TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG : QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
o0o
TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ NGÂN
HÀNG
ĐỀ TÀI: QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GVHD : PGS.TS Trần Huy Hoàng
Lớp : Cao học K19 – Ngân hàng đêm 4
TPHCM – NĂM 2011
DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN
1. Nguyễn Thị Nguyệt Nga
2. Đoàn Diên Khánh
3. Nguyễn Thị Kim Lý
4. Trần Ái Mỹ
5. Hồ Phương Minh
6. Nguyễn Chí Văn Luân
7. Phạm Thị Trúc Ly
8. Bùi Thành Nam
MỤC LỤC
Chương 1: Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và rủi ro tỷ giá hối đoái
1.1. Đôi nét về tỷ giá hối đoái
1.1.1 Khái niệm:
1.1.2 Cách niêm yết tại các NHTM Việt Nam
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá hối đoái
1.2. Một số rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp
1.2.1 Rủi ro thị trường
1.2.2 Rủi ro chính sách
1.2.3 Rủi ro tâm lý
1.2.4 Rủi ro khác

1.1.2 Cách niêm yết tại các NHTM Việt Nam
Cách yết và công bố tỷ giá:
Tỷ giá mua của ngân hàng: Bid rate
Tỷ giá bán của ngân hàng: Ask rate
→ Bid rate/Ask rate: tỷ giá mua và bán của ngân hàng
(Thông thường tỷ giá thường được niêm yết theo tỷ giá này)
Tỷ giá mua của khách hàng: Bid ratec (= Ask rate)
Tỷ giá bán của khách hàng: Ask ratec (= Bid rate)
→ Bid ratec/Ask ratec: tỷ giá mua và bán của khách hàng
Trong cùng thời điểm và cùng 1 loại ngoại tệ thì tỷ giá mua của khách hàng chính là tỷ giá
bán của ngân hàng và ngược lại tỷ giá bán của khách hàng chính là tỷ giá mua của ngân
hàng.
a/ Các cách công bố tỷ giá:
- Cách công bố tỷ giá rời nhau:
Vd: Bid rate: 1USD = 17,780VND
Ask rate: 1USD = 17,782VND
- Cách công bố tỷ giá rút gọn:
Vd: USD/VND: 17,780/17,782 (phổ biến)
hoặc USD/VND: 17,780/82
Nếu tỷ giá được yết như sau: USD/VND: 17,780/00 tức USD/VND: 17,780/17,800
♦ Đồng tiền đứng trước là đồng tiền yết giá (còn gọi là đồng tiền định danh, đồng tiền cơ
sở hay đồng tiền hàng hóa_commodity currency). Đồng tiền định danh có đặc điểm như
sau:
+ Thường là 1 đơn vị
+ Là đồng tiền để mua bán trên thị trường (thị trường ngoại tệ) như là hàng hóa.
♦ Đồng tiền đứng sau là đồng tiền định giá (term currency), nói cho dễ hiểu thì nó còn có
thể được gọi là đồng tiền thanh toán (payment currency). Đồng tiền định giá có đặc điểm
như sau:
+ Thường không phải là 1 đơn vị
+ Là đồng tiền được dùng để thanh toán khi mua hoặc bán đồng tiền yết giá

sự chênh lệch giá trị tài sản Có và tài sản Nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh số mua
vào và bán ra của đồng tiền nước ngoài. Từ sự không cân xứng đó, khi ngân hàng thực
hiện mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính ngân hàng nhằm mục đích đầu cơ
kiếm lãi khi tỷ giá biến động thì rủi ro sẽ xuất hiện khi tỷ giá biến động theo chiều hướng
bất lợi cho ngân hàng.
Nguyên nhân khách quan: do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi đối với ngân
hàng. Nguyên nhân của sự biến động này là: mất cân đối giữa cung – cầu ngoại tệ trên thị
trường, cán cân thanh toán quốc tế; chính sách thuế quan, năng suất lao động, tình hình
kinh tế chính trị của mỗi nước, lãi suất giữa đồng ngoại tệ và nội tệ….
