Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TIỂU LUẬN
MÔN QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH
Đề tài:
CÁC THẤT BẠI TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO: CHÚNG LÀ GÌ
VÀ KHI NÀO CHÚNG XẢY RA?
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 1
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Khoá:20
Lớp: TCDN Đêm 1
Nhóm: 12
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 2
TP.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2012
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
MỤC LỤC
1. Giới thiệu 1
2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 1
3. Phương pháp nghiên cứu 1
4. Nội dung về kết quả nghiên cứu 2
4.1 Nội dung nghiên cứu 2
4.1.1 Khái quát trường hợp rủi ro của LTCM từ 1994-200 2
4.1.2 Các loại thất bại trong quản trị rủi ro 7
4.1.2.1 Không nhận diện được các rủi ro đã biết 7
4.1.2.2 Đo lường sai do rủi ro bị bỏ qua 10
4.1.2.3 Sự thất bại trong việc truyền đạt thông tin 14
4.1.2.4 Thất bại trong giám sát và quản lý rủi ro 15
4.1.2.5 Thất bại trong đo lường và quản lý rủi ro 18
Cụ thể ở đây là xem xét trường hợp của Quỹ LTCM năm 1998.
- Dữ liệu nghiên cứu là dựa báo cáo kết quả kinh doanh của LTCM từ 1994 đến
2007.
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 4
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
4. Nội dung và kết quả nghiên cứu:
4.1Nội dung nghiên cứu:
4.1.1 Khái quát trường hợp rủi ro của LTCM từ 1994-2007:
Để đánh giá những thất bại của quản trị rủi ro một cách cụ thể, tôi trở lại với những
kinh nghiệm đã xảy ra ở quỹ phòng ngừa LTCM năm 1998 để phân tích xem một thất bại
của LTCM là thất bại của quản trị rủi ro hay không. Sau đó tôi khái quát hóa từ các ví dụ
để diễn tả điều gì làm quản trị rủi ro thất bại và điều gì không. Tôi sẽ chỉ ra một vài sự
kiện để xem xét trong tài chính nhấn mạnh thực tế những thất bại trong quản trị rủi ro
không hẳn là thất bại của việc quản trị rủi ro, nhưng trong cùng thời gian tôi phân tích
theo nhiều cách khác nhau, cách mà quản trị rủi ro có thể thất bại. Sau đó tôi giải quyết
câu hỏi liệu bài học từ những thất bại trong quản trị rủi ro có thể được sử dụng để cải tiến
thực hành quản trị rủi ro. Trong phần cuối của bài báo này, tôi thảo luận cách tiếp cận
quản trị rủi ro cho phép các định chế quản trị rủi ro tốt hơn trước những đe dọa đã đến
với họ trong cuộc khủng hoảng tài chính dưới chuẩn.
Có phải sụp đổ của Long-Term Capital Mamagement là một thất bại trong quản trị
rủi ro?
Câu chuyện và quản trị vốn dài hạn (LTCM) rất nổi tiếng.
2
Năm 1994, những thương gia
Salomon Brothers và chủ nhân của hai giải Nobel tương lai bắt đầu từ một quỹ phòng
ngừa, đó là Quỹ Long-Term Capital Mamagement. LTCM hoạt động như một công ty
quản lý quỹ. Quỹ hoạt động rất tốt trong suốt thời gian tồn tại của nó: Các nhà đầu tư
kiếm được 20% trong 10 tháng năm 1994, 43% năm 1995, 41% năm 1996 và 17% năm
1997. Trong tháng 8 và 9 năm 1998, theo quy định của Nga về khoản nợ bằng đồng rúp,
thị trường vốn thế giới đang trong khủng hoảng và quỹ phòng ngừa LTCM mất hầu hết
sáng trong thu nhập của LTCM và đó chính là điều mà LTCM đã công bố với các nhà
đầu tư. Đầu tiên, trong 2 năm tốt nhất quỹ kiếm được hơn 50% trước phí, 25% xem như
không hợp lý. Thứ 2, LTCM thông báo đến các nhà đầu tư rằng quỹ mong đợi thua lỗ
hơn 20% chỉ trong một năm xác xuất 1/50, một năm với xác suất 1/100 có thể mong đợi
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 6
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
thua lỗ 70%.
