Thực trạng và một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La - Pdf 26

Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
Lời mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài:
Cơ sở hạ tầng gắn liền với mọi hoạt động kinh tế xã hội, là nhân tố thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Cho nên, để
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của bất kỳ một vùng lãnh thổ nào thì điều
kiện đầu tiên và trước hết phải bắt đầu từ phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng.
Hiện nay, phát triển kinh tế - xã hội của các vùng dân tộc miền núi của
6 tỉnh miền núi phía bắc nói chung, các vùng dân tộc miền núi của tỉnh Sơn
La nói riêng đang là vấn đề cấp bách đặt ra. Là một tỉnh vùng cao biên giới,
với một địa bàn nông thôn rộng lớn, nghèo nàn lạc hậu, kinh tế phát triển
chậm, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của đồng bào còn hết sức khó
khăn, nhất là các xã vùng III. Điều đáng chú ý là một trong những điều kiện
để phát triển kinh tế xã hội là hệ thống cơ sở hạ tầng, cả phục vụ sản xuất và
dân sinh ở đây đều vô cùng yếu kém. Đây có thể coi là một nguyên nhân cơ
bản gây cản trở rất nhiều đến phát triển kinh tế xã hội ở vùng nông thôn miền
núi nghèo nàn này.
Thời gian qua, với chủ trương phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc
miền núi theo các cụm xã và trung tâm cụm xã, điều kiện cho phát triển hệ
thống cơ sở hạ tầng có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận. Song mặt khác tình trạng
đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng còn rất nhiều yếu kém: mức đầu
tư thấp, cơ cấu đầu tư không hợp lý lại yếu kém về trình độ quản lý và khai
thác. Nên vấn đề đặt ra cho tỉnh trong thời gian tới là cần phải nhanh chóng
khắc phục những yếu kém còn tồn tại trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để
khai thông các điều kiện cho thúc đầy phát triển kinh tế xã hội ở địa bàn này.
Trước thực tế đó, em quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và một vài giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại các cụm
xã trọng điểm trên địa bàn tỉnh Sơn La”.
2 - Đối tượng và giới hạn nghiên cứu của đề tài:
11
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội

I- Lý luận chung về đầu tư :
1. Khái niệm và bản chất của đầu tư phát triển :
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động
nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn
lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền , tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí
tuệ...
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm tài sản tài chính ( tiền), tài sản
vật chất (nhà máy,...), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn) và nguồn
nhân lực có đủ điều kiện để làm việc có năng suất trong nền kinh tế xã hội.
Trong những kết quả này, những tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí
tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm đó có vai trò đặc biệt quan trọng nó đem lại
lợi ích không chỉ cho cá nhân người đầu tư mà cho cả nền kinh tế.
Trong nền kinh tế hoạt động đầu tư gồm 3 loại:
- Đầu tư tài chính: đây là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho
vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi xuất định trước hoặc lãi xuất
tuỳ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành.
Đặc điểm của đầu tư tài chính là không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế
mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức cá nhân đầu tư. Vốn bỏ ra
đầu tư được lưu chuyển dễ dàng khi cần có thể rút ra nhanh chóng điều này
khuyến khích người có tiền bỏ ra đầu tư. Người đầu tư có thể đầu tư vào
nhiều nơi và mỗi nơi có thể một ít tiền để phân tán rủi ro.
33
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
- Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua
hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá
khi mua và khi bán.
Đặc điểm của loại đầu tư này làm tăng giá trị tài sản tài chính của người
đầu tư trong quá trình mua đi bán lại. ở đây chỉ có sự chuyển giao quyền sở
hữu hàng hóa giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách

