LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm trở lại đây, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã không ngừng
phát triển cả về số lượng và chất lượng hoạt động kinh doanh và ngày càng
khẳng định những đóng góp quan trọng của mình vào sự phát triển kinh tế đất
nước. Với nhiều đổi mới trong các chính sách, Chính phủ đã tạo nhiều điều kiện
thuận lợi để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Trong quá trình tồn tại và
phát triển của mình, nhu cầu vốn để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn. Chính vì vậy, đối
với các ngân hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ được đánh giá là đối tượng tiềm
năng lớn, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể tăng lợi nhuận, mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, một thực tế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp nhiều khó khăn
trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng cũng như việc sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn vay. Ngoài ra, bản thân các ngân hàng cũng còn nhiều hạn
chế trong công tác cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhận thấy được tầm quan trọng và tiềm năng lớn từ đối tượng khách hàng
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong những năm gần đây, Ngân hàng TMCP
Nhà Hà Nội đã chú trọng hơn đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay
đến bộ phận khách hàng này. Tuy nhiên, dù đã có được nhưng kết quả nhất định
nhưng chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng
TMCP Nhà Hà Nội vẫn còn những mặt hạn chế. Sau quá trình thực tập tại Ngân
hàng TMCP Nhà Hà Nội, qua việc tìm hiểu và nghiên cứu thực tế công việc tại
Ngân hàng, đề tài “Nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội” đã được chọn làm chuyên đề tốt
nghiệp.
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 phần chính:
CHƯƠNG 1: CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI
ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.2.1Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng thương mại.
Đây là hoạt động đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động
của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn là hoạt động khởi đầu, tạo nền móng
cho mọi hoạt động của ngân hàng thương mại. Nguồn vốn của ngân hàng bao
gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải có một lượng vốn
nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang
thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn mà ngân hàng nắm giữ nhưng lại là nguồn vốn có ý nghĩa
quan trọng vì nó phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng, do vậy nó quyết
định quy mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tiến hàng kinh
doanh, thu hút những nguồn vốn khác và cho vay. Nguồn hình thành loại vốn
này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng,
yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Tuỳ theo tính chất sở hữu, vốn chủ sở
hữu có thể do ngân sách Nhà nước cấp, do các cổ đông đóng góp thông qua mua
cổ phần hoặc cổ phiếu, do các bên liên doanh góp hay vốn thuộc sở hữu tư nhân;
ngoài ra còn có các nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ,
nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
Vốn nợ
Vốn nợ của ngân hàng thương mại có thể được huy động dưới nhiều hình
thức khác nhau như: nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức và các tổ chức tín
dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn hay các loại
tiền gửi khác;Vay trên thị trường vốn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu,
tín phiếu, trái phiếu); Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác, vay vốn ngắn hạn
ngân hàng Nhà nước và các hình thức huy động khác như các nguồn từ uỷ thác,
nguồn trong thanh toán và các nguồn khác.
Cho vay là một hoạt động vô cùng quan trọng của NHTM. Mục tiêu của
ngân hàng thương mại là lợi nhuận, vì thế, để tạo ra lợi nhuận, các ngân hàng
thương mại cần phải cho vay. Hoạt động này đóng vai trò quan trọng đối với
ngân hàng nói riêng và với nền kinh tế nói chung. Đối với nền kinh tế nó thúc
đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, góp phần cung cấp kịp thời vốn cho
sản xuất và kinh doanh cũng như cung cấp vốn cho các cá nhân tiêu dùng hay
cho Chính phủ để đầu tư phát triển đất nước. Với các NHTM, cho vay là hoạt
động sinh lời lớn nhất cho ngân hàng. Đây là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất
ở phần lớn các NHTM.
NHTM thể cho vay dưới nhiều phương thức khác nhau như: thấu chi, cho
vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả
góp, cho vay gián tiếp. Ngân hàng có thể cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu
cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống; cho vay trung và dài hạn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Đầu tư
Là đơn vị kinh doanh tiền tệ nên NHTM là người nắm vững các thông tin
cũng như tình hình kinh tế khá rõ nên có thể nói các NHTM là người đầu tư có
hiệu quả nhất. Các NHTM thường dùng vốn chủ sở hữu và các vốn dài hạn để
đầu tư vào các công ty liên doanh, các dự án…, trở thành cổ đông của các công
ty cổ phần.
