1
Danh mục các chữ viết tắt
NH: ngân hàng
NHTM: ngân hàng thương mại
NH TMCP: ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN: ngân hàng nhà nước
Southernbank – Hà Nội: ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam chi nhánh Hà Nội
KH: khách hàng
DN: doanh nghiệp
DNV&N: doanh nghiệp vừa và nhỏ
LS: lãi suất
TS: tài sản
TNHH: trách nhiệm hữu hạn
2
Danh mục các bảng
Trang
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của Southernbank – Hà Nội
31
Bảng 2.2. Tình hình cho vay của Southernbank – Hà Nội
33
Bảng 2.3. Tình hình thanh toán quốc tế của Southernbank – Hà Nội
34
nhỏ
của
43
Bảng 2.7. Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ theo thời hạn cho vay của
Southernbank – Hà Nội
44
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế Việt Nam, số doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng
tăng và hiện chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này
đóng góp trên 45% vào GDP, nhưng đang gặp khó khăn về vốn, nhất là việc
tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Ngoài ra, Việt Nam đang phát triển nền
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Nhờ đó, các ngân hàng thương
mại có nhiều cơ hội để phát triển nhưng phải hoạt động trong môi trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt. Vì vậy, các ngân hàng thương mại Việt Nam có điều
kiện để mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, song thực tế cũng đòi hỏi
họ phải có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ.
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
nói chung và chi nhánh Hà Nội nói riêng đã được định hướng tập trung vào
phục vụ khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, doanh số cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
chi nhánh Hà Nội còn thấp so với yêu cầu đặt ra của ngân hàng.
Bởi vậy, đề tài “Mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân
Huy động vốn là hoạt động tạo vốn cho NHTM thực hiện các hoạt động
khác nên nó có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của NH.
NHTM huy động vốn dưới các hình thức: nhận tiền gửi của các tổ chức, cá
nhân và các tổ chức tín dụng khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và
giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân; vay vốn của tổ
chức tín dụng khác; vay vốn ngắn hạn của NHNN;… Tiền gửi của các tổ
chức, cá nhân là một trong những khoản mục quan trọng nhất trong nguồn
vốn của NHTM.
Hoạt động thanh toán
Khi KH gửi tiền vào NH, NH không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các
lệnh chi trả cho KH. Thanh toán qua NH đã mở đầu cho thanh toán không
5
dùng tiền mặt với các tiện ích như: an toàn, chính xác, nhanh chóng, tiết kiệm
chi phí. Hoạt động thanh toán của NHTM gồm: cung ứng các phương tiện
thanh toán; thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho KH; thực hiện
dịch vụ thu hộ và chi hộ; thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế nếu được
NHNN cho phép; thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho KH; tổ chức hệ
thống thanh toán nội bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên NH trong nước và
tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế nếu được NHNN cho phép;…
Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động tài trợ của NH cho KH. Đây là hoạt động sinh lời
lớn nhất song lại có rủi ro cao. Dó đó, nó là hoạt động quan trọng nhất trong
các hoạt động sử dụng vốn của NHTM, quyết định hiệu quả kinh doanh của
NH. Các nghiệp vụ tín dụng gồm: chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê TS, bảo
lãnh, cho vay,…
Chiết khấu giấy tờ có giá là việc NH cấp tín dụng bằng cách mua giấy
tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của KH. Tái chiết khấu là việc NH mua lại
này. Đây là điều kiện để NH tồn tại và phát triển.
KH phải cam kết sử dụng tiền vay theo mục đích được thỏa
thuận với NH, không trái với các qui định của pháp luật và các quy định khác
của NH cấp trên. Mục đích cho vay được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm
bảo NH không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc cho vay đó là
phù hợp với cương lĩnh của NH.
NH cho vay dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả. Thực
hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất. Phương án
hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi được
vốn đầu tư và có lãi để trả nợ NH. Các khoản cho vay của NH phải gắn liền
7
với việc hình thành TS của người vay. Trong trường hợp xét thấy kém an
toàn, NH đòi hỏi người vay phải có TS đảm bảo khi vay.
* Hoạt đông cho vay của NHTM có thể được phân loại theo nhiều tiêu
thức khác nhau như: theo phương thức cho vay (cho vay từng lần, cho vay
theo hạn mức, thấu chi, cho vay luân chuyển,…); theo thời hạn cho vay (cho
vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn); theo TS đảm bảo (cho
vay có đảm bảo bằng uy tín của chính KH, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố
TS); theo đối tượng (cho vay tài trợ TS lưu động, cho vay tài trợ TS cố định);
theo mục đích (cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng,…).