1.2 Một số rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp
1.2.1 Rủi ro thị trường: khi thị trường xảy ra các biến động: Hoạt động ngoại hối mà đặc biệt
là tỷ giá luôn gắn liền và chịu ảnh hưởng của tình hình vĩ mô nền kinh tế, đặc biệt là tình hình biến
động lãi suất, xuất nhập khẩu, nhập siêu… những nhân tố này có tác động rất lớn đến sự biến động
của tỷ giá hối đoái.
1.2.2 Rủi ro chính sách: đặc biệt các chính sách tài chính và tiền tệ của quốc gia có tác động
rất lớn đến thị trường hối đoái và tỷ giá hối đoái
1.2.3 Rủi ro tâm lý: tâm lý của dân chúng cũng có tác động không nhỏ đến tỷ giá hối đoái, đặc
biệt là tâm lý số đông, các hoạt động cung cầu ngoại tệ trên thị trường bị chi phối bởi yếu tố tâm
lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai
1.2.4 Rủi ro khác: thiên tai, lũ lụt,…ảnh hưởng đến đời sống và tác động đến lượng kiều hối,
… tạo ra những tác động lên tỷ giá hối đoái.
Chương 2: Thực trạng chính sách điều hành - quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái và các rủi ro tỷ
giá hối đoái tại các NHTM Việt Nam
2.1 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng nhà nước qua các năm:
2.1.1 Các quy định về quản lý ngoại hối:
Được ban hành vào ngày 13/12/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, Pháp lệnh Ngoại hối số
28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội (“Pháp lệnh 28”) được ban hành
nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp của các cá nhân tham gia hoạt động
ngoại hối, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu các quy định của Việt nam về quản lý ngoại hối tại Việt nam

mà người này hoặc công ty đã đầu tư. Vốn ngoại tệ vãng lai cho đầu tư gián tiếp phải được quy
đổi thành đồng Việt Nam và bất cứ lợi nhuận bằng đồng Việt Nam phải được quy đổi thành ngoại
tệ trước khi chuyển ra nước ngoài. Các giao dịch này phải được thực hiện thông qua tổ chức tín
dụng được phép.
Vay và Trả Nợ Vay Nước Ngoài
Pháp lệnh 28 quy định nguyên tắc đối với các khoản vay từ Việt Nam ra nước ngoài mặc dù các
giao dịch như vậy rất ít. Người vay được tự do cung cấp các khoản vay cho người vay ở nước
ngoài là các tổ chức tín dụng. Các tổ chức kinh tế khác để thực hiện các khoản vay cho tổ chức, cá
nhân vay nước ngoài không được phép thực hiện các khoản vay phải được sự chấp thuận của
Chính phủ. Tuy nhiên, Pháp lệnh 28 đã cho phép cá nhân Việt Nam vay nước ngoài.
Các khoản vay nước ngoài với thời hạn một năm trở lên phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam và báo cáo tình hình thực hiện khoản vay thường xuyên.
Giao Dịch Ngoại Tệ Vãng Lai
Pháp lệnh 28 không bỏ các hạn chế đối với giao dịch ngoại tệ vãng lai tại Việt Nam. Các giao dịch
ngoại tệ vãng lai chỉ được thực hiện thông qua ngân hàng được phép thực hiện giao dịch ngoại hối
vãng lai – giao dịch ngoại tệ vãng lai trực tiếp vẫn bị cấm (trừ khi được tiến hành giữa các nhân
nước ngoài tại Việt Nam với mục đích hợp pháp). Tất cả các biển hiệu về giá cả (như menu và
mẫu quảng cáo) phải dùng đồng Việt nam.
