Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam - Pdf 13

Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI VỀ SỞ HỮU CHÉO NGÂN
HÀNG TẠI VIỆT NAM.
1.1. Lịch sử và phát triển của sở hữu chéo ngân hàng tại Việt Nam.
Vào năm 1990 khi Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính được ban hành, khu vực ngân hàng của Việt Nam chỉ có bốn ngân hàng
thương mại nhà nước (NHTMNN) là Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank),
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Công thương (Vietinbank) và
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank). Nhưng những năm
đầu 90 đã chứng kiến một đợt sóng thành lập ngân hàng thương mại cổ phần
(NHTMCP) đô thị và nông thôn. Nhờ vậy, số lượng ngân hàng đã tăng từ 4 vào
năm 1990 lên 8 vào năm 1991, rồi 45 vào năm 1993 và đạt định cao là 56 vào năm
19971. Trong giai đoạn từ 1997 đến 2005, nhiều NHTM được tái cấu trúc, đóng của
và sáp nhập. Đến năm 2006, khu vực ngân hàng lại chứng kiến một đợt sóng thành
lập mới lần thứ hai với 10 NHTMCP nông thông được chuyển đổi thành NHTMCP
thành thị và 4 NHTMCP được thành lập mới.
Cùng với sự gia tăng số lượng, vốn của các NHTM cũng đã tăng lên mạnh
mẽ, đặc biệt là sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2006/NĐ-CP quy định
mức vốn pháp định tối thiểu của NHTMCP là 1.000 tỷ đồng với thời hạn đến cuối
năm 2008 và 3.000 tỷ đồng đến cuối năm 2010. Tổng vốn điều lệ của các NHTM
Việt Nam đã tăng từ 24.193 tỷ đồng năm 2004 lên 73.029 tỷ đồng năm 2007 và
250.585 tỷ đồng năm 2011. Quá trình tăng vốn nhanh chóng của các NHTMCP
trong thời gian ngắn đã hình thành cấu trúc sở hữu chéo và đa phương giữa ngân
hàng với doanh nghiệp và ngân hàng với ngân hàng. Rất nhiều doanh nghiệp lớn
không nằm trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế nhà nước và các
tập đoàn cổ phần, hiện đang đầu tư dài hạn như những nhà sáng lập hoặc nhà đầu tư
chiến lược trong các NHTMCP.Các ngân hàng cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau.
1
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
Vậy sở hữu chéo đơn giản là việc 2 tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau, chẳng
hạn như công ty (Cty) A đầu tư vào Cty B, sau đó B lại đầu tư vào A. Ở Hàn Quốc,

Hệ thống Ngân hàng đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay
theo quan hệ rất phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm ngân hang.Theo đó, rất nhiều
công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế Nhà nước và các tập đoàn cổ phần, dù
không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng
lập, nhà đầu tư chiến lược trong các Ngân hàng thương mại. Chưa kể, các Ngân
hàng cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau, cổ đông tại các Ngân hàng thương mại là các
công ty quản lý quỹ đầu tư vốn vào những Ngân hàng khác có tiềm năng. Hiện
không ít tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở hữu chéo
khi họ có trong tay khá nhiều Ngân hàng.
Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các NH liên
doanh: Hiện tại có 6 NHLD trong hệ thống các tổ chức tín dụng của Việt Nam.
Thông thường một ngân NHLD được sở hữu bởi một ngân hàng nước ngoài và một
ngân hàng trong nước. Chẳng hạn ngân hàng Việt Thái là NHLD giữa 3 đối tác lớn:
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT), Ngân
hàng Thương mại Siam của Thái Lan và Tập đoàn Charoen Pokphand (CP) của
Thái Lan với tỉ lệ vốn góp tương ứng là 34%, 33% và 33%; ngân hàng Việt Nga là
liên doanh giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng
VTB (trước là Ngân hàng Ngoại thương Nga Vneshtorgbank) với mức góp vốn điều
lệ ngang nhau.
Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM, cả nhà nước lẫn cổ phần:
đứng trước nhu cầu thu hút vốn và kỹ năng quản trị từ các định chế tài chính có
kinh nghiệm nước ngoài, NHNN đã có chủ trương khuyến khích các NHTM trong
nước tìm kiếm các đối tác nước ngoài làm cổ đông chiến lược. Đến nay, có khoảng
10 NHTM có đối tác chiến lược là các tập đoàn tài chính nước ngoài.
3
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
Sở hữu của các NHTMN nhà nước: Ngoại trừ Agribank, cả bốn NHTMNN
còn lại đã thực hiện cổ phần hóa với tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước lần lượt là 77,1%
ở VCB, 80,3% ở Vietinbank và 95,8% ở BIDV. NH Phát triển Nhà Đồng bằng
Sông Cửu Long (MHB) do chưa hoàn thành các thủ tục đăng ký sau khi phát hành

Ngân hàng sở hữu ngân hàng : Trong Minh họa 6, cấu trúc sở hữu của các
NH Eximbank, Á Châu (ACB), Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và nhiều ngân
hàng có quy mô nhỏ hơn khác được trình bày một cách chi tiết. ACB, Eximbank và
Sacombank là ba NHTMCP hàng đầu, có cổ phiếu đều đã được niêm yết trên sàn
giao dịch chứng khoán và được thị trường xem là các trường hợp có thông tin tài
chính minh bạch hơn hẳn so với các NHTMCP khác. Trong đợt thâu tóm Eximbank
diễn ra vào đầu năm 2012, Eximbank, qua công ty Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn
Exim, sở hữu 5,2% Sacombank. Tương tự là NH Phương Nam thông qua các công
6
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
ty liên quan là Công ty Chứng khoán Phương Nam và Công ty Vàng bạc Đá quý
Phương Nam để sở hữu Sacombank. Công ty cổ phần Đầu tư Tài chính Sài Gòn Á
Châu, một cổ đông lớn của ACB, cũng đầu tư 5% cổ phiếu của Sacombank.
Ngoài ra, ACB còn sở hữu 20% Eximbank và nhiều NHTMCP khác là Việt Nam
Thương tín (10%), Đại Á (10,8%), Kiên Long (6,1%).
Sở hữu của các NHTM cổ phần: Hiện tượng sở hữu lẫn nhau giữa các
NHTM cổ phần cũng khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Từ những thông tin công
bố của các ngân hàng, hiện có ít nhất sáu NHTM cổ phần có cổ đông là một NHTM
cổ phần khác. Chẳng hạn, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đang sở hữu Ngân
hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), 6.1 % Kienlongbank ( ACBS
nắm giữ ),10.8 % Đại Á Bank và Vietbank, còn Eximbank hiện sở hữu 10,6% cổ
phần tại Sacombank, 8,5% cổ phần tại Ngân hàng Việt Á. Điều này cho thấy một
7
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
hiện tượng sở hữu chồng chéo lẫn nhau giữa các ngân hàng thương mại, tạo nên
tháp ngân hàng mà nguy cơ của nó có thể dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống nếu
không được quản lý chặt chẽ.
Doanh nghiệp sở hữu các ngân hàng thương mại cổ phần : NH Quân Đội
được sở hữu bởi các cổ đông nhà nước là Tập đoàn Viễn thông Quân Đội (Viettel)
(10%), Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (5,7%) và Tổng công ty Trực thăng VN

mua cố phiếu của một ngân hàng nhỏ khác tham gia vào quản trị ngân hàng đó giúp
ngân hàng phát triển tốt hơn. Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi UFJ - thuộc tập đoàn tài
chính Mitsubishi UFJ Financial Group Inc (MUFG),đã chi 60 tỷ Yên (tương đương
khoảng 720 triệu USD) để nắm 20% cổ phần của Vietinbank.
