Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
Danh sách thành viên:
1. Nguyễn Thị Xuân An
2. Nguyễn Thị Hồng Anh
3. Vũ Thị Tuyết Anh
4. Võ Quang Chương
5. Lê Thị Thanh Hằng
6. Nguyễn Thị Ngọc Nhung
7. Trần Thị Dạ Thảo
8. Lê Thị Vinh
9. Lâm Duy Vũ
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 1
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
MỤC LỤC
1. Cơ sở lý thuyết
1.1. Khái niệm
1.2. Giá của biện pháp tự vệ
1.3. Các biện pháp tự vệ thương mại
1.4. Điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại
1.5. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại của
WTO
1.6. Thủ tục áp dụng biện pháp tự vệ
2. Thực trạng hiện nay
2.1. Môi trường pháp lý về tự vệ thương mại tại Việt Nam
2.2. Tác động của việc ban hành Pháp lệnh và nghị định về tự vệ
3. Một số kiến nghị
3.1 Đối với Nhà nước
3.2. Đối với doanh nghiệp
3.3 Một số kiến nghị khác
PHỤ LỤC
-Tăng mức thuế đã cam kết vượt lên trên mức thuế trần(biện pháp thuế quan)
-Áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng như hạn ngạch(biện pháp phi thuế quan)
1.3.1. Biện pháp thuế quan:
Đây là biện pháp mà WTO cho phép để bảo hộ thị trường trong nước và chủ yếu dưới
dạng tăng thuế nhập khẩu, vì đây là công cụ đảm bảo tính minh bạch và dễ dự doán, được
thực hiện bằng những con số rõ ràng, do vậy người ta có thể thấy được mục đích bảo hộ dành
cho 1 ngành sản xuất của mỗi quốc gia. Ngoài ra, do biện pháp thuế quan chỉ làm tăng giá
sản phẩm nên cũng không làm cho thương mại bị bóp méo và đảm bảo cho “bàn tay vô
hình”của thị trường thực hiện được chức năng của mình. Tuy nhiên khi tham gia vào quá
trình hội nhập, các nước phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và phải có
lịch trình cắt giảm cụ thể.
1.3.2. Các biện pháp phi thuế quan:
Trước kia các nước nhập khẩu thường sử dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu tự
nguyện(VERs- Voluntary Export Restrains), qua đó lợi dụng ảnh hưởng của mình để qua đó
ép buộc các nước đối tác tự nguyện hạn chế xuất khẩu, đồng thời cơ chế này cũng thể hiện sự
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 3
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
phân biệt đối xử rất rõ. Vì vậy trrong hiệp định về các biện pháp tự vệ, WTO đã cấm sử dụng
VERs mà thay vào đó là các biện pháp hạn chế định lượng bao gồm:
a) Hạn ngạch:
Hạn ngạch là biện pháp dùng để hạn chế số lượng hay giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu
từ một thị trường nào đó trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm).Có 2 loại
hạn ngạch:
- Hạn ngạch tuyệt đối : là hạn gạch mà khi áp dụng, nếu hàng hoá nhập khẩu vượt quá
môt khối lượng đã qui định thì không được cấp giấy phép XK.
- Hạn ngạch thuế suất thuế quan : là hạn ngạch mag khi áp dụng, nếu khối lượng hàng
hoá nhập khẩu không vượt quá mức đọ qui định thì sẽ đánh thuế suất thông thường, ngược
lại sẽ đánh thuế suất bổ sung hay đánhd thuế tăng lên theo phân tăng lên theo tưng phần tăng
tương ứng của số lượng hàng hoá NK
hay tương đối
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 4
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
Lượng gia tăng nhập khẩu lấy đi bao nhiêu%thị phần trong nước.
Sự giảm sút thực tế về sản lượng, doanh số, thị phần, lợi nhuận, năng suất, tỉ suất đầu
tư
Tác động đến thị trường lao động.
Việc điều tra sẽ do 1 cơ quan chuyên trách ở mỗi quốc gia đảm nhiệm.Tuy nhiên, nếu
như xét thấy bất kì 1 sự trì hoãn nào có thể làm cho tình hình trở nên trầm trọng hơn và khó
phục hồi, các quốc gia có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời mà chỉ dựa vào những dấu
hiệu ban đầu cho thấy có thiệt hại nghiêm trọng bắt nguồn từ gia tăng nhập khẩu, không cần
đợi kết quả điều tra. biện pháp này chỉ kéo dài tối đa 200 ngày và được áp dụng dưới hình
thức tăng thuế suất. Khoảng thời gian áp tự vệ tạm thời cũng sẽ được tính vào tổng thời gian
áp dụng tự vệ thương mại. Nếu sau này kết quả cho thấy không đủ điều kiện áp dụng tự vệ
thương mại thì các bên sẽ phải hoàn trả cho nhau ngay lập tức khoản thuế gia tăng đã thu
được.