Về quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại hối, Pháp lệnh 28 trao cho Chính phủ quyền áp
dụng một số biện pháp như hạn chế việc mua, mang, chuyển, thanh toán đối với các giao dịch trên
tài khoản vãng lai, tài khoản vốn; áp dụng các quy định về nghĩa vụ bán ngoại tệ của người cư trú
là tổ chức; áp dụng các biện pháp kinh tế, tài chính, tiền tệ; và các biện pháp khác khi Chính phủ
xét thấy là cấn thiết để bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.
Cá Nhân Mang Ngoại Tệ Khi Xuất Nhập Cảnh
Theo quy định tại Quyết định 921/2005/QĐ-NHNN ngày 27/6/2005 của Ngân hàng Nhà nước về
việc mang ngoại tệ bằng tiền mặt và đồng Việt nam bằng tiền mặt khi xuất nhập cảnh thì một cá
nhân khi xuất nhập cảnh được phép mang lượng tiền mặt tối đa 7.000 USD (hoặc các loại ngoại tệ
khác có giá trị tương đương) và 15.000.000 đồng Việt nam
MỘT SỐ QUY ĐỊNH RIÊNG VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA DOANH NGHIỆP CÓ
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM (“FIEs”)

tài khoản của mình mở ở Ngân hàng được phép.
Mở và sử dụng tài khoản tiền đồng Việt Nam
FIEs được mở tài khoản tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại các ngân hàng được phép hoạt động tại
Việt nam theo quy định của pháp luậT hiện hành.
Mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài
FIEs được mở tài khoản tại các ngân hàng ở nước ngoài để thực hiện các khoản vay vốn trung và
dài hạn nước ngoài với điều kiện là các khoản vay này phải được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt.
Các dự án đầu tư thuộc đối tượng của Luật Dầu Khí được mở tài khoản ở nước ngoài theo quy
định của Luật Dầu Khí và chậm nhất, sau 15 ngày kể từ ngày mở tài khoản ở nước ngoài phải thực
hiện đăng ký tài khoản với Ngân hàng Nhà nước - Vụ Quản lý ngoại hối.
Chuyển Vốn Vào, Ra Khỏi Việt nam
Chuyển Vốn Vào Việt nam
FIEs phải góp vốn đầu tư theo đúng tiến độ được ghi trong Hợp đồng liên doanh, Điều lệ của
Doanh nghiệp hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. FIEs có
nguồn thu ngoại tệ từ các giao dịch vãng lai ở nước ngoài phải chuyển về nước vào tài khoản tiền
gửi ngoại tệ của mình mở tại các Ngân hàng được phép.
Chuyển Vốn Ra Khỏi Việt nam
Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây sau khi đã hoàn thành nghĩa
vụ tài chính với Nhà nước Việt Nam:
a. Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, khoản thu được chia, thu nhập do cung ứng dịch
vụ và chuyển giao công nghệ, các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
mình
b. Vốn pháp định, vốn tái đầu tư, vốn thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh và tài sản thuộc sở
hữu hợp pháp khi chấm dứt hoạt động hoặc giải thể công ty;
c. Ngoại tệ để trả nợ nước ngoài, bao gồm gốc, lãi, phí.
Nghĩa vụ Báo cáo
Hàng năm, chậm nhất vào ngày 15/1 (đối với báo cáo năm) và 15/7 (đối với báo cáo 6 tháng đầu
năm), FIEs phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Quản lý ngoại hối) và Chi nhánh ngân hàng
Nhà nước tỉnh, thành phố trên địa bàn về tình hình thực hiện vốn đầu tư.
Đối với FIEs được phép mở tài khoản ở nước ngoài thì phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ

ngoại hối’ và bắt buộc các NHTM, các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ phải
báo cáo định kỳ trạng thái ngoại hối của mình.
Trạng thái ngoại hối = Tài sản có ngoại tệ - Tài sản nợ ngoại tệ
Trong đó:
Tài sản có ngoại tệ: tiền mặt ngoại tệ, tiền gửi ngoại tệ tại NHNN, cho vay ngoại tệ, tài sản có
ngoại tệ khác
Tài sản nợ ngoại tệ: vốn huy động bằng ngoại tệ, vốn vay bằng ngoại tệ, tài sản nợ ngoại tệ
khác
 Nếu A>B gọi là trạng thái ngoại hối dương, nếu A<B gọi là trạng thái ngoại tệ âm.