Cho vay DNV&N là một loại cho vay trong cách phân loại cho vay
theo quy mô của khách hàng. Theo cách phân loại này, cho vay được chia
thành: cho vay cá nhân, cho vay hộ gia đình, cho vay DNV&N, cho vay DN
lớn, cho vay các tổ chức tài chính, cho vay đối với nhà nước. Trong đó, các
khoản cho vay cá nhân, hộ gia đình, DNV&N thường do NH bán lẻ cung cấp;
các khoản cho vay DN lớn, tổ chức tài chính, nhà nước thường do NH bán
buôn cung cấp.
trung học. Do đó, hoạt động của DN thường thiếu định hướng, tổ chức sản
xuất kinh doanh thiếu chặt chẽ, khả năng thu thập, xử lý thông tin, khả năng
nắm bắt các cơ hội thấp.
Công nghệ lạc hậu
Tiềm lực tài chính nhỏ là rào cản lớn đối với DNV&N trong đổi mới
công nghệ. Ngoài ra, DNV&N thường không có khả năng lựa chọn công nghệ
phù hợp và sử dụng công nghệ một cách hiệu quả. Ở Việt Nam, phần lớn
DNV&N sử dụng lao động thủ công, máy móc lạc hậu.
9
Khả năng cạnh tranh thấp
Những đặc điểm trên dẫn đến DNV&N thường có năng lực cạnh tranh
thấp, có thể là năng suất lao động thấp; giá thành sản phẩm cao; sản phẩm có
mẫu mã đơn điệu, tính năng không đa dạng, chất lượng thấp chưa đáp ứng
được yêu cầu của người tiêu dùng; mạng lưới tiêu thu hẹp nên thị phần nhỏ
bé. Khi đối thủ là các DN lớn kinh doanh hiệu quả thì DNV&N khó có thể
thắng thế trong cạnh tranh và rất có nguy cơ bị phá sản, thôn tính.
Thông tin về tình hình tài chính của DNV&N nhiều khi minh bạch
Báo cáo tài chính có thể được lập không đầy đủ hoặc không chính xác
do trình độ kế toán thấp. Khả năng lập kế hoạch yếu nên khó dự báo được nhu
cầu vốn, dòng tiền trong tương lai. Tính trung thực của các báo cáo tài chính
phần lớn không được kiểm toán. Điều đó gây khó khăn cho bên cho vay trong
việc xét duyệt cho vay, vì thế cũng khó khăn cho DN trong việc tiếp cận các
nguồn vốn.
Dễ chuyển đổi
Quy mô nhỏ (bộ máy tổ chức gọn nhẹ, vốn đầu tư vào các phương án
sản xuất kinh doanh không lớn) giúp các DNV&N dễ chuyển đổi phương án
sản xuất kinh doanh, mục tiêu, mô hình hoạt động, cũng như tổn thất không
mức thấu chi.
Cho vay theo hạn mức tín dụng
NH thỏa thuận cấp cho KH hạn mức tín dụng (số dư tối đa tại thời điểm
tính). Trong kì, KH có thể vay – trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt
quá hạn mức tín dụng. Trường hợp NH quy định hạn mức cuối kì, dư nợ trong
kì có thể lớn hơn hạn mức nhưng dư nợ cuối kì không được vượt hạn mức.
Mỗi lần vay, KH chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng
11
từ chứng minh đã mua hàng hoá dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra
tính hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, NH sẽ phát tiền cho KH. Đây là hình
thức cho vay thuận tiện cho những KH vay mượn thường xuyên. Khi KH thu
được tiền, NH sẽ thu nợ, do đó tạo sự chủ động trong quản lí ngân quỹ cho
KH. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên
NH khó kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn từng lần vay.
Cho vay trả góp
NH cho phép KH trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thỏa
thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng với các khoản vay trung và dài
hạn, tài trợ cho TS cố định hoặc hàng lâu bền. Cho vay trả góp có rủi ro cao
do KH thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ
thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Vì thế, LS cho vay trả góp thường
cao nhất trong khung LS cho vay của NH.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
NH cam kết sẵn sàng cho KH vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng
nhất định ngoài hạn mức tín dụng đã được ký ban đầu giữa NH và KH. Hạn
mức tín dụng dự phòng thường được áp dụng trong trường hợp KH muốn
đảm bảo đủ vốn đầu tư cho dự án do mức vốn đầu tư cho dự án có khả năng
tăng lên hoặc mức vốn chủ sở hữu của KH tham gia vào dự án không đủ so
xin vay luân chuyển. Người vay cam kết các khoản vay sẽ được dùng để trả
cho người bán và mọi khoản thu bán hàng đều được dùng để trả vào tài khoản
tiền vay trước khi được trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của KH. Khi
vay, KH chỉ cần gửi đến NH các chứng từ mua hàng, nhập hàng và số tiền cần
vay. NH cho vay và trả tiền cho người bán. KH được đáp ứng nhu cầu vốn kịp
thời, việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn. Cho vay luân chuyển
13
thường được áp dụng với các DN thương nghiệp hoặc DN sản xuất có chu kì
tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay – trả thường xuyên với NH.