trù đầu tư phát triển.
2. Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển:
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm cơ bản sau:
- Trong đầu tư phát triển thì tiền vốn, vật tư lao động cần thiết cho các
công trình đầu tư thường rất lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trình thực
hiện đầu tư.
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả
của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến
động xảy ra .
- Thời gian cần hoạt động có thể thu hồi vốn đã bỏ ra đối với các cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng và
do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu
tố không ổn định về về tự nhiên, xã hội chính trị kinh tế...
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
nhiều năm, có khi hàng trăm năm, có khi tồn tại vĩnh viễn . Điều này nói lên
giá trị lớn lao của các thành quả đầu tư phát triển.
- Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình sẽ hoạt động
ngay tại nơi nó được tạo dựng nên . Do đó các điều kiện địa hình tại đó có
ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác dụng sau này của
các kết quả đầu tư.
- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh
hưởng nhiều của yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của
không gian.
Với những đặc điểm cơ bản như vậy đặt ra cho quá trình quản lý hoạt
động đầu tư phát triển phải chú ý quản lý về vốn, vật tư, lao động và thời gian
55
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
như thế nào và cần phải làm gì để khắc phục một số rủi ro trong quá trình tiến
hành hoạt động đầu tư.
3. Vai trò của hoạt động đầu tư với phát triển kinh tế - xã hội:

đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, vị thế kinh tế , chính trị... giúp vùng
có khả năng phát triển. Tăng cường đầu tư cho những vùng khó khăn, những
vùng nông thôn kém phát triển sẽ giúp đẩy nhanh quá trình đô thị hoá nông
thôn, thu hút lao động tạo việc làm và nâng cao dần thu nhập cho nhân dân,
giảm dần khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, thúc đẩy kinh tế
xã hội ở những vùng nghèo, ít lợi thế phát triển nhất.
Ngoài ra, đầu tư phát triển còn góp phần ổn định kinh tế - văn hoá - xã hội
cho nhân dân, đảm bảo cho kinh tế phát triển bền vững.
Vậy đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định tốc độ
phát triển kinh tế của đất nước, của vùng, của địa phương. Đầu tư phát triển
đúng hướng và có hiệu quả sẽ tạo ra năng lực mới làm chuyển dịch cơ cấu
các thành phần kinh tế, các vùng, các lãnh thổ theo hướng CNH-HĐH đất
nước.
4. Vốn và nguồn vốn đầu tư:
Đầu tư phát triển có vai trò vô cùng quan trọng nhưng để tiến hành các
hoạt động đầu tư thì cần thiết phải có vốn đầu tư. Theo nguồn hình thành và
mục tiêu sử dụng thì: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ nước ngoài
cũng như từ các nguồn khác được đưa vào sử dụngtrong quá trình tái sản xuất
mở rộng của xã hội, nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền
sản xuất xã hội.
Nội dung của vốn đầu tư bao gồm:
- Chi phí để tạo ra các tài sản cố định mới hoặc bảo dưỡng sự hoạt động
của các tài sản cố định có sẵn.
- Chí phí để tạo ra hoặc tăng thêm các tài sản lưu động
-
Nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn huy động từ trong nước và vốn huy
động từ nước ngoài. Hai nguồn này có vai trò quan trọng đối với thúc đẩy
phát triển kinh tế của một đất nước, vốn trong nước là chủ yếu, vốn nước
77