 Gíơi hạn trạng thái ngoại hối chính là ‘giới hạn cao nhất’ của trạng thái ngoại hối dương so
với vốn tự có hoặc của trạng thái ngoại hối âm so với vốn tự có.
 Giới hạn trạng thái ngoại hối => Tỷ lệ quy định
 Hiện nay ở Việt nam là giới hạn không quá 30% đối với tổng trạng thái dương hoặc âm
cao nhất với tất cả các loại ngoại tệ và không quá 15% đối với trạng thái là USD.
− Trạng thái ngoại hối được NHNN quy định nhằm tránh trường hợp các NHTM hoặc các tổ
chức tín dụng đầu cơ hoặc bán tháo ngoại tệ. Tuy nhiên trạng thái ngoại hối không được quy
định cho các tổ chức tài chính phi ngân hàng (bảo hiểm, công ty tài chính ) nên tình trạng đầu
cơ hoặc bán tháo trên thị trường vẫn xảy ra.
2.1.3 Ưu điểm và khuyết điểm của chính sách tỷ giá hối đoái và tác động đến các NHTM Việt
Nam từng thời kỳ:
a. Giai đoạn trước 1996:
− Lạm phát xuất hiện từ nhiều năm nhưng năm 1986 là năm có tỷ lệ lạm phát cao nhất (775%),
nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài trong 2 năm tiếp
theo. Tuy nhiên đến cuối năm 1988 nhiều biện pháp về tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát mới
được đưa ra. Lần đầu tiên NHNN mạnh tay nới lỏng tỷ giá VND/USD vào cuối 1988 và tiếp
tục cơ chế linh hoạt đến năm 1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá từ năm
1992.
− Từ năm 1989-1992: NHNN đã bắt đầu thả nổi tỷ giá, mối quan hệ cung cầu được quan tâm
hơn. Tuy nhiên việc thả nổi tỷ giá đã tác động đến nền kinh tế như sau:
 Kích thích tâm lý nắm giữ USD để đầu cơ ăn chênh lệch gía;

hàng càng làm thị truờng ngoại tệ căng thẳng hơn trong khi cán cân vãng lai đã bội chi đến
mức báo động. Chính vì vậy, để giảm tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế
Việt Nam, cân bằng cung-cầu trên thị trường và giảm áp lực căng thẳng ngoại tệ, NHNN đã
điều chỉnh chính sách tỷ giá và cho phá giá đồng VND, mở rộng biên độ giao dịch từ +_1%
lên +_5% và sau đó là +_10% làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh, tuy nhiên giá cả trên thị
trường không có biến động đáng kể. Tuy nhiên điều này buộc các NHTM phải giao dịch ở
mức tối đa (sát trần) mà vẫn thấp hơn 10% so với thực tế. Điều này sẽ rất nguy hiểm và nhận
thấy kinh nghiệm từ Thái Lan và việc cần thiết phải phá giá đồng VND.