Hơn nữa, sở hữu chéo cho phép công ty khai thác được các cơ hội và tiềm
năng kinh doanh có lợi trên thị trường; đa dạng hóa hoạt động và phân tán rủi ro
kinh doanh; đồng thời, cho phép đạt hiệu quả khống chế, chi phối thị trường cao với
một lượng vốn cổ phần nhỏ theo “mô hình kim tự tháp”. Một ví dụ điển hình là
trường hợp của Masan và Techcombank. Xuất phát từ công ty hàng tiêu dùng sản
xuất mì ăn liền, nước chấm, với sự góp sức của các nguồn tài chính nước ngoài,
Masan đã mở rộng đa ngành với 3 lĩnh vực là hàng tiêu dùng, ngân hàng và khoáng
sản thông qua Masan Consumer (tiêu dùng), Ngân hàng Techcombank (tài chính)
và Masan Resources (khai thác khoáng sản). Sự gắn kết bền chặt này đã mang lại
lợi ích cho cả 2 bên. Techcombank là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh trong
giai đoạn hiện nay. Còn Masan phát triển mạnh mẽ với doanh thu Masan Consumer
năm 2011, trước khi mua Vinacafe, đạt 7.057 tỉ đồng, lợi nhuận 2.254 tỉ đồng.
2.2.2. Tác động tiêu cực
Vấn đề thứ nhất: Tình trạng nợ xấu
Ở tầm vi mô, sở hữu chéo ngân hàng là một trong những nguyên nhân quan
trọng nhất gây ra tình trạng nợ xấu hiện nay.
9
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
Xét về cơ cấu:
Qua biểu đồ trên cho thấy, thực trạng nợ xấu đang là vấn đề đáng lo ngại đối
với nền kinh tế của Việt Nam. Nhóm NHTMNN bao gồm 4 ngân hàng lớn nhưng
lại chiếm gần 1 nửa phần nợ xấu. Trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái, bong bóng
bất động sản bùng nổ thì tình trạng sở hữu chồng chéo trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam là một trong những nguyên nhân chính làm cho nợ xấu ngày càng gia
tăng. Thị trường liên NH vốn là nơi vay mượn lẫn nhau giữa các NH, thường là NH
lớn cho NH nhỏ vay, nhất là các NH nhỏ thuộc sở hữu của chính những NH lớn

và nguy hiểm hơn là nó che giấu những con số thực về nợ xấu của các ngân hàng
thương mại, hệ lụy của nó là có thể làm đổ vỡ cả một hệ thống ngân hàng nếu như
tình trạng này không được giải quyết kịp thời.
Vấn đề thứ hai :vốn ảo
Sở hữu chéo không chỉ khiến vốn trong các ngân hàng (NH) – cũng là tiền
gửi bị “ tuồn” ra “sân sau” của các cổ đông lớn.Nghiêm trọng hơn, nó tạo ra một
dòng vốn ảo trong hệ thống NH.
11
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
Từ “ ma trận” vốn ảo của các NHTM, gây ra sự mù mờ vè sở hữu thực, làm
sai lệch việc đánh giá rủi ro của hệ thống ngân hàng, vì có rất nhiều chỉ số dựa trên
số vốn sở hữu mà ngân hàng đang nắm, trong khi vốn đó là vốn ảo. Các chỉ số
không chính xác sẽ dẫn đến những sai lệch, cả về quản trị ngân hàng lẫn giám sát hệ
thống tài chính.