Cho vay gián tiếp
Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian (các tổ, đội,
hội, nhóm như nhóm sản xuất, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ).
NH có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung
gian như thu nợ, phát tiền vay. Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảo
lãnh cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho
một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc
không đủ TS thế chấp. Để bù đắp một phần chi phí của trung gian, NH trích
một phần lãi để lại cho trung gian. NH cũng có thể cho vay thông qua người
bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách
này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền vay sai mục đích. Cho vay gián tiếp
thường được áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân
tán, cách xa NH vì nó có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám sát,
thu nợ,…).
1.2.2.2. Quy
trình
biên bản góp vốn, danh sách thành viên sáng lập (nếu là công ty cổ phần,
công ty TNHH); giấy chứng nhận vốn đầu tư ban đầu (nếu là DN tư nhân);
điều lệ DN; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; quyết định bổ nhiệm giám
đốc (tổng giám đốc), kế toán trưởng;…
Hồ sơ về khoản vay: giấy đề nghị vay vốn, phương án sử dụng
vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính, các hợp đồng kinh tế
(đầu vào, đầu ra), và các hồ sơ khác có liên quan.
Hồ sơ về đảm bảo tiền vay: các giấy tờ chứng minh quyền sở
hữu, sử dụng, giá trị của TS hay hợp đồng, biên bản bảo lãnh của bên thứ ba.
Bước 2: phân tích trước khi cho vay
Cán bộ tín dụng tiến hành phân tích trước khi cho vay để xác định khả
năng và thiện chí trả nợ của KH. Nội dung chủ yếu là thu thập và xử lý các
thông tin liên quan đến KH, bao gồm năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả
năng tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu các TS và các điều
kiện kinh tế khác có liên quan đến người vay.
Thông tin được thu thập từ các nguồn: hồ sơ vay vốn của KH; hồ sơ
lưu trữ của NH; bên thứ ba gồm cơ quan quản lý nhà nước, bạn hàng, chủ nợ
của KH, cơ quan kinh doanh thông tin; phỏng vấn trực tiếp; điều tra thực địa.
Từ các thông tin thu thập được, cán bộ tín dụng tiến hành đánh giá về
TS của KH (ngân quỹ, các chứng khoán có giá, hàng hóa trong kho, TS cố
định); đánh giá các khoản nợ về thời gian, chủ nợ, TS đảm bảo, các ưu đãi;
phân tích các dòng tiền vào – ra, chênh lêch giữa chúng; phân tích khả năng
trả nợ của doanh nghiệp thông qua việc sử dụng các tỷ lệ (nhóm tỷ lệ thanh
khoản, nhóm tỷ lệ sinh lời, nhóm tỷ lệ rủi ro); phân tích các điều kiện kinh tế
xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của KH.
15
Bước 3: xây dựng và kí kết hợp đồng tín dụng
khắc phục để trả nợ, và đưa ra được phương án khả thi, NH thường áp dụng
phương án khai thác, bao gồm gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm.
1.2.3. Mở
rộng
cho
vay
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ
của
ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Khái niệm mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của
ngân hàng thương mại
Mở rộng cho vay DNV&N của NHTM có thể hiểu là những việc làm
của NHTM nhằm làm tăng số lượng và quy mô các khoản cho vay DNV&N,
từ đó tăng tổng quy mô cho vay DNV&N.
Quy mô cho vay tăng thì doanh thu từ hoạt động cho vay tăng, khi đó
lợi nhuận của NH sẽ tăng. Hơn nữa, khi vay vốn, các DNV&N sẽ mở tài
Dư nợ cho vay
kỳ này
=
Dư nợ cho vay
Kỳ trước
+
Doanh số cho vay
trong kỳ
-
Doanh số thu nợ
trong kỳ
Dư nợ cho vay DNV&N kỳ này lớn hơn dư nợ cho vay DNV&N kỳ
trước tức là doanh số cho vay trong kỳ lớn hơn doanh số thu nợ trong kỳ.