3
Giả sử quỹ có lợi nhuận cao hay không phụ thuộc vào biến động của dòng
tiền, để mà rủi ro của quỹ được đa dạng hóa hoàn toàn cho các nhà đầu tư. Với những giả
định này, lợi nhuận mong đợi của quỹ là 24.05%. Như vậy lợi nhuận mong đợi sẽ là lợi
nhuận mong đợi tuyệt vời cho một quỹ phòng ngừa hay là cho bất cứ sự đầu tư nào như
là lợi nhuận mong đợi cho rủi ro gánh chịu do đa dạng hóa, như những giả định của tôi.
Các nhà quản lý có cơ hội để lặp lại đầu tư này, 99 năm trong số 100 năm họ sẽ kiếm
được 25% trước phí và sẽ là những ngôi sao.
Trong giả định của tôi, khi các nhà quản lý quỹ (đối tác) đưa ra chọn lựa, họ biết
phân phối thực sự xảy ra trong thu nhập của quỹ. Do đó, họ biết rõ ràng phân bổ thực sự
giữa được và mất – các nhà quản lý rủi ro nên được phong tặng huy chương vàng cho
công việc của họ, giả sử, thu nhập tồi xảy ra. Trong trường hợp này, quỹ sẽ đề lên hàng
đầu cho thua lỗ 3.5 tỷ đô la. Một số người tranh luận rằng rủi ro của quỹ bị quản lý yếu
kém. Tuy nhiên, như sự thiết lập, quản trị rủi ro sẽ không được cải thiện trong trường hợp
này. Những nhà quản lý biết chính xác rủi ro họ gặp phải và họ quyết định chấp nhận
chúng. Do đó, trong trường hợp này không có nghĩa là quản trị rủi ro thất bại. Như đã
trình bày, chỉ có tranh luận là các nhà quản lý tiếp nhận những rủi ro mà họ không nên,
nhưng đó không là vấn đề quản trị rủi ro miễn là các rủi ro được hiểu đúng. Đúng hơn, nó
là vấn đề định giá được thiệt hại so với lơi nhuận thu được để tạo ra lợi nhuận lớn hơn.
Quyết định chấp nhận một rủi ro nhận biết được không là quyết định của các nhà
quản trị rủi ro. Quyết định này phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro của các định chế. Tuy nhiên,
xác định khẩu vị rủi ro là quyết định của ban điều hành và các nhà quản trị cấp cao.
Quyết định này được xem như là trái tim trong chiến lược của doanh nghiệp và chính nó
được mục tiêu đánh giá. Một tỷ lệ đòn bẩy được chọn, doanh nghiệp không có nhiều
chọn lựa trong lựa chọn mức độ rủi ro nếu muốn đạt được mục tiêu đánh giá. Tuy nhiên,
đối mặt với nhiều cơ hội tốt, doanh nghiệp có thể giảm tỷ lệ đòn bẩy để có thể chịu nhiều
rủi ro hơn hay có thể chọn để bắt đầu từ mục tiêu đánh giá tín dụng của mình.
LTCM là bằng chứng điển hình cho những cân bằng này. Trong đợt suy giảm năm
1997, các nhà quản lý của LTCM kết luận rằng họ không điều hành hoạt động kinh
doanh đem lại 17% cho các nhà đầu tư, đây là những gì các nhà đầu tư của họ có được
cho năm nay. Thay vào đó, họ muốn thu nhập cao hơn đạt được như năm 1995 và 1996.
Cuối năm 1997, LTCM có vốn đạt 7.4 tỷ đô la nhưng quyết định trả lại khoảng 36% vốn
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 8
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
cho các nhà đầu tư. Với ít vốn hơn, LTCM vẫn tiến hành hoạt động kinh doanh như
trước. Tuy nhiên, để làm được điều đó, phải sử dụng nhiều đòn bẩy hơn. Tăng tỷ lệ đòn
bẩy, có thể tăng thu nhập cho các cổ đông nếu mọi việc diễn ra tốt là chi phí cắt giảm
nhiều hơn nếu mọi thứ trở nên xấu đi. Vậy tăng đòn bẩy có phải là một quyết đinh kém
về quản trị rủi ro? Lấy ví dụ trong trường hợp của tôi, các thành viên của LTCM biết về
những rủi ro và lợi ích nếu cứ thực hiện. Trong thuật ngữ quen thuộc của kinh tế tài
chính, sự gia tăng đòn bẩy là quyết định tích cực lên NPV khi nó được thực hiện, nhưng
rõ ràng đó là một quyết định tốn kém theo nghĩa khi tài sản giảm giá trị, vốn chủ sở hữu
của quỹ giảm giá trị nhanh hơn là nó có tỷ lệ đòn bẩy ít hơn.
