Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới:
PGS.TS Lưu Thị Hương đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực hiện chuyên đề.
Anh chị tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương chi nhánh Hai
Bà Trưng đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong thời gian thực tập.
Gia đình và bạn bè đã luôn động viên và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
tốt chuyên đề.
Xin chân thành cảm ơn!
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHCT VN : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương
Việt Nam.
NHCT HBT : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương
chi nhánh Hai Bà Trưng.
NHNN : Ngân hàng nhà nước.
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
DNVVN tồn tại và phát triển ở tất cả các quốc gia trên thế giới như một thành
phần tất yếu của nền kinh tế. Ở Việt Nam, DNVVN chiếm tới trên 90% số doanh
nghiệp và đóng góp đáng kể vào mục tiêu tăng trưởng ngân sách nhà nước, tạo
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
Ngân hàng Thương mại là tổ chức tài chính đặc biệt quan trọng, được hình
thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Ngân hàng
Thương mại ngày nay chiếm tỉ trọng lớn nhất cả về thị phần, qui mô, tài sản và số
lượng trong hệ thống tài chính. Trải qua một thời gian dài với nhiều biến động của
nền kinh tế, có rất nhiều khái niệm Ngân hàng Thương mại đã được hình thành.
Theo pháp lệnh ngân hàng 23/5/1990 của Hội Đồng Nhà nước: “ Ngân hàng
Thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu thường xuyên là
nhận tiền gửi khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay,
thực hiện nghĩa vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Luật tổ chức tín dụng của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi “
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán”.
Một cách tiếp cận khác, dựa trên những dịch vụ mà ngân hàng mang lại: Ngân
hàng thương mại là tổ chức tài chính tiền tệ cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán,
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế.
Đặc điểm của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
trên lĩnh vực tín dụng với mục đích thu lợi nhuận. Cũng giống các tổ chức tín dụng
khác, mục đích cuối cùng của Ngân hàng thương mại chính là lợi nhuận, tối đa hóa
thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu các giấy tờ có giá hoặc tái cấp
vốn. NHNN đóng vai trò người cho vay cuối cùng của Ngân hàng thương mại, khi
đó Ngân hàng thương mại phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát, chỉ
có thể được vay trong một hạn mức nhất định. Nguồn vay từ các tổ chức tín dụng là
nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay các tổ chức tín dụng khác trên thị
trường liên ngân hàng. Nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu
dự trữ và chi trả cấp bách, trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho
nguồn vay mượn từ NHNN. Và cũng giống như các doanh nghiệp khác, các ngân
hàng cũng có thể vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ ( kỳ phiếu, tín phiếu,
trái phiếu) trên thị trường vốn.
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
3
Chuyên đề tốt nghiệp
• Các nguồn khác
Ngoài hai kênh huy động vốn trên, ngân hàng còn có thể huy động vốn ở các
nguồn như nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán …Đặc điểm của các nguồn này là
phần lớn các ngân hàng không phải trả lãi, tuy nhiên chi phí để có và duy trì nó là
không nhỏ. Nhìn chung, các nguồn khác trong ngân hàng thường không lớn. Việc
gia tăng các nguồn này nằm trong chính sách tăng nguồn thu cho ngân hàng và bị
ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng thực hiện và mở rộng các loại hình dịch vụ khác.
* Sử dụng vốn
Nếu hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là huy động vốn để sử dụng
nhằm thu lợi nhuận thì việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các tài sản khác
nhau của ngân hàng, trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan trọng.
