TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TP.HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
8/2013
ĐỀ TÀI:
[ VẤN ĐỀ SỞ HỮU CHÉO
TẠI VIỆT NAM ]
Nhóm thực hiện:
1. Nghiêm Phúc Hiếu
2. Nguyễn Thị Thu Hà
3. Tôn Thất Khánh
Hoàng
4. Lê Thị Hữu
5. Đặng Phương Thảo
6. Lê Thị Tố Quyên
7. Huỳnh Than Hùng
8. Lương Thị Ngọc Mai
9. Hoàng Thị Thủy Tiên
10. Hồ Thu Hoài
11. Trịnh Thị Hoạt
GVHD: PGS.TS
Trương Quang
Thông
Môn: Quản trị Ngân hàng
Môn: Quản trị Ngân hàng
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
dùng sở hữu chéo để luồn lách, không tuân thủ các quy định bảo đảm an toàn hoạt động.
Số liệu thống kê và các tình huống cho thấy chỉ trong một thời gian ngắn (2006-2012) sở
hữu chéo đã hình thành rất phức tạp trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Thứ nhất, các tổng
công ty, tập đoàn nhà nước, tư nhân có sở hữu ngân hàng. Thứ hai, các ngân hàng thương
mại nhà nước và cổ phần cũng sở hữu các ngân hàng. Tác động tiêu cực của sở hữu chéo đã
được chỉ ra từ việc phân tích các số liệu thống kê và các nghiên cứu tình huống.
Báo cáo tập trung phân tích thực trạng sở hữu chéo tại Việt Nam, các quy định đảm bảo
an toàn, các yếu tố thúc đẩy cũng như các tác động hai mặt của sở hữu chéo đến hệ thống
ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung, để từ đó rút ra những biện pháp nhằm
hạn chế và ngăn chặn kịp thời vấn đề khá nhạy cảm của kinh tế Việt Nam này trong ngắn và
dài hạn.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Trương Quang Thông đã giúp đỡ chúng em
tận tình khi thực hiện đề tài này.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ QUY ĐỊNH BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CỦA TỐ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT
NAM
1.1 Quy định về vốn điều lệ của tổ chức tín dụng :
Vốn điều lệ là nguồn vốn ban đầu ngân hàng có được khi mới họat động và được ghi vào
bản điều lệ hoạt động của ngân hàng. Theo quy định của pháp luật, một tổ chức tín dụng
(TCTD) chỉ được phép hoạt động khi vốn điều lệ thực tế lớn hơn vốn điều lệ tối thiểu (vốn
pháp định). Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ quy định đối
với các TCTD thì mức vốn pháp định áp dụng cho đến 31/12/2010 là 3.000 tỷ đồng; chi
nhánh ngân hàng nước ngoài là 15 triệu USD; với ngân hàng chính sách, ngân hàng phát
triển là 5.000 tỷ đồng; ngân hàng đầu tư, ngân hàng hợp tác và quỹ tín dụng nhân dân Trung
ương là 3.000 tỷ đồng; với công ty tài chính là 500 tỷ đồng; công ty cho thuê tài chính là
150 tỷ đồng. Mục đích của nghị định trên là sàng lọc lại hệ thống ngân hàng, chỉ có những
cá thể mạnh mới tồn tại.
1.2 Quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)
Hệ số an toàn vốn (Vốn tự có / Tổng tài sản “có” rủi ro quy đổi - Capital Adequacy Ratio
không hề đơn giản đặc biệt khi không phải ngân hàng nào cũng có một hệ thống mạng máy
tính được kết nối hoàn chỉnh trên phạm vi toàn quốc.
Các giới hạn về tín dụng áp dụng đối với khách hàng có thể tóm tắt như sau:
Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có; đối với
một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có.
Tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt quá 25%
vốn tự có; đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có.
TCTD không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với những điều kiện ưu
đãi cho các doanh nghiệp mà TCTD nắm quyền kiểm soát; không được cấp tín dụng cho
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà TCTD nắm quyền kiểm
soát, không được cho vay không bảo đảm đối với các khoản vay nhằm đầu tư chứng
khoán
1.4 Quy định về góp vốn, mua cổ phần
Góp vốn, mua cổ phần là việc TCTD dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn cấu
thành vốn điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, TCTD khác, cấp vốn điều lệ cho các
công ty trực thuộc của TCTD; góp vốn vào quỹ đầu tư, góp vốn thực hiện dự án đầu tư; bao
gồm cả việc ủy thác vốn cho các pháp nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác thực hiện đầu tư
theo các hình thức nêu trên.