Hiện đã có nhiều cuộc thảo luận về động cơ của các nhà quản trị hàng đầu trong cuộc
khủng hoảng tài chính, với các nhà bình luận khác nhau cho rằng một phần của vấn đề
được các nhà quản trị đưa ra là động cơ thúc đẩy có quá nhiều rủi ro. Điều này cũng có
thể đúng như vậy, nhưng trước khi đi đến kết luận này thì đừng quên rằng các nhà tài
chính đã khẳng định trong nhiều thập niên qua rằng động cơ của các nhà quản trị trở nên
phù hợp hơn với những cổ đông khi mà các nhà quản trị có cổ phần lớn trong vốn cổ
phần của Công ty. Các nhà quản trị cấp cao sở hữu hàng trăm triệu đô la vốn cổ phần tại
Bear Stearns & Lehman, nắm giữ giá trị cao nhất tại công ty này. Tương tự như vậy, các
đối tác của LTCM cùng góp vốn đầu tư vào quỹ vào đầu năm 1998. Nếu vốn chủ sở hữu
không khuyến khích các nhà quản trị để đưa ra các quyết định đúng đắn cho các cổ đông
4.1.2.1 Không nhận diện được các rủi ro đã biết
Trong ví dụ LTCM, việc không nhận diện được các rủi ro đã biết có thể xảy ra một số các
hình thức khác nhau. Khi đo lường rủi ro, các nhà quản trị rủi ro cố gắng để hiểu sự phân
phối lợi nhuận. Với ví dụ đơn giản của chúng tôi, phân phối là một phân phối nhị thức -
kết quả của việc tung một đồng xu. Nhà quản trị rủi ro có thể mắc một lỗi trong việc
đánh giá xác suất của một tổn thất lớn hoặc quy mô của sự mất mát lớn nếu nó xảy ra.
Ngoài ra, họ có thể sử dụng phân phối sai hoàn toàn. Hơn nữa, các tổ chức tài chính có
nhiều vị thế, mỗi vị thế có một khoản lợi nhuận từ phân phối mang lại, nhưng những
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 10
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
khoản lợi nhuận có liên quan giữa các vị thế, và mối quan hệ có thể được đánh giá không
chính xác - một cách đơn giản về điều này là mối tương quan có thể không đo lường
được.
Tương quan là vô cùng quan trọng trong quản lý rủi ro, vì lợi ích của đa dạng hóa giảm
khi tương quan tăng.
Với ví dụ LTCM, nó có thể là xác suất thực sự của một tổn thất 70% là cao hơn
1%, ở mức 25%. Trong trường hợp này, lợi nhuận kỳ vọng của LTCM trong ví dụ giả
định của tôi chỉ là 1,25%. Lúc này, các nhà đầu tư có thể đã kiếm được lợi nhuận kỳ vọng
cao hơn là khi đầu tư vào tín phiếu kho bạc. Trong trường hợp này, các sai lầm quản lý
rủi ro - đánh giá xác suất của kết quả xấu ở mức 1% thay vì 25% - sẽ có hậu quả tai hại
cho quỹ bởi vì sẽ làm cho nó thực hiện giao dịch có thể sẽ làm giảm giá trị.
Giả sử rằng LTCM đã gặp phải những thất bại mà chúng tôi vừa nêu ra. Làm thế nào
chúng ta biết được? Chúng ta không thể xác định khi một sai lầm đã gặp bởi vì LTCM
đã bị mất 70% chỉ một lần. Sau khi mất 70%, nó có thể đã làm như vậy cho dù xác suất
thực sự mất mát đó là 1% hoặc 25%. Trong thực tế, theo các điều kiện giả định của ví dụ
của tôi, chúng tôi không học hỏi gì từ thực tế rằng LTCM bị mất 70% dù rằng nó đã tạo
ra một thất bại quản lý rủi ro của loại đó. Như tháng 1 năm 1998, có thể là xác suất thua
lỗ là vô cùng nhỏ hoặc rất lớn. Nó có thể là một trong hàng trăm sự kiện trong năm hoặc
một trong bốn sự kiện năm cho danh mục đầu tư của các ngành nghề mà họ đã đầu tư.