• Hoạt động cho vay cho vay và đầu tư
Hoạt động cho vay là một nghiệp vụ tín dụng điển hình nhất trong hoạt động
tín dụng của ngân hàng, hoạt động cho vay chiếm tỉ trọng cao nhất về doanh thu và
số lượng giao dịch. Đồng thời đây cũng là dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất cho
ngân hàng và được các ngân hàng quản lý chặt chẽ bằng việc kiểm soát qua nhiều
phòng ban để đưa ra các quyết định cho vay, qua đó thực hiện chức năng trung gian
quỹ đồng thời triển khai các hoạt động dịch vụ tới các quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch
của ngân hàng, đẩy nhanh tiến độ hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt
- Hoạt động chiết khấu thương phiếu: chiết khấu thương phiếu là việc ngân
hàng ứng trước tiền cho ngân hàng ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu
nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Thu nhập của ngân
hàng từ hoạt động này chính là số tiền chiết khấu, vì có tối thiểu hai người cam kết
trả tiền cho ngân hàng nên độ an toàn của thương phiếu tương đối cao. Ngoài ra
thông qua thương phiếu, các doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh nhờ
việc quay vòng vốn nhanh.
1.1.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Cho vay là một hoạt động nằm trong các hoạt động tín dụng của ngân hàng,
thông qua hoạt động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế
dưới hình thức phân phối vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội để
đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ kinh doanh và đời sống.
Cho vay là hoạt động mà theo đó ngân hàng thương mại chuyển một lượng
tiền cho khách hàng sử dụng với điều kiện khách hàng phải sử dụng số tiền đó đúng
mục đích và hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong một khoảng thời gian xác định.
* Các nguyên tắc cho vay của ngân hàng
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên tắc
nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời của khoản vay. Các
nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các qui định của NHNN và các ngân hàng
thương mại.
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn và lãi trong thời gian xác định. Do
các khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn, ngân hàng phải hoàn trả cả gốc và
lãi theo cam kết do đó ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện
đúng cam kết này. Đây cũng là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển.
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Ở Việt Nam, theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng và quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN/ngày 31/12/2000 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
+ Cho vay ngắn hạn: Là khoản cho vay có thời hạn dưới 1 năm, được sử
dụng để bù đắp vốn sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp. Đây là khoản
có lãi suất cho vay và rủi ro thấp nhất do thời hạn hoàn vốn nhanh, hạn chế được
các yếu tố rủi ro về lãi suất, lạm phát cùng như các yếu tố rủi ro từ môi trường
kinh tế đem lại.
+ Cho vay trung hạn: Là khoản vay có thời hạn cho vay từ 1 năm đến 5
năm.Thông thường được các doanh nghiệp sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản
cố định, cải tiến, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, cơ sở vật chất, mở rộng sản
xuất kinh doanh.
+ Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối
đa có thể lên đến 20-30 năm. Cho vay dài hạn được cung cấp để đáp ứng các
nhu cầu dài hạn như tài trợ xây dựng cho các công trình xây dựng cơ bản như
nhà cửa, sân bay, cầu đường, đầu tư trang thiết bị.
Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay
Trong nhiều trường hợp, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản
đảm bảo khi nhận tín dụng. Khách hàng luôn phải đối đầu với rủi ro trong kinh
doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng, những biến cố này có thể
đem lại cho ngân hàng những tổn thất lớn. Chính vì vậy, trừ những khách hàng
có uy tín cao, phần lớn khách hàng phải có tài sản bảo đảm khi nhận tín dụng
của ngân hàng. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh
của bên thứ ba.
Theo căn cứ trên, cho vay được chia thành 2 loại:
* Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản
* Cho thuê: bao gồm 2 loại cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài
sản cho thuê bao gồm bất động sản, trong đó chủ yếu là máy móc, thiết bị.
Phân loại theo phương thức hoàn trả
Theo phương thức hoàn trả thì các khoản cho vay còn có thể được phân
chia theo hai loại sau:
* Cho vay hoàn trả một lần: là cho vay mà khoản vay sẽ được hoàn trả
duy nhất một lần và vào thời gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có
thể được hoàn trả theo thoả thuận trong hợp đồng (theo tháng, theo quý hoặc
theo năm.)