Điều 129 Luật TCTD 2010 quy định TCTD chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để
góp vốn, mua cổ phần vào doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, TCTD khác… Mức góp
vốn, mua cổ phần trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, TCTD khác không vượt quá 11%
vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, TCTD đó và tổng mức góp vốn, mua cổ phần của
TCTD trong tất cả doanh nghiệp, quỹ đầu tư, TCTD khác không vượt quá 40% vốn điều lệ
và quỹ dự trữ của TCTD.
Ngoài ra Luật TCTD 2010 cũng có quy định cấm TCTD góp vốn, mua cổ phần của các
doanh nghiệp, TCTD khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính TCTD (cấm sở hữu
chéo).
1.5 Tỷ lệ về khả năng chi trả
TCTD phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả như sau:
mối quan hệ chằng chịt đó, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp lại là đặc biệt hơn
cả. Căn cứ vào mối quan hệ giữa các công ty hay không mà sở hữu chéo được phân thành
hai loại: theo chiều dọc và theo chiều ngang. Loại đầu tiên chủ yếu liên quan tới cổ phẩn
của các công ty có mối quan hệ công ty mẹ - công ty con nắm giữ lẫn nhau và loại thứ hai
liên quan tới số lượng cổ phần các công ty nắm giữ lẫn nhau nhưng không có mối quan hệ
công ty mẹ - công ty con giữa các công ty. Nếu căn cứ theo các đặc điểm về cấu trúc của sở
hữu chéo, thì sở hữu chéo được hai thành 2 loại và 5 dạng cụ thể. Thứ nhất, sở hữu chéo
loại trực tiếp là cổ phẩn của nhiều công ty nắm giữ trực tiếp lẫn nhau, đây là loại sở hữu
chéo cơ bản nhất, và nó được gọi là sở hữu chéo thuần nhất. Thứ hai, loại sở hữu chéo phức
tạp, nguồn gốc dựa trên sở hữu chéo trực tiếp, và có thể chia thành bốn dạng cụ thể như
sau: dạng tuyến tính, dạng hình chuông, dạng bức xạ, dạng mắt lưới. Trong thực tế, việc xác
định loại sở hữu chéo không thật sự cần thiết giữa một trong năm dạng, và nó có thể pha
trộn giữa các loại, tạo thành những hình thức phức tạp hơn, ở Việt Nam thì phân loại theo
những hình thức khác.
2.3 Vấn đề sở hữu chéo ở Việt Nam
2.3.1 Phân loại sở hữu chéo ở Việt Nam
Theo nguồn Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội: có thể chia sở
hữu chéo trong ngân hàng thành 6 nhóm:
• Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên
doanh: LaoVietBank, BIDC, VRB,…
• Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM: Ngân hàng Tokyo Mitsubishi UBJ –
Vietinbank, Ngân hàng Mizuho – Vietinbank,…
• Cổ đông tại các NHTM là các Công ty quản lý quỹ.
• Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần.
• Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần.
• Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng Công ty Nhà nước và tư nhân.
Trong các mối quan hệ chồng chéo trên, điều đáng bàn nhất vẫn là mối quan hệ thuộc về
ba nhóm sau gồm: mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại nhà nước – ngân hàng thương
mại cổ phần – các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lẫn tư nhân.
cổ đông cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng; một
cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng,
trừ một số trường hợp đặc biệt; cổ đông và những người liên quan của cổ đông đó không
được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Nhưng trên thực tế việc
giám sát quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần vẫn bị buông lỏng dẫn đến những kẻ lợi
dụng vốn ảo thâu tóm ngân hàng.
Bên cạnh những lỗ hổng về luật quản lý là sự mập mờ về thông tin sở hữu trên sổ sách
của ngân hàng, việc tìm thông tin về các tổ chức tín dụng mua cổ phần của các tổ chức tín
dụng khác là điều hết sức khó. Rất ít ngân hàng công khai tỷ lệ đầu tư vào các tổ chức tín
dụng khác. Những trường hợp công bố chính thức như Vietcombank, Vietinbank không
nhiều. Không những vậy, những con số cũng có thể chưa phản ánh hết thực tế việc sở hữu
giữa các ngân hàng.