Điều đó chỉ ra rằng NHTM đang mở rộng cho vay DNV&N.
Để đánh giá mức độ mở rộng cho vay DNV&N của NHTM, cần xét tốc
độ tăng của các chỉ tiêu trên.
Số DNV&N vay được
Tốc độ tăng số DNV&N
vay được vốn NH
Tốc độ tăng
vốn NH kỳ này
DNV&N kỳ này
DNV&N
=
DNV&N kỳ trước
-
Dư nợ cho vay
DNV&N kỳ trước
Dư nợ cho vay DNV&N kỳ trước
Tốc độ tăng của các chỉ tiêu số DNV&N vay được vốn NH, doanh số
cho vay DNV&N của NH, dư nợ cho vay DNV&N của NH càng lớn cho thấy
mức độ mở rộng cho vay DNV&N của NHTM càng cao.
Cũng cần xét tới tỷ trọng doanh số cho vay DNV&N trong tổng doanh
số cho vay của NH, tỷ trọng dư nợ cho vay DNV&N trong tổng dư nợ cho
vay của NH. Nếu các tỷ trọng này ngày càng tăng chứng tỏ NH đang mở rộng
cho vay DNV&N.
1.3.
Nhân tố tác động đến mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
của ngân hàng thương mại
1.3.1. Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan ở đây là nhân tố thuộc về chủ thể thực hiện việc mở
LS là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KH.
Nếu LS cho vay DNV&N của NH giảm sẽ khuyến khích DN vay vốn NH vì
giả cả của vốn vay NH giảm thì lượng cầu về vốn vay NH tăng. Khi đó, số
DNV&N vay vốn NH tăng, quy mô các khoản vay của DNV&N tăng – NH
mở rộng được cho vay DNV&N. Nếu LS cho vay của NH tăng thì cầu về vốn
vay NH giảm, việc cho vay DNV&N của NH có thể bị thu hẹp.
NH áp dụng càng nhiều phương thức cho vay thì đáp ứng được càng
nhiều nhu cầu của KH vay vốn, và việc cho vay DNV&N của NH càng được
mở rộng.
20
Nếu NH áp dụng thời hạn cho vay, kỳ hạn nợ phù hợp với chu kỳ sản
xuất kinh doanh của DNV&N sẽ thuận lợi hơn cho DN và khuyến khích DN
vay vốn NH. Nếu NH đòi hỏi DNV&N sớm trả nợ thì có thể DN chưa có
doanh thu đã đến hạn trả nợ, như vậy không đáp ứng được nhu cầu của KH,
cho vay DNV&N của NH không được mở rộng.
Điều kiện để được vay vốn, nhất là điều kiện về tài sản đảm bảo thường
là trở ngại lớn đối với DNV&N có vốn chủ sở hữu nhỏ, TS thường không đủ
giá trị để đảm bảo tiền vay. Do đó, điều kiện về TS đảm bảo có ảnh hưởng rất
lớn đến khả năng vay vốn của DNV&N từ đó ảnh hưởng đến việc mở rộng
cho vay DNV&N của NHTM.
Một quy trình cho vay nhanh gọn sẽ tiết kiệm thời gian và công sức của
DNV&N vay vốn, khiến DN cảm thấy thuận tiện, sẵn sàng đến vay vốn NH.
Ngược lại, quy trình cho vay rườm rà, phức tạp sẽ làm mất thời gian của
DNV&N, làm DN cảm thấy phiền hà, ngại tiếp cận nguồn vốn vay NH.
1.3.1.3.
Chính sách khác hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của
1.3.1.5. Chất lượng thu thập, xử lý thông tin của ngân hàng thương mại
Thông tin đầy đủ và chính xác có ý nghĩa lớn đối với hoạt động của
NH, nhất là hoạt động cho vay. Thu thập được nhiều thông tin đáng tin cậy
giúp NH đánh giá chính xác về tình hình tài chính của DNV&N, tính khả thi
của dự án, thiện chí trả nợ của DN để đưa ra quyết định cho vay đúng đắn.
Việc ra quyết định cho vay đúng đắn ở đây vừa là không bỏ lỡ KH tốt, vừa là
không cho vay KH không đủ tiêu chuẩn, và các điều khoản trong hợp đồng tín
dụng có lợi cho NH những cũng tạo điều kiện cho DNV&N trả được nợ theo
đúng thỏa thuận. Ngoài ra, chất lượng thông tin thu thập được còn quyết định
tính chính xác trong việc xác định nhu cầu của DNV&N để NH đưa ra biện
pháp đáp ứng các nhu cầu đó của DN trong điều kiện cho phép. Trong khi đó,
việc thiếu thông tin, thông tin sai lệch có thể dẫn đến quyết định sai lầm.