* Cho vay trả góp: là hình thức cho vay trong đó việc hoàn trả được tiến
hành theo định kỳ, các khoản này có thể bằng nhau hoặc không tuỳ theo thoả
thuận và được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện
hợp đồng.
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Thông thường, các ngân hàng thương mại thường áp dụng phương thức trả
một lần đối với cho vay ngắn hạn còn phương thức trả góp thì dùng cho các
khoản cho vay trung và dài hạn.
Phân loại theo xuất xứ tín dụng
* Cho vay trực tiếp: trước khi cấp tiền ra ngân hàng có mối liên hệ trực
tiếp đối với người vay để thẩm định khách hàng, xem xét tình hình người vay.
* Cho vay gián tiếp: là hình thức ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức
xã hội nhưng không trực tiếp cho vay khách hàng.
Việc phân loại theo xuất xứ tín dụng giúp ngân hàng đánh giá, lựa chọn
cách thức cho vay cũng như khách hàng tốt nhất, trên cơ sở đó nghiên cứu thể
lệ và chính sách tín dụng phù hợp.
Phân loại theo đối tượng cho vay
* Cho vay cá nhân : Hiện nay, cho vay cá nhân đang ngày càng được ngân
hàng chú trọng và tăng trưởng cao. Một số loại hình cho vay cá nhân chủ yếu hiện
Trên thực tế các nước căn cứ chủ yếu vào hai tiêu chí cơ bản là vốn sản
xuất, số lượng lao động thường xuyên để phân biệt DNVVN với các doanh
nghiệp lớn. Hiện tại Việt Nam cũng đang sử dụng hai tiêu thức này để phân
loại doanh nghiệp. Trong các thời kỳ khác nhau các tiêu chí đánh giá lại có giới
hạn khác nhau để phù hợp với tình hình phát triển phản ánh đúng thực trạng
của nền kinh tế.
Công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/6/1998, đưa ra khái niệm về
DNVVN là các doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh
doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD
tại thời điểm ban hành công văn). Tiêu chí này đặt ra mục đích xây dựng một cách
chung nhất về các DNVVN ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách.
Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và
cực nhỏ.
Vì vậy, tiếp đó Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày 23/11/2001 đã
đưa ra định nghĩa chính thức về các DNVVN như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ
là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật
hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng
năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế cụ thể của từng ngành, từng
địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể
linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ
tiêu nói trên.”
Còn theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP, nghị định về trợ giúp phát triển
DNVVN, DNVVN được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ vừa và nhỏ là cơ
sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba
cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương
tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số
lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” cụ thể như sau:
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
10
Chuyên đề tốt nghiệp
và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200 người
đến
300 người
III. Thương mại
và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người
đến 100 người
“Nguồn: ”
- Từ 50 người đến dưới 100 người 3
- Dưới 50 người 1
3 Doanh thu thuần - Từ 200 tỷ VND trở lên 40
- Từ 100 tỷ VND đến dưới 100 tỷ VND 30
- Từ 50 tỷ VND đến dưới 100 tỷ VND 20
- Từ 20 tỷ VND đến dưới 50 tỷ VND 10
- Từ 5 tỷ VND đến dưới 20 tỷ VND 5
- Dưới 5 tỷ VND 2
4 Nộp ngân sách - Từ 10 tỷ VND trở lên 15
- Từ 7 tỷ VND đến dưới 10 tỷ VND 12
- Từ 5 tỷ VND đến dưới 7 tỷ VND 9
- Từ 3 tỷ VND đến dưới 5 tỷ VND 6
- Từ 1 tỷ VND đến dưới 3 tỷ VND 3
- Dưới 1 tỷ VND 1
(Nguồn: Sổ tay tín dụng NHCT VN)
Căn cứ vào thang điểm trên, các doanh nghiệp được xếp loại thành quy
mô lớn, vừa và nhỏ như sau :
Điểm Quy mô
Từ 70 - 100 điểm Doanh nghiệp lớn
Từ 30 - 69 điểm Doanh nghiệp vừa
Dưới 30 điểm Doanh nghiệp nhỏ