+ Vốn đầu tư gián tiếp: đây là nguồn vốn đầu tư dưới dạng viện trợ
( hoàn lại và không hoàn lại) hoặc cho vay ( cho vay ưu đãi và cho vay thông
88
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
thường) của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ.
Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn nên có tác dụng mạnh và nhanh đối với việc
giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của các nước nhận
đầu tư. Tiếp nhận đầu tư gián tiếp thường gắn với sự trả giá về mặt chímh trị
và tình trạng nợ nần chồng chất nếu không thực hiện nghiêm ngặt chế độ trả
nợ.Tuy nhiên, trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các
vùng nông thôn thì vốn này nhất là vốn ODA (viện trợ phát triển không chính
thức của các nước công nghiệp phát triển) lại có vai trò khá quan trọng thông
qua việc hỗ trợ đầu tư qua các dự án phát triển nông - lâm - ngư nghiệp và
kinh tế nông thôn, các chương trình hỗ trợ cho các lĩnh vực xã hội. Đặc biệt
là các khoản hỗ trợ hoàn lại trong ODA được sử dụng chủ yếu cho các
chương trình và dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: giao thông
vận tải, thuỷ lợi, ytế, giáo dục đào tạo, cấp thoát nước...
+ Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: là vốn của các doanh nghiệp và cá
nhân người nước ngoài đầu tư sang và họ trực tiếp tham gia quản lý quá trình
sử dụng và thu hồi vốn. Với vốn đầu tư loại này nước nhận đầu tư có thể tiếp
thu được kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh
của nước ngoài, giúp khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giúp sử
dụng vốn có hiệu quả và nâng cao tốc độ phát triển kinh tế. Nhưng vốn đầu tư
này thường không đủ lớn để giải quyết dứt điểm từng vấn đề kinh tế xã hội
của đất nước lại tập trung mạnh ở các vùng đô thị, các vùng phát triển năng
động còn các vùng nông thôn, vùng cao miền núi thì không đáng kể.
5. Dự án và chu kỳ dự án:
Qua nghiên cứu khái niệm và đặc điểm của hoạt động đầu tư có thể
khẳng định lại rằng hoạt động đầu tư phát triển là việc bỏ một lượng vốn rất
lớn vào thực hiện một hoạt động nào đó trong một thời gian tương đối dài để

qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Dự án đầu tư là một công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư, do đó nó
phải chứa đựng bên trong nó các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư. Nó phải
phản ánh các nhân tố cấu thành nên hoạt động đầu tư như: mục tiêu đầu tư là
gì, nguồn lực và cách thức để đạt được mục tiêu đó, các kết quả cụ thể phải
đạt được là gì. Để thực hiện tốt các công cuộc đầu tư thì khi lập dự án phải trả
lời tốt các câu hỏi này.
1010
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
Chu kỳ dự án đầu tư: là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án
phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án hoàn thành
chấm dứt hoạt động.
Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư thường trải qua 3
giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư.
Nội dung các bước công việc ở mỗi giai đoạn của các dự án đầu tư không
giống nhau tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư, vào tính chất tái sản xuất, đầu tư
dài hạn hay ngắn hạn... Nhưng một dự án đầu tư đầy đủ phải có các bước như
theo bảng 1.
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến
hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gôí đầu cho nhau, bổ sung cho
nhau nhằm nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiện cứu và tạo
điều kiện tiến hành nghiên cứu ở các bước sau.
Bảng 1: Các bước công việc của một dự án đầu tư
Chuẩn bị đầu tư
Thực hiện đầu tư
Vận hành kết
quả đầu tư
Nghiên
cứu
phát

giá

quy
ết
định
(thẩ
m
định
dự
án)
Hoà
n
tất
các
thủ
tục
để
triể
n
khai
thực
hiện
Thiết
kế và
lập
dự
toán
thi
công
xây

suất
Sử
dụn
g
côn
g
suất

mức
cao
nhất
Côn
g
suất
giả
m
dần

than
h

1111
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
đầu

Trong 3 giai đoạn trên, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết
định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai
đoạn vận hành các kết quả đầu tư. Cho nên công tác lập dự án là vô cùng
quan trọng và phải thực hiện nghiêm túc. Trong giai đoạn 2, thì vấn đề thời
gian là quan trọng nhất, tình trạng ứ đọng và tổn thất vốn có nguy cơ diễn ra