22
1.3.1.6. Trình độ và đạo đức của cán bộ nhân viên ngân hàng
Trong lĩnh vực NH con người là nhân tố vô cùng quan trọng vì sản
phẩm của NH mang tính dịch vụ. Cán bộ nhân viên trực tiếp tạo dựng hình
ảnh của NH, góp phần tăng tính cạnh tranh cho dịch vụ NH. Cán bộ tín dụng
trực tiếp tổ chức và thực hiện cho vay, do đó trình độ, kinh nghiệm, đạo đức
nghề nghiệp của họ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động cho vay của NH.
1.3.1.7. Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố trên, còn có các nhân tố khác tác động đến việc mở
rộng cho vay DNV&N của NHTM như: công tác nghiên cứu thị trường, chất
lượng và tính đa dạng của các dịch vụ NH, mạng lưới hoạt động của NHTM,
và công nghệ NH.
Nếu công tác nghiên cứu thị trường được thực hiện tốt, chi nhánh sẽ
tìm được chính xác KH mục tiêu, từ đó có những biện pháp tiếp thị, đáp ứng
nhu cầu vay vốn và các nhu cầu khác của KH. Do đó, giúp NH mở rộng cho
1.3.2. Nhân tố khách quan
1.3.2.1. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp vừa và nhỏ
KH là đối tượng cho vay của NHTM. Do vậy, tình hình của các
DNV&N là nhân tố quan trọng tác động đến việc mở rộng cho vay DNV&N
của NHTM
Thứ nhất, nhu cầu về vốn của DNV&N lớn dẫn đến cầu về vốn vay NH
lớn, DN tìm đến NH để vay vốn nhiều hơn. Đó là một trong những cơ sở cho
việc mở rộng cho vay DNV&N của NHTM. Nếu nhu cầu về vốn của
DNV&N thấp, họ không muốn vay nhiều vốn NH thì việc mở rộng cho vay
DNV&N của NHTM sẽ không thực hiện được.
24
Thứ hai, tính khả thi của phương án sử dụng vốn, năng lực sản xuất
kinh doanh của DNV&N: NH chỉ cho DNV&N vay nếu phân tích thấy DN có
năng lực sản xuất kinh doanh, phương án sử dụng vốn tốt. Khi đó, DN có tiền
trả nợ NH và tái đầu tư. Ngược lại, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, DN
thua lỗ sẽ không trả được nợ, gây tổn thất cho NH. Hiệu quả của phương án
sử dụng vốn, năng lực sản xuất kinh doanh của DNV&N phụ thuộc nhiều vào
trình độ quản lý của lãnh đạo DN. Những yếu kém trong quản lý thường dẫn
đến nguy cơ làm ăn kém hiệu quả, thất thoát vốn, mất khả năng thanh toán và
có thể dẫn tới phá sản. Khi đó, NH sẽ khó thu hồi vốn. Còn nếu người lãnh
đạo có trình độ quản lý tốt sẽ đưa ra được chiến lược kinh doanh hợp lý, đưa
ra và tổ chức thực hiện những kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu đã đặt ra.
Nhìn vào trình độ quản lý của người lãnh đạo, NH có thể tin tưởng vào sự
phát triển của DN hoặc đánh giá thấp về triển vọng của DN.
Thứ ba, TS đảm bảo tiền vay của DNV&N ảnh hưởng khá lớn đến khả
năng vay vốn NH của DN. Khi cho vay, NH luôn quan tâm tới cả lợi nhuận và
rủi ro. Vì vậy, các khoản vay thường cần TS đảm bảo. Nếu DNV&N không có
Việc mở rộng cho vay DNV&N của NHTM sẽ được tiến hành thuận lợi
trong một môi trường tốt. Môi trường đó gồm nhiều nhân tố được tạo ra, chi
phối và thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, trong đó có NHNN.
Nhân tố thuộc về NHNN: NHNN là cơ quan đứng đầu hệ thống NH.
Các quyết định và việc làm của NHNN có tác động nhất định đến hoạt động
của NHTM, trong đó có hoạt động cho vay.
Các văn bản quy phạm pháp luật do NHNN ban hành mà hợp lý, thống
nhất, dễ hiểu sẽ giúp NH thực hiện các quy đinh được dễ dàng và chính xác.
Các quy định mà chồng chéo, thiếu rõ ràng, không hợp lý sẽ khiến NH lúng
túng trong việc tuân thủ quy định. Điều đó ảnh hưởng không tốt đến hoạt