1.1.2.3 Các hoạt động trung gian
Khi mới ra đời, các ngân hàng thường có hai hoạt động chính là nhận tiền
gửi và cho vay, nhưng cùng với sự phát triển của thị trường tài chính cũng như
sự phát triển của trình độ khoa học công nghệ nói chung và công nghệ ngân hàng
nói riêng, các NHTM không chỉ đơn thuần thực hiện hai hoạt động trên mà còn
mở rộng ra các hoạt động khác. NHTM đóng vai trò trung gian tài chính khi thực
hiện các dịch vụ bao gồm: dịch vụ thanh toán, uỷ thác và nhận uỷ thác, cung ứng
dịch vụ bảo hiểm và tư vấn tài chính.
+ Dịch vụ thanh toán: Nền sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, các hình
thức thanh toán cũng ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Vì vậy, nhu cầu đòi
DNVVN. Tuỳ vào điều kiện và tình hình kinh tế mà mỗi nước sẽ quy định riêng
về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc xác định quy mô DNVVN chỉ mang tính chất
tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của đất
nước, tính chất ngành nghề và điều kiện của một vùng lãnh thổ nhất định hay
mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Tuy nhiên việc đưa ra một
khái niệm về DNVVN cho riêng mình có vai trò quan trọng trong việc đưa ra
chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NĐ – CP của Chính phủ ngày 23
tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã định
nghĩa: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng
ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10
tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”
1.2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phát triển DNVVN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong
quá trình phát triển của mình, DNVVN đã bộc lộ những ưu điểm nhưng cũng có
những không ít nhược điểm. Việc nhận rõ được những điểm mạnh cũng như
điểm yếu sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có biện pháp khắc phục khó khăn
để nâng cao chất lượng hoạt động và khả năng cạnh tranh, đồng thời cũng là một
trong những tiêu chí để các ngân hàng đánh giá một cách tương đối chính xác về
khách hàng của mình từ đó nâng cao được chất lượng các khoản cho vay.
Điểm mạnh của DNVVN
- Quy mô vừa và nhỏ nên có tính năng động, linh hoạt
Quy mô vốn nhỏ đã tạo ra những mặt thuận lợi cho các DNVVN. Với số
vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn cao do đó các nhà đầu tư dễ lựa
chọn loại hình doanh nghiệp này khi quyết định thành lập công ty. Vốn đầu tư
ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh vì phần lớn các DNVVN hoạt động
trong lĩnh vực thương mại, sản xuất nhỏ nên sản phẩm dễ tiêu thụ, chu kỳ kinh
doanh ngắn, thu hồi vốn nhanh hơn những doanh nghiệp lớn. Do việc thu hồi
vốn ban đầu trong thời gian ngắn nên khả năng quay vòng vốn, tái đầu tư, mở
rộng sản xuất kinh doanh dễ dàng hơn.
như thế nên 90% số doanh nghiệp phải tự huy động, vay vốn các nguồn để sản
xuất kinh doanh. Nguồn vay chủ yếu của các DNVVN là tín dụng ngân hàng, tuy
nhiên các doanh nghiệp lại thường khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng của
các ngân hàng do thiếu tài sản có giá trị lớn để thế chấp. Việc thiếu vốn sẽ làm
doanh nghiệp bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh, gặp khó khăn trong việc mua sắm các
thiết bị máy móc, mở rộng sản xuất.
Thứ hai: Máy móc ít, công nghệ lạc hậu, khả năng và điều kiện áp dụng tiến
bộ kĩ thuật rất hạn chế, lao động thủ công nhiều là một trong những hạn chế của
các DNVVN. Hạn chế này cũng bắt nguồn từ việc thiếu vốn của DNVVN. Tỷ lệ
đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7% so với
20% của thế giới. Đây chính là nguyên nhân của tình trạng lãng phí trong sử
dụng năng lượng, nguyên vật liệu và ô nhiễm môi trường. Công nghệ lạc hậu
làm tăng chi phí lên 1,5 lần đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá
thành cao và nâng suất thấp
Thứ ba: Năng lực quản lý, điều hành của người lãnh đạo và chất lượng lao
động tác nghiệp còn thấp. Do trong các DNVVN người sở hữu vốn đồng thời là
người quản lý, chủ doanh nghiệp nên hiểu biết về quản trị doanh nghiệp còn
nhiều hạn chế. Số lượng công nhân và người đứng đầu công ty được đào tạo chỉ
chiếm hơn 20%. Cơ cấu nghề nghiệp không cân đối, phần lớn đào tạo ngắn hạn,
rất ít nhân sự kĩ thuật và kĩ thuật đầu đàn, năng suất lao động thấp, năng lực quản
lý yếu. Những người lãnh đạo các DNVVN thường không có sự hiểu biết cặn kẽ
về luật lệ kinh doanh trong nước cũng như luật lệ quốc tế.