Một sai lầm khác trong quản trị rủi ro sẽ xảy ra nếu phân phối không phải là nhị thức,
Trong hầu hết trường hợp, nhà quản trị rủi ro sẽ có một mô hình về sự biến động của cổ
phiếu mà kết quả dường như là khá tốt.
Dữ liệu quá khứ là ít sử dụng vào thời điểm này, bởi vì rủi ro lớn đã không phản ánh nó
trong quá khứ. Ví dụ, với cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn, không có dữ liệu lịch sử của
cuộc suy thoái trong thị trường bất động sản, mà một số lượng lớn các chứng khoán thế
chấp dưới chuẩn được cho vay. Trong tình hình như vậy, đo lường rủi ro không thể được
thực hiện bằng cách bằng cách sử dụng các dữ liệu lịch sử một cách đơn giản bởi vì rủi ro
từ giảm giá bất động sản đã không thể hiện chính nó trong một giai đoạn so sánh. Với
trường hợp như vậy, đo lường rủi ro đạt đến giới hạn của nó và quản lý rủi ro đi từ khoa
học đến nghệ thuật. Sư hiểu biết về rủi ro bao hàm cả sự đánh giá khả năng giảm giá bất
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 12
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
động sản và tác động kinh tế đến sự giảm giá chứng khoán. Đánh giá như vậy mang tính
chủ quan. Các nhà quản trị rủi ro khác nhau có thể đưa ra những kết luận rất khác nhau.
Có một vấn đề cơ bản về hiệu quả của việc đo lường rủi ro khi đánh giá trở nên chủ quan.
Giả sử rằng tất cả các bên đồng ý rằng một mô hình thống kê được lập ra hoạt động khá
tốt. Một số ít sau đó không đồng ý. Tuy nhiên, dự báo chủ quan có thể dễ dàng đặt câu
hỏi. Tại sao một người quản trị rủi ro sẽ nhận biết về khả năng giảm giá bất động sản tốt
hơn so với các chuyên gia trong lĩnh vực bất động sản? Nếu các chuyên gia bất động sản
kết luận rằng giá giảm đột ngột thì không đúng như vậy, tại sao một công ty nghe một
người quản trị rủi ro, những người mà muốn bỏ ra một khoản tiền lớn vào một bài khảo
sát để tìm ra các tác động của giảm giá lớn như vậy? Khi nhà quản trị rủi ro chuyển cách
thức từ thành lập mô hình định lượng, điều này giúp dễ dàng cho việc lôi kéo vào chiến
thuật nội bộ công ty. Tại thời điểm đó, kết quả cho công ty phụ thuộc nhiều hơn về sự
chấp nhập rủi ro của công ty và văn hóa của công ty hơn là các mô hình quản lý rủi ro
của công ty đó.
4.1.2.2 Đo lường sai do rủi ro bị bỏ qua
Những rủi ro bị bỏ qua có thể có ba hình thức khác nhau với ý nghĩa khác nhau
cho một công ty. Đầu tiên, một công ty có thể bỏ qua một rủi ro ngay cả khi rủi ro đó
được biết đến. Thứ hai, một số người trong công ty biết về rủi ro, nhưng rủi ro đó không
trị rủi ro toàn công ty là rằng tất cả các rủi ro được tính toán. Nếu một số rủi ro không
được tính khi rủi ro được đo lường cho một công ty, những rủi ro còn lại không được
giám sát một cách đầy đủ có thể sẽ lớn hơn bởi vì các công ty có xu hướng mở rộng rủi
ro không kiểm soát được. Ví dụ, hãy xem xét một nhà kinh doanh mà rủi ro của người
này chỉ giám sát một phần. Thông thường, nhà kinh doanh có một khoản bù đắp bao gồm
lợi nhuận về quyền chọn – cái mà họ nhận được một phần đáng kể của lợi nhuận mà họ
tạo ra, nhưng họ không phải trả lại các khoản lỗ. Nếu chỉ có một số rủi ro của nhà kinh
doanh được giám sát, anh ta có thể tăng khoản bù đắp kỳ vọng của mình bằng cách gia
tăng những rủi ro mà không được giám sát, mà không gánh chịu bất cứ hậu quả nào.