- Văn bản qui định của Chính phủ, cơ quan quan lý, NHNN về yêu cầu tăng vốn điều
lệ tối thiểu đối với các ngân hàng thương mại cổ phần, các ngân hàng đã phải chạy đua
nhằm đáp ứng được yêu cầu về vốn tối thiểu theo luật định là 1.000 tỷ và 3.000 tỷ tương
ứng vào năm 2008 và 2010 (theo Nghị định 141-CP/2006 và Thông tư 13/2010-TT/NHNN
liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu).
- Theo Quyết định 13/2008/QĐ-NHNN về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương
mại (NHTM), các ngân hàng phải đảm bảo vốn điều lệ đạt mức trên 100 tỷ đồng/chi nhánh
nếu chi nhánh được mở tại TP. HCM và Hà Nội, trên mức 50 tỷ đồng/chi nhánh nếu chi
nhánh được mở tại các địa phương khác
Vào thời điểm Việt Nam được chấp thuận gia nhập WTO vào năm 2007, khi đó các cơ
quan quản lý nhà nước và ngành Ngân hàng dự đoán: sẽ có một cuộc xâm nhập của các
ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam khi Việt Nam mở cửa ngành Ngân hàng vào năm
2011, vì thế các ngân hàng thương mại trong nước đã có cuộc đua tăng vốn điều lệ/vốn chủ
sở hữu nhiều hơn nữa nhằm đảm bảo năng lực tài chính, giữ thị phần trước sự cạnh tranh
của các ngân hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Yêu cầu tăng vốn đối
với các ngân hàng Việt Nam chủ yếu xuất phát từ quy mô về tài sản và vốn chủ sở hữu của
các ngân hàng Việt Nam là quá nhỏ so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.
thật nhiều mà giá trị kinh tế hay kinh doanh thì rất đáng ngờ. Để rồi, cuối cùng những khoản
tiền đầu tư ấy lại quay trở lại túi của những cá nhân nắm quyền lực kinh tế chính trị này.
• Nhân tố thứ ba: Quy mô phát triển
Ngân hàng trong những năm qua là ngành có tốc độ phát triển nhanh đã thu hút các nhà
đầu tư trong nước và ngoài nước đầu tư vốn kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng. Đặc biệt,
nhiều tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đầu tư, nắm giữ cổ phiếu và là cổ đông lớn
hoặc chủ sở hữu của ngân hàng và TCTD phi ngân hàng.
2.3.3 Tác động của sở hữu chéo đến hệ thống ngân hàng ở Việt Nam
Sở hữu chéo luôn có tác động hai chiều đối với nền kinh tế và với bản thân mỗi chủ thể
tập đoàn, ngân hàng và doanh nghiệp tham gia hình thức sở hữu loại này. Theo Tiến sĩ Võ
Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho biết: “Nếu
sở hữu trong một chừng mực nhất định nào đó, nếu năng lực tài chính và quản trị của doanh
nghiệp tốt thì sở hữu chéo có thể tạo ra những lợi thế nhất định trong kinh doanh. Ví dụ như
lợi thế quy mô, lợi thế kiểm soát chuỗi giá trị”. Tuy nhiên đối với hệ thống ngân hàng Việt
Nam hiện nay tình trạng chằng chịt trong sở hữu chéo giữa các ngân hàng như được đề cập
ở trên đang tiềm ẩn những rủi ro khó lường, đặc biệt là căng thẳng nợ xấu có thể gây ra sự
chệch hướng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Như vậy sở hữu chéo bao gồm
cả những tác động tích cực và tiêu cực, nhưng dường như ở Việt Nam những tác động tiêu
cực lại thể hiện rõ rệt hơn.
2.3.3.1 Tác động tích cực: Sở hữu chéo ở một mức độ nhất định sẽ mang lại lợi ích
cho các chủ thể.
