Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH M C CÁC CH VI T T TỤ Ữ Ế Ắ 2
1/ D.A : D ánự 2
L I M UỜ Ở ĐẦ 4
K T LU NẾ Ậ 81
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1/ D.A : Dự án
2/ DN : Doanh nghiệp
3/ DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
4/ DS : Doanh số
5/ NH : Ngân hàng
6/ NHTM : Ngân hàng thương mại
7/ NHNN : Ngân hàng nhà nước
8/ TSCĐ : Tài sản cố định
9/ TSĐB : Tài sản đảm bảo
10/ TSLĐ : Tài sản lưu động
11/ TĐTS : Thẩm định tài sản
12/ Techcombank : Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam
13/ Techcombank – Hai Bà Trưng : Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ
thương Việt nam chi nhánh Hai Bà Trưng
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
DANH M C CÁC CH VI T T TỤ Ữ Ế Ắ 2
1/ D.A : D ánự 2
L I M UỜ Ở ĐẦ 4
K T LU NẾ Ậ 81
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
4
Chuyên đề tốt nghiệp
của ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam – Chi nhánh Hai
Bà Trưng, em đã quyết định chọn đề tài cho chuyên đề thực tập của mình là:
“Mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Thương mại cổ
phần kỹ thương Việt nam, chi nhánh Hai Bà Trưng” Với chuyên đề thực
tập này, em mong muốn được có cơ hội để tìm hiểu kỹ hơn về họat động cho
vay đối với DNVVN. Đồng thời, thông qua đây, em có đóng góp một số ý
kiến nhằm mở rộng cho vay đối với đối tượng khách hàng DNVVN. Em hy
vọng sẽ đóng góp được phần nào vào việc thúc đẩy hoạt động cho vay đối với
đối tượng khách hàng này. Ngoài lời mở đầu và kết luận thì bản chuyên đề
được chia làm 3 chương với nội dung sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của
ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại chi nhánh Techcombank – Hai Bà Trưng
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank – Hai Bà Trưng
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng bậc nhất của
mọi nền kinh tế. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng gắn liền với sự
NHTM là một tổ chức kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, các hoạt động
tại ngân hàng mang tính đặc thù cụ thể, đa dạng và thực hiện trên nhiều lĩnh
vực. Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam, hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên
là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ
thanh toán. Có thể nói, hoạt động của NHTM phục vụ nhu cầu về vốn cho
mọi tầng lớp dân cư, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
Hoạt động NHTM bao gồm các hoạt động sau :
• Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn trong ngân
hàng, làm tăng giá trị nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng,
cơ bản gồm các hình thức sau:
. Nhận tiền gửi: NHTM nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ
chức tín dụng khác dưới các hình thức tiềng gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn và các loại tiền gửi khác.
. Phát hành giấy tờ có giá: NHTM phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu và các giấy tờ có giá để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước
và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN chấp thuận
. Vay của các tổ chức tín dụng khác : Hoạt động này cho phép NHTM
được vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ
chức tín dụng nước ngoài. Các NHTM có thể vay và cho vay lẫn nhau thông
qua thị trường liên ngân hàng ( Interbank Market ). Đây là trường hợp ngân
hàng có lượng tiền gửi tại NHNN thấp và không đáp ứng được nhu cầu chi
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
trả, khi đó dưới sự tổ chức của NHNN, ngân hàng này sẽ được vay của ngân
hàng khác có lượng tiền gửi dư thừa tại NHNN. Ngoài ra các ngân hàng cũng
có thể cho vay trực tiếp lẫn nhau mà không thông qua thị trường liên ngân
hàng. Phương thức này rất linh hoạt giúp các NHTM cân đối vốn một cách
dụng 1997 và sửa đổi năm 2004, hoạt động tín dụng là việc các tổ chức tín
dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Như vậy
có thể hiểu, tín dụng là quan hệ vay mượn, bao gồm cả việc đi vay và cho
vay. Tuy nhiên khi gắn tín dụng với một chủ thể nhất định thì tín dụng ngân
hàng bao hàm nghĩa là cho vay. Có thể nói, tín dụng là hoạt động truyền
thống và chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động này bao gồm :
+ Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam
kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Các phương thức cho
vay của NHTM rất đa dạng. Nếu căn cứ theo thời hạn cho vay, NHTM được
cho các tổ chức,cá nhân vay vốn dưới các hình thức: cho vay ngắn hạn và cho
vay trung hạn,dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh, dịch vụ…Nếu căn cứ theo tài sản đảm bảo, cho vay lại bao gồm cho
vay có tài sản đảm bảo và cho vay không cần tài sản đảm bảo. Trong đó, cho
vay không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho khách hàng có uy tín, là
khách hàng có mối quan hệ tốt với ngân hàng, thường xuyên và có tình hình
tài chính minh bạch, ít xảy ra nợ xấu. Bên cạnh đó, nếu căn cứ theo mức độ
rủi ro thì cho vay lại có các khoản vay lành mạnh và các khoản vay có vấn
đề. Các khoản vay lành mạnh là các khoản vay đảm bảo tính thu hồi nợ cao,
ngược lại là các khoản vay không đảm bảo. Các cách phân loại này giúp ngân
hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản vay, trích lập dự
phòng tổn thất kịp thời.