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 14
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Đó là thực tế phổ biến trong quản trị rủi ro để phân chia rủi ro thành rủi ro thị
trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. Sự phân biệt này là một phần nhân tạo và
được mang lại bằng việc cân nhắc quy định. Thông thường, các công ty có sổ sách kinh
doanh trình bày ra thị trường, trong khi sổ sách tài chính sử dụng cho kế toán phát sinh.
Tuy nhiên, Việc phân tán rủi ro này có thể được thực hiện trong một cách mà bỏ qua
nhiều rủi ro lớn. Ví dụ, một công ty có rủi ro vay nợ. Nợ vay có thể trở nên đắt hơn và
hoặc ít hơn khi công ty chịu đựng kết quả xấu từ thị trường. Biết rằng, một yếu tố quan
trọng góp phần vào sự thất bại của Bear Stearns là những hạn chế mà nó phải đối mặt
trong việc tiếp cận thị trường repo trong tuần cuối cùng của nó. Tương tự như vậy, trong
khi Basel II quy định có 1 điểm khá hạn chế rủi ro hoạt động, rủi ro kinh doanh thường
có tầm quan trọng và phải được đánh giá một cách cẩn thận như là một phần của việc
đánh giá rủi ro của một công ty mặc dù chúng không là một phần của các định nghĩa
quản lý rủi ro hoạt động. Những rủi ro này có thể tương quan cao với cả rủi ro tín dụng
và rủi ro thị trường đối với các tổ chức tài chính. Ví dụ, đối với nhiều ngân hàng, mất thu
nhập từ chứng khoán là việc thực hiện của một rủi ro kinh doanh có tương quan với rủi ro
thị trường, cụ thể là sự mất giá trị chứng khoán phát hành thông qua công ty chứng
khoán, và rủi ro tín dụng, cụ thể là không có khả năng sử dụng chứng khoán để loại bỏ
các rủi ro liên quan với các khoản vay.
Việc tính toán tất cả các rủi ro trong đo lường rủi ro là một nhiệm vụ khó khăn và tốn
Hầu hết các rủi ro chưa được biết đến không tạo ra vấn đề quản lý rủi ro. Để thấy điều
này, chúng ta có thể quay trở lại với mô hình thống kê việc đo lường rủi ro đối với một cổ
phiếu. Giả sử rằng các mô hình quản lý rủi ro sự trở lại của một cổ phiếu bằng cách sử
dụng phân phối bình thường và rằng ông không có lý do để tin rằng doanh thu trong
tương lai sẽ đến từ một bản phân phối khác nhau hơn so với một trong những tổ chức
trong quá khứ. Với mô hình này, mỗi giai đoạn, sự trở lại chứng khoán sẽ là ngẫu nhiên.
Nó sẽ đến từ một phân phối được biết đến. Người quản lý rủi ro không cần biết lý do tại
sao sự trở lại của cổ phiếu trong một khoảng thời gian là 10% và trong khoảng thời gian
khác, nó là -15%. Ông đã nắm bắt đặc điểm rủi ro liên quan của cổ phiếu thông qua ước
lượng của mình về sự phân bố thống kê lợi nhuận của cổ phiếu. Với công việc của mình,
ông biết rằng sự bất ổn là 20% và có 5% cơ hội của một mất 30% hoặc cao hơn trong giai
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 16
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
đoạn. Ông không cần phải là ở một vị trí để giải thích những sự kiện có liên quan với
những mất mát khác nhau.
Một số rủi ro khác chưa được biết đến có thể không quan trọng đơn giản chỉ vì chúng có
một xác suất thấp không đáng kể. Có một số khả năng rằng một tòa nhà sẽ bị đâm trúng
bởi một tiểu hành tinh. Rủi ro đó không ảnh hưởng đến bất kỳ quyết định quản trị nào.
Bỏ qua rủi ro không có tác động đối với quản trị rủi ro.
Những rủi ro chưa được biết đến miêu tả thất bại quản trị rủi ro là những rủi ro mà quản
lý của công ty đã biết về chúng, hành động của họ sẽ khác nhau. Nhà quản lý rủi ro phải
tìm ra những rủi ro chưa được biết đến, nhưng một khi tất cả mọi thứ được nói và làm,
một số rủi ro sẽ vẫn chưa được biết. Bởi vì điều này, họ phải kết luận rằng họ không nắm
bắt tất cả các rủi ro trong mô hình của họ và, do đó, một số vốn phải được bỏ ra để đối
phó với những rủi ro chưa được biết đến.