• Sở hữu chéo sẽ hỗ trợ nguồn vốn cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, tạo
điều kiện trao đổi kinh nghiệm, nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ giữa các đối tác:
Sở hữu chéo hình thành nên một cơ cấu sở hữu và quản trị ổn định trong các doanh nghiệp,
ngân hàng sẽ giúp các chủ thể tận dụng được nguồn vốn của các đối tác, mở rộng quy mô
sản xuất; tận dụng cơ hội kinh doanh trên thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các
bên tham gia; hình thành danh mục đầu tư tối ưu, tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro trong
hoạt động, góp nâng cao hiệu quả quản trị tài chính nói riêng và quản trị kinh doanh nói
chung.
phát triển theo mô hình “sở hữu tài sản” (là những công ty có năng lực huy động vốn từ
nhiều nhà đầu tư khác nhau. Số vốn này được dùng để đầu tư vào các công ty hoặc tài sản
khác nhau và tổ chức theo các hình thức công ty con, công ty liên doanh hoặc liên kết. Khác
với mô hình quỹ đầu tư, mô hình này không nhằm mục đích mua đi, bán lại các công ty, tài
sản để tạo nguồn thu trong ngắn hạn mà chủ yếu nhằm gia tăng quy mô của tổ chức kinh
doanh.) Chiến lược sở hữu tài sản được Masan xác định khá rõ: chỉ đầu tư chi phối vào
những công ty có khả năng dẫn đầu thị trường, trước mắt là tiêu dùng và tuyên bố không
đầu tư vào bất động sản. Và một đặc điểm khác biệt trong mô hình của Masan là các công
ty con không liên kết hoặc trở thành đối tác của nhau, nghĩa là Techcombank không tài trợ
vốn cho Masan Consumer, hoặc Masan Resources không liên doanh với Masan Consumer.
Các công ty con này đang được điều hành bởi 4 tổng giám đốc.
2.3.3.2 Tác động tiêu cực: Sở hữu chéo tiềm ẩn rủi ro tăng vốn ảo, thâu tóm ngân
hàng và rủi ro hệ thống. Đặc biệt nó gây ra những hệ lụy nghiêm trọng đó là tình trạng
căng thẳng nợ xấu trong thời gian qua.
• Rủi ro tăng vốn ảo: Sở hữu chéo hình thành những khoản vốn khổng lồ nhưng chỉ
có trên giấy tờ, sổ sách mà không được đưa ra thị trường, cho nền kinh tế.
Như đã nói ở trên, các ngân hàng thương mại Việt Nam phải có số vốn điều lệ thực góp
là 1000 tỷ đồng vào năm 2008 và tăng lên 3000 tỷ đồng vào năm 2010. Trong một thời gian
ngắn để tăng được lượng vốn hàng nghìn tỷ đồng không phải là điều đơn giản. Để lách quy
định này, thông qua sở hữu chéo cổ đông của ngân hàng X có thể đi vay vốn của ngân hàng
Y để đầu tư vào ngân hàng X và ngược lại. Tuy nguồn vốn của từng ngân hàng tăng, nhưng
tổng thể nguồn vốn toàn hệ thống thì không hề thay đổi. Tình trạng vốn ảo gây ra bởi sở
hữu chéo sẽ làm sai lệch việc đánh giá rủi ro của hệ thống ngân hàng, bởi đánh giá hoạt
động của một ngân hàng có rất nhiều chỉ số được xác định dựa trên số vốn tự có mà vốn
điều lệ là một yếu tố cấu thành nên vốn tự có của ngân hàng lại có một phần là vốn ảo, do
vậy kết quả tính toán các chỉ số này trong toàn hệ thống còn mang giá trị ảo. Chính kết quả
này kéo theo hệ lụy làm sai lệch về quản trị ngân hàng cũng như việc đánh giá rủi ro, trích
lập dự phòng hay giám sát đối với hoạt động tài chính nói chung.
• Rủi ro thâu tóm đối với hoạt động ngân hàng:
khác bởi những mối liên quan về nguồn vốn kinh doanh. Tiếp đó rủi ro sẽ lan ra hoạt động
của các doanh nghiệp bởi quan hệ giữa dòng vốn đầu tư, cho vay, hoạt động sản xuất kinh
doanh của ngân hàng, bởi mâu thuẫn giữa dòng vốn ảo chỉ có trên sổ sách và hoạt động sản
xuất kinh doanh thực. Đặc biệt khi nó bị lạm dụng để phục vụ lợi ích nhóm hay để che giấu
tình trạng ọp ẹp về tài chính của các doanh nghiệp và ngân hàng có liên quan.
• Nợ xấu là một trong những hệ lụy nghiêm trọng
Nguyên nhân đến từ việc cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại,khi mà hoạt động
này không dựa vào quy định tín dụng chặt chẽ mà chủ yếu từ quan hệ thân thiết “sân sau”.
