Tiểu luận môn QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM - Pdf 23

MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
Thực hiện : Nhóm 05
Lớp : TCNH - Đêm 4 – K23
GVHD : PGS.TS. Trương Quang Thông
Họ và Tên: Cao Hòa Đức
Lớp: 114221.04
Ngành: Quản trị Kinh doanh
Giảng viên hướng dẫn:
KẾ HOẠCH KINH DOANH PHÁT TRIỂN
XƯỞNG MAY ĐỨC TÂM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO E-LEARNING
TP. Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2014
DANH SÁCH NHÓM
STT MSHV Họ và tên Giới tính Ngày sinh
1 7701230417 Võ Hữu Đông Nam 11/03/1991
2 7701230531 Vũ Thị Kim Hồng Nữ 01/01/1991
3 7701230639 Lê Mộng Linh Nữ 20/08/1991
4 7701230795 Cao Hồng Phúc Nữ 03/11/1991
MỤC LỤC
Khái niệm về Ngân Hàng Đầu Tư 4
1.1. Khái niệm 4
1.2. Mô hình tổ chức của một Ngân hàng Đầu tư 4
1.3. Các Nghiệp vụ chính của một ngân hàng đầu tư 4
1.4. Phân biệt Ngân hàng Đầu tư với các định chế tài chính khác 7
1.4.1. Phân biệt Ngân hàng Đầu tư với Công ty Chứng khoán 7
1.4.2. Phân biệt giữa Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Thương mại 7

1.1. Khái niệm.
Ngân hàng đầu tư (NHĐT) - Investment Bank: là một định chế đóng
vai trò như một trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là tư vấn và thực
hiện huy động vốn trên thị trường trung dài hạn, đối tượng khách hàng chính
của ngân hàng đầu tư là các tổ chức, công ty và chính phủ, không phải là khách
hàng cá nhân.
1.2. Mô hình tổ chức của một Ngân hàng Đầu tư.
 Xét theo chiều ngang: Một NHĐT thường được chia làm 3 bộ
phận chính: Bộ phận kinh doanh (Ngân hàng đầu tư, Quản lý đầu tư, Ngân hàng
thương mại, Nghiên cứu thị trường, Tư vấn chiến lược), bộ phận quản trị rủi
ro(Quản lý rủi ro, Quản lý tài chính, Tư vấn luật pháp), Bộ phận điều hành (Điều
hành, kỹ thuật)
 Xét theo chiều dọc: NHĐT được chia làm 6 nghiệp vụ chính: Khối
NH đầu tư, khối đầu tư, Khối Nghiên cứu, Khối quản lý đầu tư, Khối ngân hàng
bán buôn, Khối nhà môi giới chính.
 Xét theo dòng sản phầm: NHĐT có 2 dòng sản phẩm chính là sản
phẩm có thu nhập cố định và sản phẩm có chứng khoán vốn.
1.3. Các Nghiệp vụ chính của một ngân hàng đầu tư.
Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (Investment Banking)
Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư truyền thống bao gồm dịch vụ tư vấn, bảo
lãnh phát hành chứng khoán cho khách hàng, do đó có thể coi là nghiệp vụ trên
thị trường sơ cấp. Các loại chứng khoán bao gồm chứng khoán nợ (trái phiếu) và
chứng khoán vốn (cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi).
Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư dần được mở rộng ra bao gồm tư vấn mua
bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A), tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp. Nghiệp vụ
này sử dụng kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp và vì
thế là nghiệp vụ nối dài của nghiệp vụ phát hành chứng khoán huy động vốn.
Dịch vụ tư vấn M&A bao gồm tư vấn mua bán, sáp nhập, thành lập liên doanh,
liên minh chiến lược, thoái vốn đầu tư và tư vấn chiến lược chống lại các cuộc
thôn tính thù nghịch.