4.1.2.3 Sự thất bại trong việc truyền đạt thông tin
Quản lý rủi ro không phải là một hoạt động được thực hiện bởi các nhà quản lý rủi ro cho
riêng họ. Đúng hơn, đây là một hoạt động được thực hiện để cho phép các công ty có thể
tối đa hóa giá trị của các cổ đông bằng cách thực hiện các quyết định tối ưu cho toàn
công ty. Đặc biệt, công ty phải lựa chọn một mức độ rủi ro có thể chấp nhận và đảm bảo
họ phải dè chừng và giảm thiểu các nguy cơ đã biết để đáp ứng các mục tiêu của quản lý
cấp cao.
Chúng ta vừa thảo luận vấn đề là một công ty có thể chấp nhận rủi ro mà nó không biết.
Khi thảo luận về vấn đề đó, chúng ta thường tập trung vào nó như là một vấn đề về hàng
tồn kho. Tuy nhiên, có một quan điểm khác nhau về vấn đề này trong đó đặc biệt có liên
quan đến các công ty tài chính. Đối với các công ty phi tài chính điển hình, các rủi ro
thường thay đổi từ từ. Các công ty tài chính thì không giống như vậy. Đối với một công
ty tài chính, rủi ro có thể thay đổi rất nhanh thậm chí công ty không kịp thích ứng. Vấn đề
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 18
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
phát sinh từ thực tế là các công ty tài chính thường sử dụng nhiều dạng công cụ phái sinh
và những công cụ phái sinh tổng hợp. Theo thời gian, các dạng này ngày càng trở nên
phức tạp hơn.
Tính chất rủi ro của các danh mục đầu tư của công cụ phái sinh có thể thay đổi rất nhanh
chóng mà không có bất cứ giao dịch gì. Điều này là bởi vì các công cụ phái sinh phức tạp
thường có tiếp xúc với yếu tố rủi ro cực kỳ nhạy cảm với điều kiện thị trường. Đáng chú
ý, trong cùng một ngày với một số sản phẩm nó hoàn toàn có thể có những thay đổi như
là chứng khoán có thể bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ lãi suất giúp nó tăng đáng kể nếu lãi suất
tăng và sau đó trong cùng một ngày nó cũng có thể mất đáng kể nếu lãi suất tăng. Đối với
sản phẩm như vậy, tự đảm bảo được điều chỉnh hàng ngày là một công cụ có thể kết thúc
việc tạo ra những tổn thất lớn bởi vì công cụ đó là tối ưu vào lúc bắt đầu của ngày có thể
chấm dứt các nguy cơ rủi ro vào cuối ngày.
Một trong những minh họa rõ ràng nhất về việc rủi ro thay đổi như thế nào là giá cả của
các công cụ phái sinh dưới chuẩn. Các chỉ số ABX là những dữ liệu có sẵn trên giá trị
chứng khoán phát hành đối với tài sản thế chấp nợ dưới chuẩn. Các chỉ số trung bình đều
có trọng số của các giao dịch hoán đổi tín dụng mặc định khi chứng khoán hóa. Chỉ số
mới thay đổi sáu tháng một lần, phản ánh việc chứng khoán hóa mới. Ban đầu, các chỉ số
AAA, đại diện cho giá cả của các giao dịch hoán đổi tín dụng mặc định trong đợt phát
hành chứng khoán tỷ lệ AAA, hầu như không có sai lệch, để đánh giá hợp lý rủi ro của
đợt phát hành tỉ lệ AAA chúng ta phải sử dụng các dữ liệu lịch sử có thể đã được rằng
biết đến, họ bắt đầu một chuỗi phản ứng điều chỉnh tại các tổ chức khác và ảnh hưởng
đến giá giao dịch để thị trường hiểu được vị trí chính yếu của các tổ chức tốt hơn.