Các chủ sở hữu có thể tác động gây áp lực để thực hiện cấp tín dụng cho các hoạt động kinh
doanh theo mục đích riêng của mình; hoạt động này được thực hiện với sự qua loa trong
khâu thẩm định, và lỏng lẻo trong thanh tra giám sát, giải ngân và thực hiện khoản vay. Việc
nguồn lực phân bổ không được đánh giá, giám sát đầy đủ sẽ dễ gây ra nợ xấu. Khi đã xuất
hiện nợ xấu, việc xử lý sẽ khó khăn hơn nhiều, do mối quan hệ lằng nhằng của sở hữu chéo.
Đó cũng là một trong những lý do khiến NHNN khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn
bộ hệ thống ngân hàng.
Dẫn chứng thực tế: Ngân hàng TMCP An Bình.
Ngân hàng TMCP An Bình (ABB) có hai cổ đông lớn là Tập doàn điện lực VN (EVN)
và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (Geleximco). Theo quy định của Luật
các tổ chức tín dụng, NHTM không duợc cấp tín dụng cho cổ đông là pháp nhân có dại diện
góp vốn. Hai cổ đông này đều cử đại diện tham gia Hội đồng quản trị của ABB. Ðại diện
của Geleximco (Ông Vũ Văn Tiền) là Chủ tịch HÐQT và các đại diện của EVN (Ông
Nguyễn Văn Hội và ông Ðào Duy Hưng) là thành viên HÐQT của ABB. Tuy nhiên, thông
qua việc đầu tư trái phiếu, ABB đã tài trợ cho cả hai pháp nhân là cổ đông của ngân hàng.
Trong năm 2010, ABB đã tài trợ 1000 tỷ VND cho EVN và 500 tỷ cho Geleximco. Tình
huống ABB còn góp phần giải thích một lý do nữa về việc tại sao các DNNN có động cơ
tham gia góp vốn vào các NHTMCP. Sau khi tham gia góp vốn vào ABB, EVN mở tài
khoản tiền gửi tại chính ngân hàng này. Doanh số tiền gửi của EVN tại ABB trong năm
2010 và 2011 lần luợt là 24.000 tỷ đồng và 9.500 tỷ đồng, số dư tiền gửi ngày 31/12/2010
và 31/12/2011 là 1461 tỷ đồng và 1758 tỷ đồng. Trong bối cảnh các cuộc chạy đua lãi suất
người quản lý, điều hành, cổ đông có ảnh hưởng trọng yếu hoặc nắm quyền kiểm soát đối
với tập đoàn tài chính này đã và đang lợi dụng khe hở pháp lý để thực hiện những giao dịch
có tính chất nội bộ thiếu minh bạch có thể gây rủi ro lớn cho tổ chức tín dụng thuộc tập
đoàn.
Hiện tại có gần tám NHTM cổ phần có quan hệ cổ phần với bốn NHTM nhà nước, tiêu
biểu là Vietcombank, hiện đang sở hữu 11% tại Ngân hàng Quân đội, 8,2% tại Eximbank,
4,7% tại Ngân hàng Phương đông, 5,3% tại Ngân hàng Sài Gòn. Trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh, sở hữu chéo phổ biến dưới hai hình thức là ngân hàng sở hữu lẫn nhau và
doanh nghiệp sở hữu ngân hàng. Từ những thông tin công bố của các ngân hàng, hiện có ít
nhất sáu NHTMCP có cổ đông là một NHTMCP khác. Chẳng hạn, NHTMCP XNK Việt
Nam Eximbank hiện sở hữu 10,6% cổ phần tại Sacombank, 8,5% cổ phần tại Ngân hàng
Việt Á. Hay NHTMCP Hàng Hải (Maritime bank) được sở hữu bởi Agribank trong khi đó
nó lại đang sở hữu NHTMCP Quân đội (MB) và ngân hàng phát triển Mê Kông (MDB)….