- Đời sống có nhiều khó khăn , giao thông đi lại không thuận lợi như
đồng bằng
- Cư dân là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số sống xen ghép hoặc chỉ các
dân tộc thiểu số sống xen ghép hay sống riêng từng dân tộc trên địa bàn
miền núi.
* Vùng cao
:
Đất đai đại bộ phận thuộc độ cao trên dưới 600m trở lên so
với mặt biển, cư dân sống trên đó chủ yếu là dân tộc thiểu số.
Tiêu thức xác định:
- Hai phần ba( 2/3 ) diện tích đất đai thuộc độ cao trên dưới 600m trở lên
so với mặt biển
- Kinh tế xã hội chậm phát triển so với vùng thấp.
- Sản xuất chủ yếu trên đất dốc, có nơi còn du canh du cư, phá rừng làm
nương rẫy.
- Đời sống có nhiều khó khăn , đường giao thông chưa phát triển, đi lại
có nhiều khó khăn so với vùng thấp, khí hậu khắc nghiệt, còn nhiều bệnh
tật.
- Cư dân chủ yếu là dân tộc thiểu số.
Do yêu cầu khách quan về phát triển kinh tế xã hội tiểu vùng, khu vực và
giao lưu văn hoá xã hội mà ở những khu vực miền núi, vùng cao này đã dần
hình thành các tụ điểm thu hút dân cư. Sự xuất hiện các tụ điểm thu hút dân
cư này đã vạch ra cho quá trình thúc đẩy kinh tế - chính trị -xã hội một hướng
đi để phát triển bền vững và hiệu quả, đó là phát triển theo các cụm xã (gồm
nhiều xã tập trung thành một cụm xã ). Nhưng do hình thành một cách tự
nhiên nên các cụm xã này không hoàn chỉnh về mặt xây dựng kết cấu hạ
1313
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
tầng, các xã phát triển phân tán vụn vặt, kinh tế của vùng cụm xã chỉ có thể
phát triển một cách manh mún nhỏ bé và lạc hậu. Nếu muốn thúc đẩy kinh tế

thành phần kinh tế nhằm đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tiểu
vùng. Trung tâm cụm xã tạo tiền đề cho các đô thị (thị tứ) ra đời và phát triển
thực hiện đường lối xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc miền núi theo
hướng CNH-HĐH, từng bứơc giảm dần sự chênh lệch quá lớn giữa thành thị
và nông thôn.
1.1.2. Những căn cứ pháp lý để xây dựng các trung tâm cụm xã miền núi:
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình xây dựng trung tâm cụm
xã miền núi vùng cao tại quyết định số 35/TTg ngày13/01/1997. Mục tiêu
của chương trình là xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu ở trung tâm cụm xã để
tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi nhằm góp
phần đảm bảo an ninh quốc phòng, thúc đẩy các hoạt động văn hoá , xã hội
trong tiểu vùng .
Để hỗ trợ cho chương trình, ngày 23 tháng 7 năm 1998 Thủ tướng chính
phủ ra Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg quy định về việc phê duyệt chương
trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghẻo trong giai đoạn 1998-2000.
Ngày 31 tháng 7 năm 1998 ra Quyết định số 135/ 1998/QĐ- TTg về việc phê
duyệt chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền
núi, vùng sâu, vùng xa.
Ngày 30/09/1999 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 197/1999/QĐ-
TTg về quản lý đầu tư và xây dựng trung tâm cụm xã theo cơ chế quản lý của
chương trình 135 (Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó
khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa). Đây thực chất là chương trình xây dựng
trung tâm cụm xã được vận hành theo cơ chế quản lý của dự án xây dựng cơ
sở hạ tầng. Theo quyết định 197/1999/QĐ-TTg trong điều 2 đã quy định:
“Trước mắt ưu tiên xây dựng một số công trình như đường giao thông,
trường học, phòng khám đa khoa, trạm khuyến nông, khuyến lâm, chợ, tạo
điều kiện mặt bằng và tổ chức cho các thành phần dân cư đầu tư vốn xây
dựng nhà ở, phát triển sản xuất, các ngành nghề dịch vụ .”
Từ năm 2001, các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các xã vùng dân
tộc miền núi được thực hiện theo Quyết định số 138/ 2000/ QĐ- TTg ngày 29