Trong các tổ chức lớn và phức tạp, cũng có thể tồn tại khả năng các cá nhân đương
đầu với rủi ro tiềm ẩn trong một khoảng thời gian. Một thương nhân có thể đã xây dựng
một vị thế phức tạp mà chỉ có ông ta hiểu. Vị thế này trong một số hoàn cảnh có thể dẫn
tới những thiệt hại lớn. Vị thế này sử dụng những chứng khoán không được kết hợp với
nhau trong hệ thống quản trị rủi ro. Hầu hết thời gian, các tổ chức phải đối mặt với sự
trao đổi. Quản lý rủi ro có thể được cấu trúc để biết tất cả mọi thứ ở mọi thời điểm. Tuy
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 20
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
nhiên, nếu quản trị rủi ro được tổ chức theo cách đó, nó sẽ kiềm chế sự đổi mới trong
công ty và cản trở khả năng cạnh tranh của công ty. Trong thị trường chuyển động nhanh,
nhân viên phải có tính linh hoạt. Tuy nhiên, tính linh hoạt làm cho khả năng không thể
quan sát của túi rủi ro xuất hiện. Khi những rủi ro này biểu hiện ra bên ngoài, nó không
phải là đại diện cho sự thất bại quản lý rủi ro. Quản trị rủi ro không thể đảm bảo rằng
những rủi ro này sẽ không bị mắc phải nhưng cổ đông trước đây đã có thể tồi tệ hơn. Bên
cạnh việc loại bỏ tính linh hoạt trong công ty, giám sát rủi ro là khá tốn kém nên tại một
số điểm, giám sát rủi ro chặt chẽ hơn là không hiệu quả.
Hiệu quả của sự giám sát và kiểm soát rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào nền văn hóa
của tổ chức và sự khích lệ. Nếu rủi ro là công việc của tất cả mọi người trong tổ chức, nó
là khó khăn hơn cho túi rủi ro để mà không có ai quan sát. Nếu tiền bồi thường của người
lao động bị ảnh hưởng bởi cách họ chấp nhận rủi ro, họ sẽ chấp nhận rủi ro khôn ngoan
hơn. Các mô hình rủi ro tốt nhất trong một công ty với văn hóa nghèo nàn và khuyến
khích thấp sẽ ít hiệu quả hơn trong mô hình trong một công ty nơi ưu đãi của người lao
động được tốt hơn phù hợp với mục tiêu chấp nhận rủi ro của công ty.
4.1.2.5 Thất bại trong đo lường và quản lý rủi ro
Cho đến nay, chúng tôi đã đưa ra các số liệu thống kê rủi ro. Hiện nay chúng tôi
thấy rằng tập trung vào các số liệu là quá hạn hẹp có thể làm cho nó khó khăn hơn cho
nhà quản lý để đạt được các mục tiêu của mình. Cụ thể, những rủi ro mà nhà quản lý xem
là quan trọng có thể không được đo lường và bị bỏ qua.
dịch kinh doanh của nó với xác suất 1%. Điều này có nghĩa là công ty có một phần trăm
cơ hội bị mất nhiều hơn $ 100,000,000. Nếu công ty này vượt quá VAR của nó một lần
trong hơn 100 ngày giao dịch và mất $ 10,000,000,000, tất cả các bài kiểm tra thống kê
hiện có của quản trị rủi ro rủi ro dựa trên VAR vượt quá giới hạn sẽ chỉ ra rằng công ty
đã quản trị rủi ro tuyệt vời. Phương pháp VaR không nắm bắt được những khoản lỗ
khủng khiếp mà chỉ có một xác suất nhỏ xảy ra.
Phương pháp đo lường VaR hàng ngày giả định rằng tài sản có thể được bán một
cách nhanh chóng hoặc được phòng ngừa, vì vậy mà một công ty có thể giới hạn khoản
lỗ của nó về cơ bản trong vòng một ngày. Tuy nhiên, trong cả năm 1998 và năm trước,
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 22
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
chúng ta đã thấy rằng thị trường có thể trở nên bất ngờ kém thanh khoản, do đó phương
pháp VaR hàng ngày mất đi ý nghĩa của nó. Nếu một công ty đang có một danh mục đầu
tư mà không thể giao dịch được, phương pháp đo lường VaR hàng ngày không phải là
một đo lường rủi ro của danh mục đầu tư được bởi vì công ty bị mắc kẹt với các danh
mục đầu tư trong một khoảng thời gian dài hơn.