Và khi đã chấp nhận cho khách hàng vay, ngân hàng phải lập hợp đồng
tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện cho vay, chứng
minh được mục đích sử dụng vốn vay, hình thức cho vay, số tiền vay, lãi suất,
thời hạn vay, hình thức bảo đảm, tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ và
những cam kết bắt buộc khác tùy từng quy định của ngân hàng. Có thể nói
họat động cho vay của ngân hàng đem lại một tỷ lệ sinh lời cao nhất nhưng
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
9
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
10
Chuyên đề tốt nghiệp
DNVVN có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu có
hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiều
lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh
hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị
trường. DNVVN có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý
của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở
những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường mà các
doanh nghiệp lớn không đáp ứng với mối quan tâm của họ đặt ở các thị
trường có khối lượng lớn. DNVVN là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất
phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:
- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với
thay đổi của thị trường.
Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều
kiện sản xuất đơn giản là đó có thể bắt đầu hoạt động. Vòng quay sản phẩm
nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng. Bộ
máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định. Đồng thời, do tính
chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát
hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh
doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn
thay đổi mặt hàng. Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển
kinh tế.
- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao.
Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng
ít lao động nên có khả năng sẵn sàng mạo hiểm. Trong trường hợp thất bại thì
cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ
đầu được. Bên cạnh đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các
lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các
nó cung cấp sản phẩm.
- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt
là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
12
Chuyên đề tốt nghiệp
- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp,thiếu bí
quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sảnphẩm,
thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ năng
lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng
suất và hiệu quả kinh doanh.
- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường.
- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăn trong thiết lập
và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương
doanh nghiệp đó đang hoạt động.
- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăn trong
thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường.
Loại hình DNVVN tại Việt Nam đã và đang có những bước tiến khá
vững trong nền kinh tế. Tuy còn nhiều hạn chế xong không thể phủ nhận
được vai trò to lớn của nó đối với nền kinh tế thị trường đang trên đà đổi mới
của Việt Nam.
1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
a. Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp
Các cơ sở doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với các phương pháp
tiết kiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phương tiện giải quyết thất
nghiệp hiệu quả nhất.
Thứ nhất
Do đặc tính phân bố rải rác của chúng. Các doanh nghiệp loại này
có nguồn thu nhập. Kết cục là quỹ tiền tiết kiệm - đầu tư của địa phương đó
được bổ sung.
d. Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn
Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năng động của các
đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của
chúng quá lớn. Quy luật của vật lý là khối lượng một vật càng lớn thì quán
tính của nó càng lớn. Cũng vậy, các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu
tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng
lớn. Một nền kinh tế đặt một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào
tay các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trở nên chậm chạp, không bắt kịp và
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
14
Chuyên đề tốt nghiệp
phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường. Ngược lại, một nền kinh tế có
một tỷ lệ thích hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ trở nên “nhanh nhẹn”
hơn, phản ứng kịp thời hơn. Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao.
e. Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng
trưởng kinh tế
Một nền kinh tế bao giờ cũng có “vùng biên giới”, “vùng sâu”, “vùng
xa”. Đó là các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát
triển, hoặc là xa tuyến giao thông, thiếu tài nguyên Các công ty lớn thường
bỏ qua các khu vực đó vì cho rằng nguồn lợi thu được từ đó không lớn bằng
nguồn lợi thu được từ nơi khác với cùng một chi phí bỏ ra, nói cách khác là
chi phí cơ hội của vùng đó cao. Nếu một nền kinh tế chỉ có các doanh nghiệp
lớn thì điều này sẽ dẫn đến một sự phát triển không đều giữa các vùng, không
tận dụng hết tài nguyên và giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế cũng như
gây ra các thiệt hại tiềm tàng cho nền kinh tế. Tuy nhiên đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ thì chi phí cơ hội của các vùng này là chấp nhận được,
xứng đáng với nguồn lợi thu lại. Vì vậy họ sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có
các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương.