bẩy tài chính (leveraged finance), các thỏa thuận tín dụng lớn như cho vay đồng
tài trợ và tài trợ dự án.
Một mảng quan trọng của ngân hàng bán buôn thuộc dòng sản phẩm
chứng khoán vốn là đầu tư vốn tư nhân (private equity). Bản chất của nghiệp vụ
này là việc ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp chưa niêm yết có tiềm năng
để phát triển làm tăng giá trị thông qua tái cơ cấu tài chính và hoạt động. Hai
hình thức thông dụng của nghiệp vụ đầu tư vốn tư nhân là đầu tư mạo hiểm
(venture capital) hoặc đầu tư mua doanh nghiệp thông qua đòn bẩy tài chính
(LBO). Quá trình đầu tư sẽ kết thúc bằng việc thoái vốn thông qua niêm yết
GV: PGS. TS. Trương Quang Thông Trang: 5
Hoạt động Ngân hàng Đầu tư tại Việt Nam
doanh nghiệp được đầu tư lên thị trường chứng khoán hoặc bán cho một bên
thứ ba. Một cách ít thông dụng hơn, ngân hàng đầu tư vào công ty niêm yết và
thoái sàn (de-list) để trở thành doanh nghiệp tư nhân nhằm hạn chế sự quan tâm
của công chúng và các cơ quan giám sát thị trường. Sau quá trình phát triển và
tái cơ cấu lại, ngân hàng sẽ thoái vốn đầu tư theo cách thông thường là tái niêm
yết lên thị trường chứng khoán.
Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn là một hoạt động tự doanh mang tính rủi
ro cao. Với đối tượng đầu tư là các sản phẩm thay thế, thời hạn nắm giữ sản
phẩm thường dài hơn so với nghiệp vụ đầu tư các sản phẩm chứng khoán truyền
thống.
Nghiệp vụ quản lý đầu tư (Investment Management)
Quản lý đầu tư ngày càng trở thành một mảng kinh doanh quan trọng của
ngân hàng đầu tư nhờ mức độ rủi ro thấp và thu nhập ổn định. Quản lý đầu tư có
thể phân thành nghiệp vụ quản lý tài sản và nghiệp vụ quản lý gia sản.
Quản lý tài sản bao gồm quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư cho
các khách hàng tổ chức.
Quản lý gia sản hay dịch vụ ngân hàng cá nhân (private banking) là một
khái niệm mới hình thành trong vài thập kỷ qua với dịch vụ tư vấn và quản lý tài
sản cho các khách hàng là những cá nhân và gia đình giàu có.

• Hoạt động chủ yếu trên thị trường vốn
• Các nghiệp vụ tương đồng với nhau (Môi giới, tư vấn đầu tư, bảo
lảnh phát hành, ….)
 Khác nhau
Ngân hàng Đầu tư Công ty Chứng khoán
-Quy mô lớn
-Nhóm KH của NHĐT là các nhà đầu tư
có tổ chức
-Hoạt động như một công ty quản lý
quỹ
-Tính chất nghiệp vụ phức tạp
-Quy mô tương đối nhỏ hơn
-Nhóm KH vừa là nhà đầu tư cá nhân,
nhà đầu tư tổ chức.
-Không được phép hoạt động như cty
quản lý Quỹ
-Tính chất nghiệp vụ đơn giản hơn
1.4.2. Phân biệt giữa Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Thương mại.
NHĐT và NHTM là các tổ chức trung gian tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn
của các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trong nền kinh tế.
Ngân hàng Đầu tư Ngân hàng Thương mại
-Hoat động chủ yếu trên TT vốn -Chủ yếu hoạt động trên TT tiền tệ.
GV: PGS. TS. Trương Quang Thông Trang: 7
Hoạt động Ngân hàng Đầu tư tại Việt Nam
-Nghiệp vụ chính liên quan đến môi
giới, tư vấn phát hành chứng khoán,
hoạt động đầu tư…
-Lợi nhuận từ hoạt động môi giới, tư
vấn phát hành….
-Các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trực