Sở hữu chéo và lợi ích nhóm làm ra đời các thế lực độc quyền. Cộng đồng
doanh nghiệp thì từ lâu đã hiểu rõ lợi ích của sở hữu chéo giữa tài chính- ngân hàng
và sản xuất-thương mại. Nhóm doanh nghiệp nhận được dòng vốn lớn với chi phí
thấp sẽ có năng lực cạnh tranh vượt trội mà không cần tới bất kỳ cải thiện nào trong
quản lý, hay tiến bộ trong công nghệ sản xuất. Cùng lúc đó, phần còn lại của nền
kinh tế phải gánh chịu chi phí vốn cao và bị bào mòn năng lực cạnh tranh. Tựu
chung lại, sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế suy giảm. Để bù đắp năng lực kinh
doanh yếu, nhóm doanh nghiệp thân hữu ngày càng đòi hỏi lượng vốn đầu vào lớn
hơn. Điều này khiến nguồn vốn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất-
kinh doanh với phần còn lại của xã hội trở nên khan hiếm và đẩy chi phí vốn lên cao
hơn. Trong vòng xoáy này, đại bộ phận doanh nghiệp đi tới chỗ không thể đạt được
hiệu suất lợi nhuận đủ trang trải chi phí đầu vào (trong đó, chi phí vốn có tỷ trọng
đáng kể nhất). Hệ quả là tình trạng co hẹp sản xuất, thua lỗ và phá sản tràn lan. Lúc
này xuất hiện cơ hội để các doanh nghiệp dồi dào tài chính triển khai mạnh mẽ các
hoạt động thâu tóm. Các thế lực độc quyền ra đời. Như vậy, sở hữu chéo gây ra sự
bất bình đẳng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hình thành nên các thế lực

chưa có hiệu quả và hiệu lực cao trong bối cảnh các TCTD phát triển nhanh về số
lượng và quy mô, đồng thời hội nhập quốc tế sâu rộng. Nhiều quy định, chuẩn mực
về an toàn hoạt động ngân hàng đã được đổi mới theo hướng tiếp cận các chuẩn
mực quốc tế, tuy nhiên vẫn còn rất chậm so với các hệ thống ngân hàng trong khu
vực và tụt hậu so với sự tiến bộ của các chuẩn mực quốc tế. Các tiêu chuẩn cấp
phép, các chuẩn mực an toàn chưa chặt chẽ, chưa kiềm chế mức độ rủi ro gia tăng
trong hoạt động ngân hàng và chưa được bảo đảm tuân thủ nghiêm đã thúc đẩy quy
mô hệ thống các TCTD tăng nhanh cùng với sự tích lũy ngày càng lớn rủi ro.
Riêng phần giám sát và hành pháp thì còn rất sơ sài và vì vậy đã có những lỗ
hổng lớn. Sở dĩ Luật các tổ chức tín dụng và thông tư quy định giảm tỷ lệ sở hữu cá
nhân và tổ chức xuống là nhằm làm cho ngân hàng có tính đại chúng hơn. Ngoài ra,
13
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
các nhà quản lý lo ngại sự mất an toàn của hệ thống do tình trạng sở hữu chéo hoặc
khi một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu tỷ lệ lớn có thể lũng đoạn ngân hàng. Tuy
nhiên, luật vẫn còn những lỗ hổng chưa chắt chẽ, vì những người muốn sở hữu tỷ lệ
lớn hơn quy định không khó. Người chủ sở hữu thực sự có thể không cần đứng tên
mà vẫn chi phối ngân hàng thông qua một người thứ ba.
Bên cạnh những lỗ hổng về luật quản lý là sự mập mờ về thông tin sở hữu
trên sổ sách của ngân hàng, việc tìm thông tin về các tổ chức tín dụng mua cổ phần
của các tổ chức tín dụng khác là điều hết sức khó. Rất ít ngân hàng công khai tỷ lệ
đầu tư vào các tổ chức tín dụng khác. Những trường hợp công bố chính thức như
Vietcombank, Vietinbank không nhiều. Không những vậy, những con số cũng có
thể chưa phản ánh hết thực tế việc sở hữu giữa các ngân hàng.
Nguyên nhân thứ hai : đó là do nạn tham nhũng móc ngoặc, nạn tư bản thân
tộc bao che cho nhau.
Các nhà quản lý nắm trong tay quyền lực kinh tế chính trị phân vùng kinh
doanh với nhau và chi phối các tập đoàn kinh tế nhà nước. Các tập đoàn đó có thể
lập ra ngân hàng thương mại cổ phần với danh hiệu là tư nhân mà về thực chất thì
do một tay chân thân tín của lãnh tụ đứng làm chủ. Các cá nhân làm chủ ngân hàng

nhiều nội dung và được coi là cuộc cải tổ sâu rộng nhất kể từ sau thế chiến thứ II.