Thứ tư: DNVVN có thị trường chỉ chiếm một thị phần nhỏ nên họ gặp nhiều
áp lực về thâu tóm, xoá sổ từ phía các doanh nghiệp lớn. Việc phát triển thị
trường, thương trường, xây dựng thương hiệu của các DNVVN mới ở giai đoạn
đầu. Các DNVVN chưa thật sự chú trọng đến việc mở rộng thị trường, chưa chú
trọng đầu tư vào khâu phân tích, dự đoán xu thế chung của thị trường để phát
triển và xây dựng những chiến lược lâu dài mà chủ yếu chỉ kinh doanh mang tính
chất thời vụ đáp ứng nhu cầu tức thì của thị trường.
1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế
kinh doanh xuất nhập khẩu, DNVVN nhất là các doanh nghiệp kinh doanh các
mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thuỷ sản đã chủ động tìm kiếm
và khai thác thị trường quốc tế, qua đó tích cực tăng kim ngạch xuất khẩu, thu
ngoại tệ cho đất nước. Với những ưu thế về ngành nghề, tính nhạy cảm của thị
trường cao, các DNVVN có nhiều thuận lợi trong việc sản xuất và cung ứng các
sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Số lượng
DNVVN tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu chiếm 80,6%, nhập khẩu chiếm
84,2% tổng số doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu trong cả nước.
Tăng việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Với số lượng các DNVVN chiếm 97% tổng số doanh nghiệp nên tạo ra việc
làm cho một số lượng lớn người lao động, giải quyết tình trạng thất nghiệp. Do
sự phân bố rộng khắp và khá đa dạng trong ngành nghề kinh doanh, hơn nữa lại
không đòi hỏi trình độ cao, DNVVN đã và đang thu hút rất nhiều lao động ở
thành thị và nông thôn, từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động,
cải thiện đời sống và hạn chế các tệ nạn xã hội. Các DNVVN cung cấp khoảng
50% khối lượng việc làm cho nền kinh tế. Các DNVVN đã đóng góp một phần
đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế.
Tạo sự năng động, hiệu quả và góp phần làm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế
Với ưu thế về tính linh hoạt và lượng vốn yêu cầu tương đối nhỏ, DNVVN
có khả năng chuyển đổi mặt hàng, chuyển đổi hướng sản xuất, đổi mới công
nghệ cho phù hợp với môi trường kinh doanh. Các DNVVN cũng linh hoạt trong
việc chuyển hướng kinh doanh từ các ngành nghề kém hiệu quả sang các ngành
khác hiệu qủa hơn, thoả mãn nhu cầu của dân cư một cách tốt nhất. Chính vì vậy,
các DNVVN làm cho nền kinh tế năng động hơn. Sự phát triển nhanh chóng của
các DNVVN cả về chất lượng và số lượng đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh
hoạt cho nền kinh tế.
Với việc rất nhiều các DNVVN được thành lập tại các vùng nông thôn,
miền núi, vùng sâu vùng xa đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, làm giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và
nhu cầu vay vốn của các ngân hàng là rất lớn. Chính vì vậy, cho vay các
DNVVN đang được rất nhiều NHTM quan tâm hiện nay.
Cho vay đối với DNVVN tại NHTM là một hình thức cấp tín dụng theo đó
NHTM giao cho DNVVN một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích nhất định
theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
1.2.2.2 Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các NHTM hiện này áp dụng một số hình thức cho vay cơ bản đối với
DNVVN là cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân
chuyển, ngoài ra còn có cho vay hợp vốn, cho vay thấu chi, cho vay tài trợ dự án
và một số hình thức cho vay khác.
• Cho vay trực tiếp từng lần
Là hình thức cho vay khá phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng
không có nhu cầu vốn thường xuyên hoặc ngân hàng muốn kiểm tra, giám sát
việc sử dụng vốn vay chặt chẽ hơn.
Đối với hình thức này doanh nghiệp phải tiến hành đủ các thủ tục cần thiết
và kí kết hợp đồng tín dụng mỗi lần vay vốn. Khi có nhu cầu, doanh nghiệp đến
ngân hàng xin vay một khoản tiền cho mục đích sử dụng của doanh nghiệp như
thanh toán tiền hàng, nguyên vật liệu cũng như các chi phí sản xuất kinh doanh
khác.
Số tiền cho vay của ngân hàng được xác định dựa trên nhu cầu vay vốn của
doanh nghiệp, tài sản đảm bảo và khả năng hoàn trả của doanh nghiệp cũng như
khả năng nguồn vốn của ngân hàng. Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ được xác
định tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo từng
kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách
hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả, nếu thấy
dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá
hạn.