(Nguồn: Sổ tay tín dụng NHCT VN)
Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bên cạnh những đặc điểm vốn có của một doanh nghiệp, thì các DNVVN
còn có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
- DNVVN là loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư ban đầu thấp, thu hồi
vốn nhanh. Tuy nhiên đó cũng là một lợi thế của các chủ đầu tư vì việc đầu tư
vốn sản xuất không yêu cầu quá lớn, hơn nữa chu kỳ sản xuất của các doanh
nghiệp này thường ngắn nên vòng quay của mỗi đồng vốn là nhanh. Hầu hết
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
hoá thấp, đặc biệt là số lao động trong các cơ sở kinh doanh nhỏ. Hầu hết các
DNVVN ở Việt Nam hoạt động mang tính chất tự phát, thiếu sự định hướng,
việc tổ chức sản xuất kinh doanh chưa khoa học vì khả năng chuyên môn của
người lao động không đủ để có thể sử dụng các máy móc dây chuyền công
nghệ hiện đại. Việc gia nhập cộng đồng kinh tế thế giới càng làm cho các chủ
doanh nghiệp trở nên bỡ ngỡ trước những cơ hội kinh doanh mới. Để khắc
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
13
Chuyên đề tốt nghiệp
phục những mặt hạn chế này thì bản thân doanh nghiệp phải có sự tự vận động
và kết hợp chặt chẽ với sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo đội ngũ công
nhân, thợ lành nghề có kỹ thuật cao, đội ngũ cán bộ quản lý giỏi mới có thể đáp
ứng được yêu cầu cạnh tranh, hội nhập trong thời kỳ mới.
- Thị trường tiêu thụ của các DNVVN ở Việt Nam rất nhỏ hẹp, khả năng
cạnh tranh thấp, một phần là do sự độc quyền của các doanh nghiệp lớn, mặt
khác là do thị trường có nhiều sản phẩm làm giả, hàng nhập lậu. Với quy mô
vốn nhỏ nên DNVVN rất hạn chế trong việc tiếp thị và khai thác ở thị trường
nước ngoài, thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp này chỉ bó hẹp ở trong thị
trường nội địa. Yếu kém trong việc tiếp cận thông tin thị trường, các dịch vụ hỗ
trợ kinh doanh cùng với sự hạn chế về mặt tài chính dẫn đến việc nhập khẩu
nguyên liệu sản xuất cũng như xuất khẩu sản phẩm sang các đối tác nước ngoài
hết sức khó khăn.
Năng lực cạnh tranh của các DNVVN Việt Nam hiện nay còn quá thấp.
Trong nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, các doanh nghiệp thường
xuyên phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh mới, đó là các công ty xuyên
quốc gia, các công ty đa quốc gia có tiềm lực rất lớn về tài chính, công nghệ và
năng lực cạnh tranh cao. Đối với các DNVVN của Việt Nam vốn nhỏ về quy
mô và năng lực cạnh tranh thì đây quả là một sự thách thức to lớn. Một nguyên
nhân rất quan trọng khiến các DNVVN không có đủ sức cạnh tranh là do khả
năng tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng. Đây là vấn đề được hầu hết
cao trong kinh doanh bao gồm hai nguồn cơ bản: vốn tự có và vốn đi vay. Thông
thường các doanh nghiệp thích sử dụng vốn vay vì ít tốn chi phí mà còn được
hưởng phần tiết kiệm nhờ thuế và không làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu của chủ
doanh nghiệp. Còn việc sử dụng vốn tự có để hoạt động sản xuất kinh doanh không
những hạn chế khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn
làm tăng chi phí vốn, do đó việc sử dụng vốn tự có ít được ưu tiên. DNVVN có thể
có được khoản vốn vay thông qua tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và việc
phát hành trái phiếu. Tuy nhiên việc vay vốn thông qua phát hành trái phiếu đối với
DNVVN là rất khó khăn, vì vậy nguồn vốn vay ngân hàng là nguồn vốn vay quan
trọng nhất. Vốn vay ngân hàng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng
quan hệ của các DNVVN. Trong nền kinh tế thị trường, năng lực cạnh tranh mang
tính sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh càng
cao thì càng có ưu thế về sản phẩm dich vụ cung cấp cho khách hàng. Vay vốn ngân
hàng không những giúp cho các DNVVN giải quyết được các nhu cầu về vốn mà
còn giúp tiếp cận được các nguồn thông tin về khách hàng, thị trường.