Một mục tiêu rõ rang của hệ thống pháp lý mới là giảm dần mức độ sở hữu chéo.
Điều đó được thực hiện như sau:
 Năm 2002, Nhật bản ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp mới, theo
đó yêu cầu các cổ phiếu sở hữu chéo (bao gồm cả các hạng mục đầu tư vào công ty
con, công ty lien doanh, lien kết) phải được định giá theo phương pháp giá trị hợp
lý, thay vì hạch toán theo giá gốc;
 Năm 2002, Uỷ ban Giám sát Tài chính Nhật bản (FSA) cũng ban hành
quy định về an toàn vốn , trong đó buộc các ngân hàng phải bán bớt lượng cổ phiếu
đang sở hữu, bao gồm cả các cổ phiếu do người có liên quan phát hành (cổ phiếu sở
hữu chéo), bảo đảm tổng giá trị cổ phiếu có trong danh mục đầu tư không vượt quá
15
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
vốn tự có cấp 1 (tier – 1) của ngân hàng. Việc bán bớt phần vượt trội này được thực
hiện trong vòng bốn (04) năm, cho tới tháng 9/2006.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế và các giải pháp khác
Việc hoàn thiện thể chế, hỗ trợ cho khung pháp lý mới nhằm mục tiêu giảm
dần tỷ lệ sở hữu chéo cũng được Nhật bản tính đến. Các thể chế này được thiết lập
nhằm giảm tác động tiêu cực khi các doanh nghiệp thoái vốn từ các công ty con,
công ty lien doanh, lien kết, cụ thể là hấp thụ được lượng cổ phiếu mà các doanh
nghiệp thoái ra mà không làm sụt giảm TTCK. Đã có một số giải pháp được áp
dụng trong thời kỳ đó, cụ thể:
 Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện việc mua cổ phiếu quỹ
(mua lại cổ phiếu do mình phát hành và đang được các tổ chức là người có lien
quan nắm giữ);
 Cho phép thành lập các quỹ phúc lợi và hưu trí tự nguyện dành cho
người lao động và tạo cơ chế (tại các quy định về kế toán) cho phép các doanh
nghiệp (người sử dụng lao động) chuyển các cổ phiếu sở hữu chéo vào các quỹ này;
 Khuyến khích thành lập các quỹ hoán đổi danh mục (ETF): Nhật bản
cho phép hình thành các quỹ ETF và các quỹ đầu tư bất động sản từ năm 2002, thực

cấp 1 của tổ chức được góp vốn khi tính hệ số an toàn vốn (CAR) của tổ chức này,
tránh tình trạng vốn chảy lòng vòng trong hệthống dẫn tới việc tăng vốn không thực
chất.Đặc biệt, các quy định về phòng chống rửa tiền cũng phải được thực thi một
cách nghiêm túc.Ví dụ, các cổ đông đi vay tiền hoặc các nguồn tiền để góp vốn
thành lập ngân hàng không minh bạch thì phải được phát hiện và xử lý nghiêm
minh.
Thứ ba, cần nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp trong nội bộ ngân hàng,
yêu cầu ban kiểm soát (BKS) phải thực sự độc lập với HĐQT và có quyền phủ
quyết các quyếtđịnh có ảnh hưởng tiêu cực hoặc rủi ro cao đối với quyền lợi của các
nhà đầu tư nhỏ lẻ; phảican thiệp, ngăn chặn, phát hiện, báo cáo với cơ quan quản lý
nhà nước trong trường hợpHĐQT có những quyết định trái pháp luật. Bên cạnh đó,
vai trò của thành viên độc lập trongHĐQT phải thực sự độc lập, có tiếng nói, ngăn
17
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
chặn, thể hiện quan điểm của mình trongtrường hợp những quyết định của HĐQT
gây bất lợi cho các cổ đông nhỏ lẻ hoặc phục vụcho lợi ích nhóm.