• Cho vay theo hạn mức
Là hình thức cho vay mà ngân hàng và doanh nghiệp xác định và thoả thuận
một hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Hạn
Số tiền chi vượt quá của khách hàng phải nằm trong hạn mức thấu chi. Các
khoản chi vượt quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và đình chỉ sử dụng
hình thức này. Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ
thu nợ gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả được tính theo công thức:
Lãi phải trả = Lãi suất thấu chi × Thời gian thấu chi × Số tiền thấu chi
Thấu chi dựa trên cơ sở thu chi của khách hàng, vì vậy, sự không phù hợp về
thời gian và quy mô của các khoản thu và chi sẽ được giải quyết. Do đó, hình
thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh
toán: chủ động, nhanh, kịp thời.
• Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa vào sự luân chuyển hàng hóa. Khi doanh nghiệp
mua hàng có thể sẽ gặp phải tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời, do đó doanh
nghiệp có thể yêu cầu ngân hàng cho vay và ngân hàng sẽ thu nợ khi doanh
nghiệp bán được hàng.
Đầu thời kì kinh doanh, doanh nghiệp muốn vay vốn cần làm đơn xin vay
luân chuyển. Doanh nghiệp và ngân hàng sẽ thoả thuận về hạn mức tín dụng,
phương thức giải ngân, trả nợ, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu
thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong một hay vài năm. Đây là
thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với doanh nghiệp và quyết định
sẽ cho vay nữa hay không tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Việc cho vay dựa vào sự luân chuyển của hàng hóa nên đòi hỏi cả ngân
hàng và doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá, phân
tích được luồng tiền ra vào của doanh nghiệp. Khi có nhu cầu vay vốn, doanh
nghiệp gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn chứng minh việc mua hàng hoá
và số tiền cần vay. Sau đó ngân hàng sẽ xem xét cho vay hay không và trả tiền
cho người bán, theo hình thức này thu nhập bán hàng là nguồn chi trả cho ngân
hàng. Hình thức cho vay này thường được áp dụng đối với doanh nghiệp trong
ngành thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có chu kì tiêu thụ
ngắn ngày, có quan hệ thường xuyên với ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo
quan mật thiết đến rủi ro cho vay hay hiểu một cách khác là rủi ro tín dụng. Rủi
ro trong hoạt động cho vay là một loại rủi ro chủ yếu của NHTM và luôn luôn
tồn tại trong các ngân hàng. Khi rủi ro tín dụng xảy ra với ngân hàng, các khoản
dư nợ đủ tiêu chuẩn của ngân hàng sẽ giảm đi đồng thời là việc gia tăng các
khoản nợ quá hạn, nợ xấu. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chất lượng cho vay
theo đó sẽ giảm đi.
Một ngân hàng có chất lượng cho vay thấp sẽ ảnh hưởng tình hình huy
động vốn của ngân hàng, đồng thời cũng ảnh hưởng lớn đến thu nhập của ngân
hàng. Ngược lại, ngân hàng có chất lượng cho vay tốt sẽ thể hiện được tình hình
tài chính lành mạnh, thu nhập ổn định bền vững, nâng cao uy tín ngân hàng và
bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Như vậy, chất lượng cho vay là một vấn đề rất
quan trọng đối với mỗi một ngân hàng thương mại và các ngân hàng phải có
những sự quan tâm đúng mức để chất lượng cho vay ngày càng được tốt hơn.
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ của ngân hàng thương mại
1.3.2.1 Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ trong hoạt động cho
vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thoả
thuận ghi trong hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ không trả được vào kì hạn
nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn. Chỉ
tiêu về nợ quá hạn phản ánh mức độ an toàn của hoạt động cho vay của ngân
hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ =
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, nợ khó đòi hay
có khả năng mất vốn. Ngân hàng càng có nhiều khoản nợ quá hạn thì chất lượng
cho vay càng thấp và rủi ro càng cao.
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn và nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho thấy các khoản
nợ quá hạn cho vay đối với DNVVN chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư
nợ đối với DNVVN và trong tổng các khoản cho vay của ngân hàng. Đây là chỉ
1.3.2.3 Thu nhập từ hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay doanh nghiệp là hoạt động cơ bản mang
lại thu nhập cao cho ngân hàng. Vì thế, để đánh giá chất lượng cho vay đối với
DNVVN phải xem xét đến tỷ trọng thu nhập của hoạt động cho vay DNVVN
trong tổng thu nhập của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng
sinh lời của các khoản vay càng lớn và cho thấy chất lượng của khoản cho vay
càng tốt và ngược lại
Để đánh giá được đúng chất lượng hoạt động cho vay DNVVN của NHTM
cần kết hợp phân tích các chỉ tiêu với nhau, từ đó đánh giá những kết quả đạt
được và hạn chế mà ngân hàng cần khắc phục. Để khắc phục được những điểm