các trung tâm cụm xã phải lưu ý:
1616
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
+ Tuỳ thuộc vào đặc điểm tự nhiên, dân sinh kinh tế , tập quán sản xuất,
tâm lý xã hội ( chủ yếu là các dân tộc có mối quan hệ xã hội gần nhau) gần
giống nhau gồm một số xã tiếp giáp nhau để hình thành cụm xã( từ 3-5 xã)
tuỳ theo diện tích tự nhiên, số dân, đường xá thuận lợi cho giao lưu kinh tế,
văn hoá, xã hội.
+ Trung tâm cụm xã được lựa chọn là một địa điểm thuận lợi nhất như đầu
nút các điểm giao thông( ngã ba, ngã tư...) gần dân cư của một xã, khoảng
cách từ trung tâm cụm xã này đến các xã trong tiểu vùng không quá xa, đảm
bảo đi lại thuận lợi nhất.
+ Căn cứ vào các điều kiện cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông thuận lợi
không bị khống chế bởi phạm vi hành chính trong huyện hay ngoài huyện,
miễn là thuận lợi, là điểm phát triển nhất so với các vùng khác trong phạm vị
cụm xã.
Xây dựng trung tâm cụm xã đặc biệt chú ý đến các mối quan hệ giữa trung
tâm cụm xã với các xã trong cụm, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội trên
toàn địa bàn. Trung tâm cụm xã là hạt nhân, là động lực thúc đẩy kinh tế -
văn hoá đời sống của bản làng ở trong cụm phát triển, còn các bản làng trong
cụm xã phát triển thúc đẩy mọi hoạt động của trung tâm diễn ra sôi nổi, nhộn
nhịp phong phú, sầm uất và hấp dẫn làm cho trung tâm nhanh chóng trở
thành thị tứ, thị trấn giữ được vai trò trung tâm kinh tế- văn hoá- xã hội của
tiểu vùng.
1.4. Vai trò của việc xây dựng các trung tâm cụm xã :
Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở nước ta là một
đòi hỏi cấp bách song là một sự nghiệp hết sức khó khăn. Bởi lẽ, bên cạnh
những đô thị sầm uất, phát triển nhanh mạnh nổi bật thì những vùng nông
thôn của nước ta, nhất là nông thôn miền núi còn quá nghèo nàn và lạc hậu.
Việc phát triển toàn diện nông thôn có ý nghĩa to lớn đối với phát triển

nông - khuyến lâm giúp họ cải tạo điều kiện sản xuất, phương thức canh tác,
tăng gia phát triển sản xuất vươn lên thoát đói nghèo.
1818
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
Tạo ra cụm kinh tế - xã hội - văn hoá để đồng bào các dân tộc thuộc tiểu
vùng giao lưu trao đổi hàng hoá, từng bước xoá dần sự cách biệt giữa nông
thôn và thành thị.
Tác dụng tích cực này được phản ánh rõ nét qua sự hình thành các trung
tâm cụm xã. Tức là, vì mục đích trao đổi hàng hoá mà trung tâm cụm xã ra
đời với: điện , đường, trường, trạm ,.. được xây dựng tại các trung tâm cụm
xã và nhờ thế kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển hơn , người dân ở đây
có nhiều cơ hội để mở mang giao tiếp, trao đổi với thành thị và các vùng kinh
tế khác không chỉ về kinh tế , kinh nghiệm, công nghệ mới cho sản xuất mà
cả về văn hoá lối sống. Bởi vậy người dân dễ dàng hơn khi dứt bỏ cuộc sống,
phong tục lạc hậu để tiếp cận hoà nhập với cuộc sống văn minh hiện đại, họ ý
thức được vấn đề đẩy mạnh sản xuất, làm kinh tế buôn bán và trao đổi hàng
hoá, kinh tế hàng hoá phát triển sẽ đưa kinh tế tiểu vùng phát triển và đời
sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện, tiểu vùng có cơ hội khắc
phục phần nào tình trạng tụt hậu ngày càng xa so với các vùng đô thị khác.
Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở vùng dân tộc.
Như đã đề cập trung tâm cụm xã suy cho cùng là một hình thức đô thị
được xây dựng ở khu vực miền núi vùng cao, nên khi được xây dựng và phát
triển nó trở thành một trọng điểm kinh tế có tác dụng tạo động lực lan toả cho
phát triển kinh tế các xã lân cận. Trung tâm cụm xã chính là phương tiện để
thực hiện đô thị hoá các vùng nông thôn miền núi, nhằm thúc đẩy kinh tế ở
đây phát triển .
Mà phát triển kinh tế có nghĩa là phải làm thay đổi được cơ cấu kinh tế.
Cụ thể ở đây là thay đổi cơ cấu ngành sản xuất, cơ cấu vùng lãnh thổ ở những
nông thôn nghèo nàn. Xây dựng một trung tâm cụm xã là xây dựng một đô