được mức siêu lợi nhuận.
Đạo luật Glass – Steagall đã là nền móng vững chắc cho sự phát triển của
ngành ngân hàng ở Mỹ trong suốt 66 năm. Nhưng sau đó đã bị thay thế bởi đạo
luật Gramm - Leach – Bliley vào năm 1999.
Đạo luật Gramm – Leach – Bliley (1999)
GV: PGS. TS. Trương Quang Thông Trang: 8
Hoạt động Ngân hàng Đầu tư tại Việt Nam
Trước áp lực phá bỏ rào cản và sự can thiệp của Chính Phủ tới hệ thống
ngân hàng nhằm xây dựng một thị trường tự do hoàn toàn, vào năm 1999, Tổng
thống Clinton trước khi mãn nhiệm kỳ đã ký đạo luật Gramm – Leach – Bliley,
chính thức xóa bỏ đạo luật Glass – Steagall.
Nội dung chính của đạo luật Gramm – Leach – Bliley chính là xóa bỏ sự
tách bạch giữa NHTM và NHĐT, cho phép thành lập Ngân hàng Tổng hợp
(Universal Bank). Điều này có nghĩa là, NHĐT cũng được phép huy động tiền gửi
từ nhân dân và đầu tư vào những tài sản rủi ro như chứng khoán, hoặc là bất
động sản…
Tuy nhiên, do chính sách tín dụng cho vay lãi suất thấp đã gây ra sự tăng
trưởng ảo dẫn đến sự phát triển nóng của thị trường bất động sản.Hệ thống tài
chính – ngân hàng của Mỹ không chịu được gánh nặng này, đã dẫn đến cuộc
khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong gần 80 năm qua, ảnh hưởng không những
Mỹ mà còn cả trên toàn thế giới.
Giai đoạn 2008 – 2009 cũng chứng kiến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng
đầu tư tại Mỹ, trước thời điểm đó, có 5 ngân hàng đầu tư độc lập lớn nhất nước
Mỹ là Lehman Brothers, Bear Stearns, Merrill Lynch, Goldman Sachs và Morgan
Standley; cuộc khủng hoảng đã xóa sổ 3 trong số 5 ngân hàng đầu tư độc lập đó
mang lại nhiều bài học quý giá cho hệ thống tài chính ngân hàng.
Đạo luật Dodd – Frank (2010)
Sau khủng hoảng, những điểm yếu của hệ thống tài chính Mỹ và cơ chế thị
trường ngày càng lộ rõ, sự kích thích xu hướng chạy theo các hoạt động rủi ro
cao nhằm sinh lời trong ngắn hạn nhưng lại thiếu sự giám sát của Chính Phủ là

quỹ tư nhân và chỉ được nắm giữ tối đa 3% số cổ phiếu của các quỹ này; áp dụng
các khoản phí và hạn chế mới đối với các ngân hàng lớn trong nước, đặt ra các
giới hạn đối với thị trường phái sinh trị giá 450.000 tỷ USD
Đạo luật này có mang lại hiệu quả tốt cho hoạt động ngân hàng về mặt lâu
dài hay không vẫn còn phải chờ thời gian để xem xét và đánh giá, nhưng trước
mắt, đạo luật này cũng mang lại một số kết quả tích cực như là bảo vệ người tiêu
dùng, thu hẹp quy mô hoạt động đầu tư tín dụng, nhất là những hoạt động rủi ro
và mạo hiểm, thành lập thêm các định chế cần thiết nhằm tăng cường cho sự ổn
định chung của nền tài chính quốc gia và quốc tế.
Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động Ngân hàng Đầu tư tại Việt Nam.
Hiện tại chưa có một khung pháp lý cụ thể nào điêu chỉnh trực tiếp hoạt
động của Ngân hàng đầu tư ở Việt Nam, một phần là do chưa có một ngân hàng
đầu tư thuần nào hoạt động ở Việt Nam mà chủ yếu chỉ là các quỹ đầu tư và công
ty chứng khoán có những nghiệp vụ mang màu sắc tương tự như một ngân hàng
đầu tư, hay một số ngân hàng có vài nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư bên cạnh
hoạt động chính là ngân hàng thương mại.
Vậy nên có thể nói chưa có khung pháp lý cụ thể nào điều chỉnh trực tiếp
hoạt động của ngân hàng đầu tư ở Việt Nam mà chỉ có khung pháp lý điều chỉnh
GV: PGS. TS. Trương Quang Thông Trang: 10
Hoạt động Ngân hàng Đầu tư tại Việt Nam
hoạt động của các công ty quản lý quỹ, các công ty chứng khoán và các ngân
hàng thương mại là: Luật Chứng Khoán (Quy định về các nghiệp vụ liên quan đến
môi giới, tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành, tự doanh, quản lý quỹ….), luật các tổ
chức tín dụng (Liên quan đến hoạt động ngân hàng, tài trợ thương mại, dịch vụ
ngân hàng…), và luật cạnh tranh (Liên quan đến các nghiệp vụ đầu tư, M&A….).
Bên cạnh các luật điều chỉnh trực tiếp trên, còn có một số luật liên quan như:
Luật doanh nghiệp (Quy định về loại hình doanh nghiệp, tỷ lệ cổ phần trong công
ty…), Luật đầu tư, Luật thuế, Luật dân sự….
Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư tại Việt Nam hiện nay.
Do chưa có bất kì NHĐT thuần nào thành lập tại Việt Nam, cho nên những