- Cho vay từng lần : Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân
hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều
kiện để cấp hạn mức thấu chi. Cho vay từng lần thường áp dụng cho các
khoản vay dài hạn hoặc cho vay các dự án. Ưu điểm của phương thức cho vay
từng lần là ngân hàng chủ động sử dụng vốn, thu lãi cao do các món vay được
tách biệt thành các hồ sơ khác nhau.
Số tiền =
Tổng nhu cầu
vốn của D.A
- Vốn chủ -
Vốn khác
(nếu có)
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay theo đó ngân
hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là
mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng
và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Căn cứ để cấp hạn mức
tín dụng là kế hoạch tài chính của doanh nghiệp, trong đó dự báo chi tiết về
tài sản và vốn của doanh nghiệp.
Đây là phương thức cho vay thuận tiện cho khách hàng vay mượn
thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm. Phương thức cho vay này có ưu
điểm là thủ tục đơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay, tuy
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
16
Chuyên đề tốt nghiệp
nhiên về phía ngân hàng dễ bị đọng vốn, đồng thời do các lần vay không tách
biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng
từng lần vay.
- Cho vay thấu chi: Thấu chi là phương thức cho vay trong đó ngân hàng
cho phép khách hàng được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình
đến một giới hạn nhất định và trong khoản thời gian xác định.
Chuyên đề tốt nghiệp
Nếu doanh nghiệp hiện đang vay ngân hàng thì số tiền có thể cho vay
thêm là:
Số tiền có thể = Nhu cầu vay ngắn hạn - Dư nợ đến thời điểm
cho vay thêm NH xin vay
Một số trường hợp ngân hàng không phân tích được phương án vay,
ngân hàng quết định số tiền cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo.
Số tiền có thể = Giá trị TSĐB x Tỷ lệ cho vay
cho vay
b. Cho vay trung và dài hạn
Là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho tài sản cố
định và tài sản lưu động thường xuyên hay nhu cầu tài trợ cho các dự án riêng
biệt. Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm trang
thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ…Về nguyên tắc, doanh
nghiệp có thể sử dụng vốn dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn để
tài trợ cho những loại tài sản này. Nhưng do vốn chủ sở hữu có giới hạn nên
thường doanh nghiệp phải sử dụng đến nguồn vốn vay dài hạn. Doanh nghiệp
có thể vay dài hạn thông qua ngan hàng hoặc phát hành trái phiếu huy động
vốn trên thị trường.
Nhu cầu theo = Nhu cầu đầu tư vào + Nhu cầu đầu tư vào
DA TSCĐ TSLĐ
Số tiền có thể cho vay = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia tài trợ
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Số tiền có thể
cho vay
= Nhu cầu đầu tư -
Chuyên đề tốt nghiệp
ổn định của loại hình doanh nghiệp này, đồng thời các hầu hết DNVVN thiếu
các tài sản thế chấp. Chính vì vậy nên các ngân hàng chưa thực sự mặn mà
với đối tượng khách hàng này.
Tuy nhiên các món vay này thường nhỏ hơn các món vay của các doanh
nghiệp lớn hay các dự án đầu tư dài hạn nên nó phần nào giúp cho các ngân
hàng phân tán được rủi ro.
1.2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và
nhỏ của ngân hàng thương mại
Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ với ngân hàng
Trên thị trường, sự cạnh tranh luôn luôn tồn tại và một yếu tố tất yếu,
khách quan, là động lực chung cho sự phát triển. Trong bất cứ ngành nghề
kinh doanh nào thì các doanh nghiệp cũng mong muốn có được thị phần lớn
nhất có thể có trong phạm vi hoạt động của mình. Ngành ngân hàng cũng
không phải là một ngoại lệ.
Trong những năm gần đây, các ngân hàng thương mại cổ phần ngày
càng phát triển mạnh mẽ với mạng lưới mở rộng khắp cả nước. Có rất nhiều
ngân hàng cùng hoạt động trên một địa bàn nên dẫn đến việc số lượng doanh
nghiệp có quan hệ vay mượn với từng ngân hàng sẽ giảm đi nếu như mỗi
ngân hàng không có những biện pháp để mở rộng thị phần của mình.
Xét về chỉ tiêu số lượng DN có quan hệ tín dụng với ngân hàng thì đây
là một chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh hoạt động cho vay của ngân hàng đối với
DNVVN. Qua mỗi năm, số liệu này sẽ phản ánh sự tăng trưởng về số lượng
DNVVN có quan hệ tín dụng với ngân hàng cũng như việc ngân hàng có tiến
hành việc đẩy mạnh cho vay đối với đối tượng khách hàng này hay không.