giúp đảm bảo đời sống vật chất văn hoá tinh thần cho đồng bào, giúp động
bào ổn định sản xuất, nâng cao trình độ nhận thứcvà sự hiểu biết và tin vào
Đảng vào chế độ, nhất là chú ý xây dựng trung tâm cụm xã ở các vùng tiếp
giáp biên giới vững mạnh toàn diện, là cị trí kinh tế, chính trị làm cơ sở nền
tảng cho bảo đảm an ninh, toàn vẹn lãnh thổ khu vực giáp danh biên giới.
2020
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
- Phát triển trung tâm cụm xã góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc.
Xây dựng trung tâm cụm xã sẽ làm cho đời sống vật chất, văn hoá, tinh
thần của nhân dân vùng cụm xã có điều kiện tăng lên. Khi đời sống văn hoá
tinh thần được cải thiện, mặt bằng dân trí và nguồn nhân lực được nâng lên
một bước thì bản sắc văn hoá của các dân tộc sẽ có điều kiện được phát huy,
điều kiện sống của mỗi dân tộc được cải thiện, bình đẳng giữa các dân tộc
được thực hiện toàn diện hơn cả về chính trị kinh tế văn hoá; vị trí của từng
dân tộc trong cộng đồng sẽ ngày được phát huy.
Ngoài ra, xây dựng trung tâm cụm xã còn tạo điều kiện thuận lợi cho
việc chỉ đạo, quản lý của tỉnh huyện và trung ương với các vùng cụm xã sát
sao kịp thời. Thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thiết
yếu về kinh tế, xã hội do tập trung được nguồn vốn. Đưa nhanh tiến bộ khoa
học kỹ thuật, các hoạt động thông tin về kinh tế - văn hoá - xã hội và chính trị
đến gần nơi các dân tộc đang cư trú. Tạo điều kiện thực hiện đường lối CNH-
HĐH của Đảng, nhằm củng cố và nâng cao lòng tin của đồng bào các dân tộc
với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước . Tăng cường đoàn kết các
dân tộc anh em.
2. Cơ sở hạ tầng với phát triển kinh tế xã hội :
2.1.Khái niệm về cơ sở hạ tầng:
Nền tảng kinh tế, bao gồm toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội phù hợp
với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, trong quan hệ
với kiến trúc thượng tầng chính trị, tư tưởng ,...xây dựng trên những nền tảng