công cụ nợ khác, Ngân hàng đã giúp khách hàng huy động vốn thông qua chào
bán riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng. Điển hình như Công ty Chứng khoán
Bảo Việt đã hỗ trợ phát hành trái phiếu thành công cho Công ty Cổ phần M&C và
Công ty Cổ phần Tanimex…
Các mảng nghiệp vụ khác:
Tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp: NHĐT đã triển khai dựa trên khảo
sát toàn diện và đánh giá tổng thể, chi tiết hiện trạng, rà soát mô hình hoạt động,
cơ cấu tài chính, cơ cấu tài sản, cơ cấu nợ, cũng như dòng tiền của từng khách
hàng… Từ đó đưa ra các sản phẩm, cấu trúc tài chính phù hợp với đặc thù ngành
nghề và năng lực tài chính của từng khách hàng. Bên cạnh đó, NHĐT còn tư vấn
cho khách hàng để cải thiện đáng kể cấu trúc chi phí, giảm quy mô vốn bị chiếm
dụng cũng như giảm các khoản dư nợ ngắn và dài hạn, giảm quy mô tài sản tạo
nên một đồng doanh thu từ đó tăng hiệu quả khai thác tài sản và tăng cường
tính thanh khoản. Hoạt động này đã được thực hiện thành công tại Công ty
Chứng khoán Bảo Việt với khách hàng là Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát,
Công ty Cổ phần Kinh Đô, Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiên Long hay Công ty
Chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BSC) với các khách
hàng là Công ty Cổ phần Thuận Thảo, Tập đoàn Tuần Châu…
Tư vấn thu xếp vốn: NHĐT là trung gian tư vấn của bên đi vay và bên
cho vay để đáp ứng kịp thời và đủ nhu cầu vốn của dự án. Nhờ vào uy tín của
mình mà NHĐT đã tư vấn thu xếp kịp thời nguồn vốn cho các công ty để phục vụ
hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Có thể hiểu là ngân hàng được
khách hàng ủy quyền và sẽ địa diện khách hàng làm việc với bên cho vay để thu
xếp khoản vốn theo yêu cầu. Với hoạt động này Công ty Chứng khoán Ngân hàng
Đầu tư và phát triển Việt Nam đã tư vấn cho Tập đoàn than khoáng sản Việt
Nam (Nacomin) hay tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai…
Tư vấn sáp nhập và mua bán công ty: Ngân hàng tư vấn giúp khách
hàng triển khai hiệu quả việc mua bán - sáp nhập giúp khách hàng doanh nghiêp
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển thương hiệu và kênh phân
phối, tăng cường danh mục sản phẩm, dịch vụ của mình, tạo ra lợi thế cạnh tranh