Sở hữu NHTMCP bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân: trong giai đoạn bùng
nổ các NHTMCP và quỹ đầu tư tài chính, rất nhiều tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã
tham gia góp vốn hình thành các tổ chức tín dụng này. Hiện tại có khoảng gần 40 các doanh
nghiệp nhà nước và tư nhân có sở hữu trên 5% tại các NHTMCP. Hơn nữa, hầu hết các tập
đoàn nhà nước đều có các công ty tài chính. Ví dụ như tập đoàn điện lực EVN đầu tư 24,3%
vào ngân hàng An Bình, tập đoàn dầu khí Petro Việt Nam đầu tư vào ngân hàng dầu khí
Toàn Cầu, hai tập đoàn kinh tế nhà nước là tập đoàn Than – Khoáng sản và tập đoàn Cao Su
đều đầu tư hơn 6% vào NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội,… Mối quan hệ giữa NHTMCP với
các tập đoàn tư nhân ngày càng trở nên phức tạp. Nhiều ngân hàng có thể được sở hữu bởi
rất nhiều công ty gia đình hoặc các thành viên gia đình vốn đồng thời lãnh đạo ở các doanh
nghiệp khác.
Hình 1: Sở hữu chéo giữa 2 NHTMCP
Hình 2: Sở hữu chéo giữa NHTMCP và doanh nghiệp
Việc sử dụng lợi thế sở hữu và kiểm soát vận hành ngân hàng để ảnh hưởng đến các ngân
hàng này cũng phải vay vốn từ các ngân hàng khác để đáp ứng yêu cầu. Vấn đề sở hữu chéo
và những bất cập của nó có thể phát sinh từ đây, gắn với việc chuyển đổi các ngân hàng
nông thôn lên đô thị, sau đó là yêu cầu tăng nhanh và mạnh vốn điều lệ từ cỡ vài trăm tỷ
đồng lên 3000 tỷ. Như vậy thì nguồn để tăng vốn lấy từ đâu? Mặc dù theo quy định thì các
ngân hàng không được cho các cổ đông của mình vay vốn nhưng các ngân hàng có thể lách
quy định này bằng cách cho các công ty con của các doanh nghiệp vay vốn. Ngoài ra, việc
sở hữu chéo giữa các ngân hàng cũng tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp sở hữu ngân
hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ ngân hàng kia. Đây là một trong những nguyên
nhân khiến nợ xấu, nợ quá hạn “dắt dây” trong toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng của
Việt Nam. Tác hại và thiệt hại từ hành vi này bắt đầu được nhắc tới khi nền kinh tế Việt
Nam rơi vào khó khăn, cộng đồng doanh nghiệp suy kiệt nguồn lực, khó tiếp cận nguồn vốn
ngân hàng. Sở hữu chéo trở nên nghiêm trọng với những cáo buộc vi phạm pháp luật dành
cho những nhân vật như Nguyễn Đức Kiên và nhóm lãnh đạo ngân hàng ACB.Việc tái cơ
cấu ngân hàng là không dễ dàng, nó đang chậm lại do vấn đề nợ xấu, đặc biệt là tính chất sở
hữu chồng chéo giữa các ngân hàng, lợi ích nhóm.Vì lẽ đó, việc khoanh lại nhóm các ngân
hàng yếu kém để tái cấu trúc không hề dễ dàng, nếu không có quyết tâm về mặt chính sách
và không có một quy tắc mạch lạc trong việc xác định loại ngân hàng tái cơ cấu, biện pháp
tái cơ cấu, các biện pháp kiểm soát đặc biệt của Nhà nước, và tôn trọng sự thật về các chỉ
số, tránh để khủng hoảng niềm tin xảy ra thì sẽ khó thực hiện được tái cơ cấu ngân hàng.
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT SỞ HỮU CHÉO
3.1 Tách bạch sở hữu và giám sát đối với NHTMNN
Cần tách bạch giữa việc sở hữu, quản lý của NHNN đối với NHTMNN: NHNN cần
được độc lập trong việc giám sát hoạt động của các NHTM. Theo đó, cần tách bạch giữa
việc sở hữu, quản lý của NHNN đối với các NHTMNN.
Nhất quán trong quá trình giám sát các NHTM. Các NHTMNN cần chịu sự giám sát
chặt chẽ như các NHTMCP khác. Không có ngoại lệ trong giám sát: Một quan điểm cần
nhất quán khi giám sát các NHTM là không có ngoại lệ trong việc tuân thủ quy định bảo
đảm an toàn hoạt động. Các NHTMNN cần chịu sự giám sát chặt chẽ như các NHTMCP
khác. Việc duy trì các ngoại lệ trong giám sát đối với các dự án vay vốn của các tổng công