Thứ tư, quy định cấm hiện tượng tình trạng đầu tư “lòng vòng” giữa các ngân
hàngvới nhau (theo kiểu ngân hàng A đầu tư vào ngân hàng B, ngân hàng B đầu tư
vào ngân hàng C và ngân hàng C lại quay lại đầu tư vào ngân hàng A). Nếu hiện
tượng này bị phát hiện, cầncó các chế tài theo hướng xử lý hình sự. Trong đó để xử
lý các mối quan hệ sở hữu chéo hiệntại, phần sở hữu chéo giữa các tổ chức tín dụng
có thể được nhượng lại cho các trung gian độc lập,trong đó ưu tiên đầu tư của các
định chế tài chính, ngân hàng nước ngoài.
Thứ năm, hoàn thiện luật thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt trong vấn đề kê
khai thuế và tăng mạnh cũng như hình sự hóa chế tài phạt các vi phạm trốn thuế thu
nhập cá nhân.Thực hiện được điều này sẽ giảm thiểu vấn đề các cá nhân sử dụng
tên của người khác hoặc tổ chức khác để từ đó sở hữu và chi phối nhiều ngân hàng.
Vì xét cho cùng, các cá nhân đầu tưsẽ phải tìm mọi cách đưa lợi ích về cho mình và
với một mức thuế cao đánh chính xác vàonhững thu nhập”thực” của họ, các cá nhân
trên sẽ tự điều chỉnh hành vi phù hợp với lợi íchcủa chính mình, từ đó tạo lợi ích

cheo-van-phuc-tap/ ).
4. KÊNH TRUYỀN HÌNH VITV,CHƯƠNG TRÌNH TẠP CHÍ NGÂN HÀNG-
THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TRONG CÁC NGÂN HÀNG
(http://www.youtube.com/watch?v=OEjvg4TbU6k).
5. ỦY BAN KINH TẾ QUỐC HỘI,BÁO CÁO TC VĨ MÔ 2012,CHƯƠNG 3,TRANG
157(http://ecna.gov.vn/ct/bctk/Lists/BaoCaoThongKe/View_DeTail.aspx?
ItemID=23)
6. TỪ THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO Ở CHAEBOL ĐẾN THỰC TẾ Ở CÁC
NHTM VIỆT NAM (http://www.vietinbank.vn/web/home/vn/research/12/tu-so-
huu-cheo-tai-chaebol-den-thuc-te-nhtm-viet-nam.html).
19
Thực trạng và một số giải pháp cho vấn đề sở hữu chéo tại Việt Nam
7. THANH LAN LAN-ĐỀ XUẤT THÀNH LẬP CÔNG TY XỬ LÝ VẤN ĐỀ SỞ
HỮU CHÉO Ở VIỆT NAM (http://vietstock.vn/2013/10/de-xuat-lap-cong-ty-xu-
ly-so-huu-cheo-ngan-hang-757-319460.htm).
8. THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT
NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KHUYẾN
NGHỊ(http://www.diendanluat.vn/threads/thuc-trang-so-huu-cheo-trong-he-
thong-ngan-hang-viet-nam-hien-nay-va-mot-so-khuyen-nghi.1100/)
9. NGUYỄN HIỀN,ĐANG TỒN TẠI 6 CẶP NGÂN HÀNG SỞ HỮU CHÉO
(http://dantri.com.vn/kinh-doanh/dang-ton-tai-6-cap-ngan-hang-so-huu-cheo-
802207.htm )
10. LÊ ĐĂNG DOANH,GỠ MỠ BONG BÓNG SỞ HỮU CHÉO
(http://danluan.org/tin-tuc/20120910/le-dang-doanh-go-mo-bong-bong-so-huu-
cheo ).
11. THANH THANH LAN-MÊ CUNG SỞ HỮU CHÉO Ở VIỆT NAM
(http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/ebank/ngan-hang/me-cung-so-huu-cheo-
ngan-hang-o-viet-nam-2859308.html ).
12. TS. NGUYỄN ĐỨC TRUNG & THS. PHẠM MẠNH HÙNG – HỌC VIỆN
NGÂN HÀNG, THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status