- Hoạt động cho vay đóng vai trò gián tiếp điều chỉnh cơ cấu vùng, lãnh thổ.
Khu vực DNVVN được xem như khu vực thu hút nhiều lao động, góp phần vào
giải quyết công ăn, việc làm cho xã hội. Vì vậy, khi ngân hàng mở rộng cho vay thì
sẽ tạo điều kiện giúp các DNVVN thu hút được nhiều lao động hơn. Qua đó, hoạt
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
15
Chuyên đề tốt nghiệp
động cho vay của ngân hàng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Với việc mở
rộng cho vay DNVVN sẽ ngày càng thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng
hiệu quả sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Từ đó tạo đà cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, đồng thời góp phần kiềm
chế và đẩy lùi lạm phát, thực hiện ổn định tài chính.
Đặc điểm hoạt động cho vay đối với DNVVN của ngân hàng thương mại
- Qui mô hợp đồng cho vay thường nhỏ nhưng ngân hàng vẫn phải thực
hiện các thủ tục cho vay bao gồm tất cả các công đoạn như tìm hiểu thông tin về
không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng hay doanh nghiệp mà còn chịu nhũng tác động
của yếu tố từ môi trường bên ngoài.
Chất lượng cho vay là hiệu quả mà việc cho vay đem lại, là khả năng thu hồi
đầy đủ cả gốc và lãi vay đúng hạn. Khi ngân hàng đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu
vay vốn hợp lý của khách hàng, phù hợp với khả năng của ngân hàng, được khách
hàng sử dụng đúng mục đích tạo ra số tiền lớn hơn và hoàn trả được ngân hàng cả
gốc và lãi đúng thời hạn thì có thể nói chất lượng cho vay của ngân hàng đối với
doanh nghiệp là tốt. Vốn vay của ngân hàng tạo ra hiệu quả kinh tế và xã hội.
Chất lượng cho vay được xét trên các quan điểm khác nhau như sau:
- Chất lượng cho vay đối với ngân hàng: một khoản vốn cho vay được coi là
có chất lượng khi phạm vi, giới hạn, mức độ cho vay phù hợp với khả năng của
ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc cho vay chung, hạn chế thấp nhất mức độ rủi ro
trong suốt quá trình kinh doanh. Ngân hàng hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển
nhưng đồng thời phải đảm bảo được khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc lẫn lãi trong
thời hạn đã qui định. Đứng trên giác độ của ngân hàng, nâng cao chất lượng cho vay
đối với DNVVN là tăng khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý của DNVVN
với lãi suất và kỳ hạn phù hợp, tăng khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn và
nâng cao hiệu quả kinh tế của món vay mang lại.
- Chất lượng cho vay đối với khách hàng: chất lượng cho vay đối với
DNVVN là vốn vay ngân hàng được đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu của doanh
nghiệp, số vốn đó được doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh
một cách đúng mục đích, hiệu quả để tạo ra được một số tiền lớn hơn, đủ để trang
trải chi phí và có lợi nhuận làm cơ sở cho việc hoàn trả khoản vay ngân hàng.