Để đánh giá rủi ro, các công ty phải xem xét phạm vi dài hơn và phải có một cái
nhìn toàn diện rủi ro của họ. Phạm vi một năm được sử dụng rộng rãi trong quản trị rủi ro
doanh nghiệp để đo lường rủi ro rộng của công ty. Nói chung, các tổ chức tài chính tập
trung vào rủi ro rộng của công ty trong phạm vi một năm nhằm mục đích cho xếp hạng
tín dụng ngụ ý rằng một xác suất rất nhỏ mặc định (vỡ nợ). Cách tiếp cận như vậy là hữu
ích trong việc đánh giá rủi ro của một công ty, trong ước tính số lượng tối ưu của vốn cho
một công ty, và ước tính lợi nhuận của dự án và ngành nghề kinh doanh thông qua một
đánh giá cẩn thận về chi phí vốn cần thiết để chịu rủi ro của họ. Tuy nhiên, tại cùng một
thời gian, phương pháp tiếp cận như vậy là không đủ.
Một mục tiêu xếp hạng tín dụng cao hiệu quả có nghĩa rằng công ty sẽ cố gắng để
tránh sự mặc định (vỡ nợ) trong tất cả hầu hết trường hợp. Nếu một công ty nhằm mục
đích cho một xếp hạng tín dụng AA, nó thực tế sẽ chọn một xác suất của mặc định (vỡ
nợ) mà trong đó xác suất mặc định (vỡ nợ) sẽ ít xuất hiện hơn trong một năm của một
ngàn. Các cuộc khủng hoảng xảy ra thường xuyên hơn, vì vậy các công ty phải có một
đó. Hơn nữa, một tổ chức lớn có thể phơi bầy những giao dịch lợi dụng người khác - tức
là, các giao dịch được thiết kế để khai thác vấn đề của nó. Một ví dụ về giao dịch trục lợi
là một tình huống nơi người buôn bán từ các tổ chức đạt được lợi ích từ việc đẩy giá
xuống nếu họ có thể bởi vì nó có thể dẫn đến một lực bán tháo. Mô hình quản trị rủi ro
điển hình sẽ không tính việc này. Những mô hình này không tính đến cho thực tế rằng
nếu tổ chức này lớn trên thị trường, khoản lỗ của nó có thể dẫn đến nhiều khoản lỗ hơn.
Khi một công ty có khoản lỗ, nó có thể kéo giảm giá của các tổ chức khác và làm cho sự
tài trợ vốn trở nên tốn kém hơn giữa các tổ chức, dẫn đến hiệu ứng phản hồi cho tổ chức.
Nhóm 12_TCDN Đêm 1 24
Thất bại trong quản trị rủi ro GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Bỏ qua những hiệu ứng phản hồi tiềm năng này có thể dẫn đến sự giảm bớt rủi ro của các
vị thế trong trường hợp xảy ra khủng hoảng.
Có rất ít hy vọng cho các mô hình rủi ro thống kê dựa trên dữ liệu lịch sử để nắm
bắt được những tình huống phức tạp. Thay vào đó, công ty đã gia tăng các mô hình này
với kịch bản phân tích để điều tra làm thế nào cuộc khủng hoảng có thể xảy ra và làm thế
nào họ sẽ ảnh hưởng đến các giả định khác nhau về cách làm thế nào nó phản ứng với
cuộc khủng hoảng. Với kịch bản này trong tay, quản lý hàng đầu sau đó có thể hiểu bằng
cách nào cuộc khủng hoảng có thể gây nguy hiểm cho nhượng quyền thương mại của tổ
chức của họ và làm thế nào để quản lý rủi ro trước khi chúng xảy ra như vậy để họ có thể
vượt qua nó. Cách tiếp cận bằng kịch bản yêu cầu phân tích kinh tế và tài chính. Nó
không thể được thực hiện bởi bộ phận quản lý rủi ro gồm các nhà vật lý và nhà toán học.
Cách tiếp cận như vậy cũng không thể thành công trừ khi nhà quản lý hàng đầu tin rằng
các kịch bản được xem xét mô tả mối đe dọa xác thực cho tổ chức và tổ chức phải tự bảo
vệ chống lại các mối đe dọa như vậy.
4.2Kết quả nghiên cứu:
Quản lý rủi ro đã đạt được những tiến bộ đáng kể từ năm 1998. Những khó khăn
của năm trước đã thuyết phục nhiều nhà quan sát vì lí do nào đó mà có các sai sót đáng
kể trong quản trị rủi ro và các vấn đề của năm ngoái một phần được giải thích bởi những
thất bại trong quản trị rủi ro. Trong bài viết này, tôi cho thấy rằng nên phân biệt cẩn thận
giữa những quyết định chấp nhận rủi ro dẫn đến những khoản lỗ không mong đợi và đánh