khoảng 1.45 dân số, trong đó số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài tăng
55%. Số công ty chứng khoán vào năm 2013 là 94 công ty 14 công ty quản lý quỹ.
Giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán 2011 chiếm 20% tổng GDP,
năm 2012 là 24% và năm 2013 là 31% trên tổng GDP. Tuy có sự tăng trưởng qua
các năm nhưng so với mặt bằng chung của thế giới và khu vực thì vẫn cón ở mức
thấp, cho thấy tiềm năng ở Việt Nam trong dài hạn còn rất lớn.
GV: PGS. TS. Trương Quang Thông Trang: 13
Hoạt động Ngân hàng Đầu tư tại Việt Nam
Bên cạnh đó, số lượng công ty niêm yết mới trong năm 2013 chỉ tăng 13
công ty (so với 25 công ty niêm yết mới năm 2012) và 37 công ty hủy niêm yết do
không bảo đảm điều kiện niêm yết, vi phạm chế độ công bố thông tin, thực hiện
tái cấu trúc công ty ).
Mặc dù chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và những
bất ổn của tình hình kinh tế vĩ mô trong nước nhưng thị trường vốn Việt Nam
vẫn hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Quá trình cổ phần hóa
được chú trọng, Chính phủ ban hành Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011
thay thế Nghị định 109/2009/NĐ-CP và mới nhất là Quyết định số 929/QĐ-TTg
ngày 17/7/2012 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ
phần. Nhiệm vụ đặt ra trong 2 năm 2014 - 2015 phải tiến hành cổ phần hóa hết
432 doanh nghiệp nhà nước .
Giai đoạn 2007 đến 2009, Việt Nam đã tiến hành cổ phần hóa một số
doanh nghiệp lớn như: tập đoàn Bảo hiểm Việt Nam, Đạm Phú Mỹ, Công ty Tài
chính dầu khí (PVFC), ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân
hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank)… mặc dù quá trính cổ phần hóa diễn
ra còn rất chậm so với kế hoạch và cách thức cổ phần hóa các doanh nghiệp lớn
cũng còn nhiều tốn tại cần khắc phục, song việc cổ phần hóa những doanh nghiệp
nồng cốt đã thể hiện cam kết của Việt Nam đối với quá trình chuyển đổi và hội
nhập kinh tế quốc tế.Song song đó, xuất hiện nhu cầu niêm yết tại thị trường
nước ngoài của các doanh nghiệp trong nước lớn như Tổng công ty sữa Việt
Nam, Chứng khoán Sài Gòn, Tập đoàn FPT, Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Thương

Lợi nhuận của Ngân hàng đầu tư thông thường đến từ hoạt động. Một là
từ huy động vốn và M&A, Ngân hàng đầu tư được hưởng một khoảng phí trên số
tiền huy động được của khách hàng. Hai là từ môi giới, Ngân hàng đầu tư nhận
một khoảng phí mua và bán cổ phiếu trên sàn chứng khoán và ba là từ đầu tư.
Hầu hết lợi nhuận của các Ngân hàng đầu tư nhỏ chỉ đến từ hoạt động thứ nhất,
các Ngân hàng đầu tư lớn thì lợi nhuận thu được ở cả 3 hoạt động. Phần lớn rủi
ro đến từ hoạt động thứ 3, vì nó phụ thuộc rất nhiều vào biến động thị trường.
Khung pháp lý
GV: PGS. TS. Trương Quang Thông Trang: 15
Hoạt động Ngân hàng Đầu tư tại Việt Nam
Tuy nhiên, so với các thị trường phát triển khác trong khu vực như
Singapore chỉ có 26 CTCK, Malaysia có 33 CTCK và Thái Lan có 39 CTCK, trong
khi đó tại Việt Nam hiện đang có trên 100 CTCK hoạt động nhỏ lẻ cho thấy sự
phát triển thiếu chuyên nghiệp và chưa có định hướng dài hạn. Do đó, tiến trình
đào thải, sáp nhập lẫn nhau của các CTCK có thể sẽ diễn ra trong thời gian tới để
hình thành các NHĐT vững mạnh và chuyên nghiệp hơn, đủ sức cạnh tranh với
các CTCK 100% vốn nước ngoài sẽ được phép thành lập và hoạt động từ năm
2012.
Cơ quan quản lý trong nước đang phải đối mặt với nhiều thách thức.
Trước tiên, để lĩnh vực NHĐT trở thành một ngành kinh tế tài chính chuyên
nghiệp, cần thiết phải xây dựng khung pháp lý về việc thành lập, tổ chức, cơ chế
hoạt động và giám sát các NHĐT một cách độc lập, có sự phân biệt rõ ràng giữa
2 mô hình NHTM và Ngân hàng đầu tư, tiến tới thành lập các ngân hàng tổng
hợp và các tập đoàn tài chính vững mạnh.
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần sớm đưa ra quy định về các sản phẩm
tài chính mới như sản phẩm phái sinh, trái phiếu cơ cấu, các sản phẩm hình
thành từ chứng khoán hóa và trái phiếu có lợi suất cao, từ đó các CTCK phát
triển thành những dịch vụ tài chính của mình nhằm bổ sung vào lĩnh vực kinh
doanh. Một lực cản lớn đối với việc phát triển thị trường các sản phẩm có thu
nhập cố định nói chung và thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng là Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status