Khoản vay phải có phải có lãi suất, kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, không làm mất
nhiều thời gian của khách hàng. Điều quan trọng là việc sử dụng các khoản vay phải
hợp lý và mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
- Chất lượng cho vay đối với nền kinh tế: chất lượng cho vay được thể hiện ở
việc khoản cho vay của ngân hàng phục vụ tốt sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp
phần giải quyết công ăn việc làm, tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế, thúc đẩy
quá trình tích tụ tập trung sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp
nên cho doanh nghiệp đó vay vốn hay không.
Các chỉ tiêu định lượng
• Chỉ tiêu dư nợ cho vay DNVVN
Dư nợ cho vay DNVVN
Tỷ trọng dư nợ cho vay = x 100%
DNVVN Tổng dư nợ cho vay
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ tiêu này cho thấy qui mô nợ cho vay của doanh nghiệp trong tổng dư nợ
cho vay của toàn ngân hàng. Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp cao hay
thấp cho thấy hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp đạt kết quả tốt hay chưa tốt.
• Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng cho vay DNVVN
Dư nợ cho vay DNVVN năm sau
Tốc độ tăng trưởng cho vay = x 100%
DNVVN Dư nợ cho vay DNVVN năm trước
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tăng trưởng hoạt động cho vay đối với
DNVVN của ngân hàng. Tốc độ tăng trưởng cho vay năm sau cao hay thấp hơn
năm trước cho thấy qui mô tín dụng của ngân hàng tăng hay giảm, ngân hàng có tạo
ra được uy tín đối với doanh nghiệp hay không.
• Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn đối với cho vay DNVVN
Dư nợ quá hạn DNVVN
Tỷ lệ nợ quá hạn đối với = x 100%
DNVVN Tổng dư nợ cho vay DNVVN
Chỉ tiêu nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay
của ngân hàng, nó cho biết những rủi ro cho vay mà ngân hàng có thể gặp phải.
nhìn vào tỉ lệ nợ quá hạn có thể đánh giá được một phần chất lượng cho vay của
ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này cao thì ngân hàng sẽ bị đánh giá là có chất lượng
cho vay thấp và ngược lại. Tuy nhiên, nợ quá hạn là một vấn đề khó tránh khỏi
trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Vì vậy điều quan trọng là ngân hàng cần
doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả và chất lượng cho vay của ngân hàng có tốt
hay không.
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.3.1 Nhân tố chủ quan
- Chính sách cho vay của ngân hàng
Chính sách cho vay là kim chỉ nam cho hoạt động cho vay của ngân hàng, có ý
nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Chính sách cho vay
Vũ Thị Thu Hoài Lớp: TCDN 48A
20
Chuyên đề tốt nghiệp
của ngân hàng hướng dẫn chung cho cán bộ và công nhân viên ngân hàng, tạo sự
thống nhất trong hoạt động nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao khả năng sinh lời. Chính
sách cho vay bao gồm nhiều chính sách như: chính sách khách hàng; chính sách qui
mô và giới hạn cho vay; chính sách lãi suất, chính sách về thời hạn cho vay và kỳ
hạn nợ; chính sách liên quan đến tài sản bảo đảm…Chính sách cho vay phải phù
hợp với đường lối phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước đã đề ra, đồng thời phối
hợp hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng với người sử dụng
vốn vay, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi vay vốn cũng như đảm
bảo an toàn trong cho vay của các ngân hàng thương mại nhưng đồng thời vẫn đảm
bảo mức sinh lời cho ngân hàng. Để đạt được như vậy, chính sách cho vay phải
được xây dựng một cách khoa học và thực tiễn.
- Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng là một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến
chất lượng cho vay của ngân hàng. Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có
thể đưa ra những quyết định cần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo
tiền vay, nâng cao hiệu quả tín dụng, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Thông tin tín dụng
có thể thu thập được từ các nguồn thông tin sẵn có của ngân hàng, hay từ các ngân
hàng, các đối thủ cạnh tranh…Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần quan tâm đến tình
hình kinh tế xã hội xu hướng phát triển cạnh tranh của ngành nghề, những yếu tố có