động của ngành và những công trình liên ngành đảm bảo sự hoạt động đồng
bộ của toàn hệ thống. Chẳng hạn, kết cấu hạ tầng trong công nghiệp bao gồm
toàn bộ nhà cửa vật kiến trúc phục vụ trong sản xuất công nghiệp (hệ thống
điện, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống vận tải...), kết cấu hạ tầng giao thông
vận tải bao gồm hệ thống đường xá, cầu cống, thông tin tín hiệu đảm bảo
giao thông, nhà ga, bến bãi...
Tuy vậy có thể chia cơ sở hạ tầng thành hai nhóm chủ yếu sau, gồm cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội
2222
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
* Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: bao gồm các công trình và phương tiện là điều
kiện vật chất cho sản xuất và sinh hoạt của xã hội . Đó là công trình và
phương tiện của hệ thống giao thông vậntải, bưu chính viễn thông, cung cấp
điện nước , chợ và các trung tâm buôn bán...
* Cơ sở hạ tầng xã hội: bao gồm các công trình và phương tiện là điều
kiện để duy trì và phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện và đảm bảo
đời sống tinh thần cho các thành viên trong xã hội. Đó là các công trình và
phương tiện của các cơ sở giáo dục đầo tạo, các cơ sở khám chữa bệnh, văn
hoá văn nghệ, thể dục thể thao, các cơ sở đảm bảo an ninh xã hội...
Các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật là hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu
phục vụ cho sản xuất và đời sống. Đây là yếu tố mở đường, là động lực và là
một bộ phận cấu thành của phát triển kinh tế xã hội. Còn các cơ sở hạ tầng xã
hội là hệ thống cơ sở phục vụ dân sinh, phát triển văn hoá xã hội. Đây là yếu
tố bổ sung cho phát triển kinh tế xã hội.
2.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng trong phát triển kinh tế -xã hội :
Cơ sở hạ tầng gắn liền với mọi hoạt động của nền kinh tế - xã hội , đây là
yếu tố cơ bản cho sự phát triển của mỗi quốc gia. Nó vừa là nhân tố thúc đẩy
kinh tế xã hội phát triển vừa là nhân tố phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh
tế xã hội của quốc gia đó . nên có thể nói rằng : cơ sở hạ tầng có vai trò vô
cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, nhất là

thống kho chứa, cửa hàng... và thông tin, liên lạc ngày càng có vai trò quan
trọng đối với kinh tế hàng hoá. Nó là điều kiện cần để thực hiện trao đổi hàng
hoá.
Như vậy, chỉ cần một trục trặc trong một khâu nhất định của một loại hoạt
động do sự yếu kém của hệ thống kết cấu hạ tầng gây ra như cung cấp năng
lượng, cấp thoát nước, giao thông ... thì lập tức sẽ gây sự cố cho hoạt động
của các cơ sở sản xuất và dịch vụ khác. Ngược lại, một hệ thống cơ sở hạ
tầng đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sản
phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm
làm cho các sản phẩm hàng hoá mang tính cạnh tranh hơn.
Hai là: Cơ sở hạ tầng quyết định sự tăng trưởng và phát triển nhanh của
các ngành các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ.
2424
Trần Thị Ánh Tuyết - KTĐT 40 B - ĐH Kinh tế quốc dân-Hà Nội
Tăng trưởng kinh tế là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch
vụ mà nền kinh tế tạo ra, còn cơ sở hạ tầng lại là điều kiện vật chất cho sản
xuất tiến hành. Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông,
thông tin liên lạc là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế. Lịch sử nhân loại
đã cho thấy, vận tải hàng hoá và đi lại bằng hệ thống giao thông đường sắt
xuyên quốc gia, liên lạc thông tin bằng điện thoại và vô tuyến điện đã đánh
dấu một bước nhảy vọt về trình độ kinh tế từ xã hội phong kiến sang xã hội
tư bản. Rõ ràng điều kiện về cơ sở hạ tầng càng tốt, tính hữu ích trong việc
thúc đẩy sản xuất càng cao, các ngành sẽ phát triển càng nhanh.
Ba là: Cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho sử dụng tốt tiềm năng của
đất nước.
Đất đai, lao động, tài nguyên khó có thể phát huy hết lợi ích của mình khi
mà không có đầy đủ điều kiện để khai thác và sử dụng, cơ sở hạ tầng chính là
chìa khoá để mở những tiềm năng đó. Chẳng hạn như nước ta có nhiều tài
nguyên khoáng sản nhưng nhiều nơi ta chưa có điều kiện khai thác được do
khó khăn về nguồn lực nhưng quan trọng đáng kể là vấn đề cơ sở hạ tầng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status