− Năm 1998: NHNN giảm biên độ giao dịch còn +_7%, tỷ giá chính thức điều chỉnh từ 11.815
lên 12.298, tức VND giảm giá 4.1%, dù biên độ được điều chỉnh giảm nhưng tỷ giá chính
thức tăng nên thực chất VND bị phá giá. Tỷ giá chính thức này được ấn định trên cơ sở tỷ giá
mua bán trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nên tỷ giá này sẽ phản ánh tốt hơn quan hệ
cung cầu trên thị trường, các giao dịch sôi động hơn, nhiều doanh nghiệp, ngân hàng chủ động
hơn, cân đối cung cầu ngoại tệ, bước đầu giải toả tâm lý đầu cơ ngoại tệ. Ngày 12/09/1998 với
quyết định 173/QĐ-TTg của chính phủ đã giúp cho doanh số mua bán ngoại tệ tăng, cung cầu
ngoại tệ được cải thiện, tỷ giá giao dịch củ thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được duy trì
trong biên độ quy định, khoảng cách chênh lệch về tỷ giá giữa thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng và thị trường tự do được giảm thiểu khá thấp. Tuy nhiên việc điều chỉnh tỷ giá cũng co
tác động tiêu cực đến nền kinh tế bởi vì VND giảm giá làm tăng thêm gánh nặng nợ nước
ngoài của cả chính phủ và doanh nghiệp có vốn vay nước ngoài, giảm đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
− Thực tế, việc thay đổi tỷ giá có tác động nhất định đối với nền kinh tế, nếu không cân nhắc kỹ
sẽ dẫn đến những biến động bất thường trên thị trường. Do đó việc thay đổi các xác định tỷ giá
là rất cần thiết.
− Năm 1999-2006: Đông Nam Á đã bước ra cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ, chính sách tỷ
giá Việt nam đã có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế giai đoạn sau khủng hoảng
trên cơ sỏ học hỏi kinh nghiệm của các nước trong khu vực:
− Bỏ hình thức công bố tỷ giá trước đây, tỷ giá công bố hàng ngày là tỷ giá giao dịch bình quân
liên ngân hàng, NHTM được phép giao dịch trong biên độ giao dịch của NHNN (đầu tiên là
+_0.1% sau đó là +_0.25%). Tỷ giá này được NHNN lấy bình quân giữa các ngân hàng và cho

này đã ảnh hưởng tới nhiều nền kinh tế khác, trong đó có Viêt nam, đặc biệt là thực trạng tỷ
giá đã có nhiều diễn biến phức tạp hơn so với thời gian trước. Đối mặt với sự thay đổi của nền
kinh tế, NHTW đã có những biện phán can thiệp vào chính sách tỷ giá: như thực hiện chính
sách tỷ giá linh hoạt, nới rộng biên độ tỷ giá từ +-0.25% lên +-1.75%, tỷ giá tháng 1 là
1USD=16.080VND và cuối năm ở mức 1 USD=16.164VND. Việc nới rộng biên độ tỷ giá
cũng làm cho các ngân hàng và nhà đầu tư có sự chủ động và linh hoạt hơn trong tính toán
hiệu quả đầu tư, làm cho tỷ giá sát với điều kiện thị trường hơn, hổ trợ cho các DN xuất khẩu
và hạn chế các DN nhập khẩu.
Tuy nhiên, do nền kinh tế toàn cầu chịu nhiều ảnh hưởng bởi những biến động về tỷ giá
hàng hoá, dấu hiệu suy thoái kinh tế Hoa Kỳ, đồng USD mất giá nhanh so với các ngoại tệ
khác đã tác động không tốt và lan tỏa tới nhiều nền kinh tế.
− Năm 2008: là năm tăng trưởng kinh tế toàn cầu sụt giảm đáng kể, nền kinh tế phát triển đều
rơi vào suy thoái. Tình hình tỷ giá Việt Nam có những biến động nóng-lạnh với cường độ
mạnh mẽ qua các giai đoạn:
 Giai đoạn 1(1/1/2008-25/3/2008): Tỷ giá VND/USD giảm chỉ còn 15.400VND/USD, lạm
phát tăng 12.63%. NHTW đã gấp rút thực hiện một loạt các biện pháp như: điều chỉnh lãi
suất cơ bản, lãi suất chiết khấu tăng, phát hành tín phiếu bằng VND, thực hiện dưới hình
thức bắt buộc đối với các NHTM, đồng thời không thực hiện mua USD vô nhằm hạn chế
bơm tiền vào lưu thông.
