà thông báo cho các bên ý định liên hệ
với Tổng thư ký Liên đoàn Ả Rập để đảm bảo cho sự tồn tại và
muốn lấy bản copy của bất kỳ báo cáo chính thức nào của Liên
đoàn về các chuyến viếng thăm đến một vài hòn đảo đang bị tranh
chấp, đặc biệt vào những năm 70.
+ Ngày 20 tháng 7, Toà gửi fax đến Tổng thư ký Liên đoàn Ả Rập.

Trích đoạn Phán quyết của Ủy ban điều tra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status