Doanh số cho vay
Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay
trong kỳ. Nó là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vay
đối với các DNVVN của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định.
Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ ngân hàng họat động tốt và ngân hàng
DNVVN qua các năm. Mặt khác ta còn tính được tỷ trọng dư nợ cho vay đối
với DNVVN.
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với
DNVVN
= Dư nợ cho vay DNVVN
Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
So sánh chỉ tiêu này qua các năm cho ta thấy sự thay đổi cơ cấu tín dụng
đối với DNVVN trong tổng dư nợ của ngân hàng. Mặt khác, tỷ lệ này sẽ được
khống chế tại một mức nào đó có thể chấp nhận được theo từng giai đoạn của
từng hệ thống ngân hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay của
NHTM. Thông qua nó, ta có thể tính được tỷ lệ nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn
=
Tổng dư nợ quá hạn (gốc hoặc cả gốc + lãi) của DNVVN
Tổng dư nợ cho vay DNVVN
Nếu tỷ lệ này ở mức quá cao thì chứng tỏ chất lượng cho vay của ngân
hàng là kém. Và ngược lại nếu tỷ lệ này ở mức quá thấp thì thể hiện quan
điểm của ngân hàng khi cho vay là khắt khe. Luôn tuân theo quy tắc tín dụng,
nguyên tắc phân tán rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay của khách hàng.
Còn nếu ở mức vừa phải thì thể hiện chiến lược kinh doanh táo bạo của ngân
hàng là chấp nhận rủi ro trong một chừng mực nhất định để có thể đạt được
thời cũng thể hiện doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả cho vay ngân hàng
như mức tăng doanh thu thuận lợi, tạo việc làm trong doanh nghiệp, khả năng
cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp vay vốn.
Xét trên giác độ nền kinh tế, chất lượng cho vay đối với DNVVN của
NHTM được xem xét thông qua hiệu quả mang lại đối với doanh nghiệp, với
ngân hàng và với toàn bộ nền kinh tế.
1.2.2.5 Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng
thương mại
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng
trong việc cấp tín dụng. Trong đó, các giai đoạn cụ thể được xây dựng theo
một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đến khi
chấm dứt quan hệ tín dụng. Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
=
23
Chuyên đề tốt nghiệp
mang tính chất liên hoàn theo một trật tự nhất định đồng thời có quan hệ chặt
chẽ gắn bó với nhau.
Quy trình này có thể cụ thể hóa theo các bước sau:
• Bước 1 : Tiếp xúc khách hàng và hướng dẫn lập hồ sơ vay vốn
Bước 1 bao gồm những hoạt động chủ yếu như:
- Nhân viên phòng doanh nghiệp tiến hành gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp
hoặc gián tiếp với khách hàng
- Nhân viên trao đổi với khách hàng để nắm được các thông tin cơ bản
về khách hàng như lĩnh vực hoạt động, tư cách pháp lý, tổ chức hoạt động…
- Nhân viên thông báo cho khách hàng các thông tin về lãi suất cho vay,
điều kiện cho vay, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đang có….
• Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn
- Phòng doanh nghiệp kiểm tra hồ sơ, kiểm tra về số lượng, về tính hợp
lệ, hợp pháp và thực hiện hồ sơ. Hồ sơ bao gồm hồ sơ pháp lý, hồ sơ vay vốn
- Nhân viên TĐTS lập báo cáo TĐTS, chuyển trưởng phong TĐTS ký
duyệt.
- Nhân viên phòng doanh nghiệp nhận lại báo cáo thẩm định, biên bản
định giá từ nhân viên TĐTS, tập hồ sơ trình Ban tín dụng, Hội đồng tín dụng.
- Ngay sau khi nhân được hồ sơ đã ký duyệt, nhân viên phòng doanh
nghiệp báo cáo trưởng phòng về nội dung chỉ đạo hoặc sửa nội dung duyệt
vay. Sau đó lập thông báo cho khách hàng về việc có cho vay hay không.
•Bước 6: Hoàn thiện hồ sơ tín dụng và thực hiện quyết định cấp tín
dụng, gồm có:
- Hoàn tất chứng từ để giải ngân.
- Kiểm tra điều kiện và nội dung giải ngân
- Giải ngân và lập hồ sơ tín dụng
• Bước 7: Kiểm tra và xử lý nợ vay
- Nhân viên kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay và tình hình sản xuất
Triệu Việt Hoà Lớp: TCDN 48A
25