 Giai đoạn 2(26/3/2008-16/7/2008): Tỷ giá tăng tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả
thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do gây nhiều tiêu cực: lạm phát cao, người dân
muốn giũ tiền hơn là gửi tiết kiệm, nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi Việt Nam khi lo
ngại tình hình kinh tếViệt Nam và tình hình thanh khoản yếu trên thi trường thế giới đẩy
nhu cầu đẩy USD về nước lên cao dẫn đến việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trở nên phức
tạp hơn, và sau đó NHHN đã nới rộng biên độ dao động lên 2%.
 Giai đoạn 3(17/7/2008-15/10/2008): Tỷ giá giảm mạnh và đi vào bình ổn. Giai đoạn này,
NHNN thực hiện kiểm soát chặt chẽ các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm mua bán ngoại tệ trên
thị trường tự do không đăng ký với các NHTM), cấm mua bán USD thông qua ngoại tệ
khác để lách biên độ…
 Giai đoạn 4(16/10/2008-30/12/2008): Tỷ giá USD tăng trở lại do tác động của cuộc khủng

dịch mua bán giao ngay còn +_3%. Chính sự điều chỉnh này đã kéo tỷ giá thị trường chính
thức gần hơn với thị trường tự do làm giảm các giao dịch ngoài luồng, giải tỏa bớt các yếu
tố kỳ vọng , giảm bớt tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế, đưa tỷ giá USD/VND bám sát
động thái của tỷ giá chung trên thế giới.
 Nhìn chung thực trạng điều hành chính sách tỷ giá năm 2009 khá ổn định, đảm bảo sự ổn định
củ thị trường ngoại hối, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập nhất định:
 Điều chỉnh tỷ giá cũng làm xói mòn niềm tin vào chính sách vì trước đó NHNN tuyên
bố rằng không nhất thiết phải phá giá đồng tiền,trong khi thực chất tỷ giá USD/VND
tăng 9,08% so với cùng kỳ năm 2008.
 Sự bất nhất trong điều chỉnh chính sách, sự thiếu minh bạch thông tin tạo ra kỳ vọng
méo mó, tạo cơ hội cho đầu cơ nắm giữ ngoại tệ làm cho tình hình thêm căng thẳng.
 Bên cạnh, vẫn thiếu những công cụ phòng ngừa rủi ro dẫn đến quản lý thị trường ngoại
hối có những hạn chế nhất định trong việc chuyển đổ tiền tệ.
 Hạ giá đồng nội tệ cũng làm chi phí vốn của các doanh nghiệp vay vốn tăng cao, về
tổng thể nợ nước ngoài cũng sẽ bị ảnh hưởng.
− Năm 2010: Tỷ giá giảm nhẹ nguyên nhân do nguồn cung ngoai tệ USD, các vốn đầu tư nước
ngoài tăng do đầu tư vào thị trường chứng khoán, kiều hối và nguồn thu từ khách quốc tế đến
Việt Nam gia tăng trở lại, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng dương. NHNN đã có 2 đợt điều
chỉnh tỷ giá, USD đã tăng 5,46% so với VND trong khi ngưỡng an toàn là 6%(là mức chênh
lệch lãi suất USD và VND), biên độ tỷ giá là +-3%, tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ
17.941VND/USD lên 18.932 VND/USD. Điều chỉnh tỷ giá lần này mang lại một số kết quả
như sau:
 Tác động của điều chỉnh tỷ giá làm sự gia tăng lạm phát được giảm thiểu.
 Thu hẹp chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, giúp cải thiện dự
trữ ngoại hối của Việt Nam
 Gíup các DN hạch toán kinh doanh, tránh phải hợp lý hoá các khoản mua USD trên thị
trường tự do cao hơn giá chính thức.
 Ngoài ra cũng giúp các ngân hàng cải thiện nguồn vốn ngoại tê, hạn chế xu hướng chênh
lệch cao giữa mức tăng huy động và cho vay tín dụng bằng ngoại tệ và từ đó cải thiện tính
thanh khoản ngoại tệ khi mà lãi suất huy động USD của các ngân hàng đua nhau tăng nhẹ.

tuần, tuy nhiên, dự trữ của chúng ta chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu trong 2 tuần.
Nhập siêu lớn, bội chi ngân sách lớn, lạm phát còn tiếp diễn… chắc chắn tình hình tỷ giá sẽ tiếp
tục diễn biến như hiện nay.
Ngày 1/1/1994, Trung Quốc tuyên bố phá giá đồng Nhân dân tệ tới 50%. Thế giới xáo động
nhưng Trung Quốc đứng vững. Những năm sau đó, cán cân thương mại của nước này cải thiện
và xuất siêu.
Trung Quốc làm được điều đó vì họ có sự chuẩn bị chu đáo cả một quá trình trước đó. Còn Việt
Nam, hiện nay cần phải xây dựng một chiến lược từ gốc.
2.2.2 Nhu cầu đầu tư ra nước ngoài: cư dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có
thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp ) hay đầu tư gián tiếp
(mua cổ phiếu, trái phiếu ). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh doanh trên
cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ
giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào
trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu
số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng
dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,tỷ giá hối đoái
tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo
quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất.
Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư
thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay
nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư
nước ngoài của Chính phủ.
2.2.3 Lạm phát: Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không
đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ
nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc. Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ
chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá
hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt
động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng. Như vậy lạm
phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm
cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá,

tự do khoảng giữa tháng 3.2008 xuống mức rất thấp, tương đương 15.500 đồng/USD. Thời điểm
này, DN có ngoại tệ, đặc biệt là DN XK khốn khổ vì không bán được ngoại tệ cho NH. Đối với
khách hàng cá nhân thì NH rất hạn chế mua, nếu có chỉ từ 100-300USD, một số NH thì từ chối
mua của khách hang vãng lai.Tuy nhiên, từ cuối tháng 3.2008 đến nay, giá USD trên thị trường
tự do hầu như luôn cao hơn tỉ giá bình quân liên ngân hàng (LNH) do Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) công bố. Đặc biệt vào một số thời điểm (tháng 5, 6, 11.2008) thị trường khá khan hiếm
USD khi nhu cầu ngoại tệ của các DN tăng và áp lực rút vốn của của một số quỹ đầu tư nước
ngoài. Tỉ giá VND/USD trên thị trường tự do có thời điểm lên mức 19.400 đồng (tính ra VND
mất giá đến 21% so USD). Thời điểm này, dư luận có tổ chức đã mua kì hạn lên
24000đồng/USD. Từ đầu tháng 1.2009 đến nay tuy không biến động mạnh, nhưng giá USD trên
thị trường tự do trong xu hướng tăng. Tuần qua, giá USD xoay quanh mức 17.600 đồng - 17.700
đồng và có thời điểm lên đến mức 17.800 đồng, có lúc lên đến 18.000đ, Cao hơn tỉ giá niêm yết
của các ngân hàng thương mại khoảng 220 -315đ/USD.
Chiều 22.2, giá bán USD trên thị trường tự do ở mức 17.700 đồng. Cùng với vàng, hiện nay
USD đang là một kênh đầu tư thu hút sự quan tâm của các tổ chức tài chính và các NĐT. Nhiều
người dân chuyển từ VND sang cất giữ USD. Thị trường chính thức hiện nay vẫn có sự can thiệp
của Nhà nước nên nhiều khả năng chưa hẳn đã phản ánh đúng cung - cầu. Thị trường tự do tuy
chiếm khối lượng giao dịch ít hơn nhiều so với thị trường chính thức, nhưng cũng là một thước
đo cung cầu khá khách quan. Vì vậy, không nên bỏ qua tín hiệu này và cũng không nên luôn
quy kết là do tâm lý đầu cơ. Vì theo kinh nghiệm quốc tế, kỳ vọng của các tổ chức và dân cư có
những lúc đã làm vô hiệu chính sách tỉ giá của các quốc gia.Sự kì vọng của ngân hang thương
mại. USD đang được kỳ vọng là sẽ tăng giá trong thời gian tới, tuy một vài thông tin chính thức
được công bố là sẽ ổn định tỉ giá trong năm 2009. Tuy nhiên, bối cảnh và thực trạng nền kinh tế,
đặc biệt tình hình XNK của VN trong năm 2009 nhiều khả năng sẽ khó khăn hơn năm 2008 thì
làm được điều này không dễ. Tăng trưởng của các nền kinh tế chủ chốt đang vẫn dấu hiệu xấu đi.
Kinh tế VN là nền kinh tế mở với XK chiếm trên 70%/GDP chắc chắn tiếp tục bị ảnh hưởng vì
các thị trường XK truyền thống thu hẹp và gia tăng cạnh tranh. Nguồn thu ngoại tệ được trông
mong nhất là XK sẽ bị ảnh hưởng. Hiện tượng tỉ giá mua/bán USD (luôn bằng nhau) của các
NHTM lâu nay cho thấy các NH đang cần ngoại tệ. Kinh nghiệm đối phó với biến động ngoại tệ
năm 2008 đã khiến hầu hết các NH luôn quan tâm đặc biệt đối với các DN XK. Đặc biệt là

Năm 2006 Kiểm soát lạm phát Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 0,25%
Năm 2007 Kiểm soát lạm phát Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 0,5% sau đó nâng lên ±
0,75%
Năm 2008 - Kiểm soát lạm phát
- Ngăn ngừa suy giảm kinh tế
- Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 1%
- Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 2% sau đó nâng lên ± 3%
Năm 2009 & 2010 Ngăn chặn suy giảm kinh tế và
Kiểm soát lạm phát
Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 5% sau đó giảm xuống ±
3%
Từ ngày 01/01/2011, Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi có hiệu lực. Đồng thời, chính sách tiền tệ
trong năm 2011 theo hướng chủ động, linh hoạt và thận trọng theo nguyên tắc thị trường, phối hợp
chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát và
ổn định kinh tế vĩ mô.
Mục tiêu tổng phương tiện thanh toán tăng 21-24%, tín dụng đối với nền kinh tế tăng khoảng 23%.
Lãi suất và tỷ giá được điều hành ở mức phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn
hệ thống, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của NHNN.
Với định hướng như trên dự báo năm 2011, hoạt động tín dụng của các ngân hàng giảm nhiệt hơn,
đồng thời kỳ vọng lãi suất sẽ ổn định hơn so với năm 2010. Điều này ảnh hưởng ít nhiều đến kết
quả hoạt động của hệ thống NHTM.Tuy nhiên, một số ngân hàng sẽ được hưởng lợi từ việc điều
chỉnh tỷ giá ngày 11/02/2011, bởi khoản hoàn nhập dự phòng rủi ro tỷ giá. Ngoài ra, khoản dự
phòng rủi ro cho vay ngoại tệ của các ngân hàng có thể mang lại một khoản lợi nhuận khá lớn khi
khoản mục cho vay này được hoàn nhập.
Trước tháng 3/2009, Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại triển khai một số

Khi Ngân hàng Nhà nước cấm quyền chọn VND với ngoại tệ thì vẫn còn nhiều công cụ khác như
hoán đổi lãi suất, hoán đổi tiền tệ chéo mà doanh nghiệp vẫn có thể sử dụng để bảo hiểm rủi ro tỷ
giá. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp có giao dịch ngoại tệ vẫn chưa tiếp cận với công cụ này.
Có thể nhận thấy rằng giá trị các công cụ phái sinh trong giao dịch ngoại tệ mang lại ba lợi ích:
doanh nghiệp được phòng ngừa rủi ro tỷ giá, chốt được chi phí đầu vào cho một kế hoạch tài chính
dài hơi và trong trường hợp thị trường tốt còn có lãi. Và dĩ nhiên, cái giá ở đây là doanh nghiệp
phải trả trước một khoản chi phí cho các NHTM.

Trích đoạn Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tỷ giá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status