1.4.3. Sự gia tăng về số lượng hàng hoá nhập khẩu đó phải là nguyên nhân trực tiếp
gây ra những thiệt hại nói trên
Một quốc gia sẽ không thể áp dụng được các biện pháp tự vệ thương mại nếu như
không chứng minh được rằng có tồn tại bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ nhân quả giữa
lượng nhập khẩu gia tăng đột biến của loại hàng hoá có liên quan với thiệt hại nghiêm trọng
gây ra. Việc chứng minh mối quan hệ này có thể dựa trên sự tương quan về thời gian xảy ra
việc tăng lượng hàng hóa nhập khẩu tăng và thời gian xảy ra thiệt hại nghiêm trọng. Tuy
nhiên, nếu có những yếu tố khác không phải là gia tăng nhập khẩu, cùng trong thời gian đó
gây ra tổn hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây ra tổn hại thì không thể suy diễn là thiệt hại đó
là do việc hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh. Điều này đồng nghĩa là các nhân tố gây thiệt hại
cần phải được phân biệt và làm rõ, từ đó tạo nên giới hạn cho việc áp dụng tự vệ thương mại.
1.5. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại của WTO
1.5.1. Nguyên tắc không phân biệt đối xử.
1.5.3. Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại
Khác với các biện pháp chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạh do hành
động bán phá giá hay trợ cấp của Chính phủ, một nước thành viên khi áp dụng biện pháp tự
vệ phải đảm bảo đền bù thỏa đáng cho nước bị áp dụng TVTM. Việc đền bù này thường
thông qua việc giảm thuế cho một số mặt hàng có lợi ích xuất khẩu cho nước bị áp dụng
TVTM. Mức độ đền bù phải tương đương đáng kể.
Nếu các bên không thể thỏa thuận được mức độ bồi thường tương xứng thì các nước
bị áp dụng TVTM có thể áp dụng các biện pháp trả đũa. Tuy nhiên, quyền thực hiện trả đũa
thương mại chỉ có thể tiến hành sau 3 năm kể từ khi biện pháp TVTM thực hiện.
1.5.4. Nguyên tắc ưu tiên cho các nước đang phát triển
WTO thừa nhận cần phải có sự cần thiết phải dành cho những nước đang và chậm
phát triển những điều kiện thuật lợi hơn trong thương mại quốc tế, dành cho các nước này
những chế độ đãi ngộ đặc biệt và khác biệt trong thương mại quốc tế mà không yêu cầu có đi
có lại trong các cam kết.
Điều 9 Hiệp định về TVTM của WTO quy định: Các biện pháp TVTM không được áp
dụng với hàng hóa có nguồn gốc từ một nước thành viên đang phát triển nếu như thị phần
xuất khẩu hàng hóa của nước này tại nước nhập khẩu không vượt quá 3 %. Hoặc nếu có
nhiều nước thành viên đang phát triển có thị phần từng nước dưới 3% và tổng thị phần của
các nước này không lớn hơn 9 % thì không bị áp dụng TVTM.
Về phần mình, một nước thành viên đang phát triển lại có quyền mở rộng thời hạn áp
dụng TVTM với nước khác thêm 2 năm nữa so với thời hạn tối đa được áp dụng TVTM
thông thường là 8 năm.
1.6. Thủ tục áp dụng biện pháp tự vệ
Khác với trường hợp các vụ kiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp, WTO không có
nhiều quy định chi tiết về trình tự, thủ tục kiện áp dụng biện pháp tự vệ. Tuy nhiên, Hiệp
định về Biện pháp tự vệ của WTO có đưa ra một số các nguyên tắc cơ bản mà tất cả các
thành viên phải tuân thủ, ví dụ:
Đảm bảo tính minh bạch (Quyết định khởi xướng vụ điều tra tự vệ phải được thông
báo công khai; Báo cáo kết luận điều tra phải được công khai vào cuối cuộc điều tra…)
Đảm bảo quyền tố tụng của các bên (các bên liên quan phải được đảm bảo cơ hội trình
nước. Chương trình cát giảm thuế nhập khẩu và dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan để thúc
đẩy hoạt động thương mại và đầu tư là không thể tránh khỏi trong quá trình hội nhập. Trong
cam kết WTO về thuế quan , Việt Nam đã có kết quả dàm phán cho toàn bộ biểu thuế nhập
khẩu (10.600 dòng thuế), và cam kết cắt giảm 22% thuế nhập khẩu so với mức hiện hành,
thực hiện chủ yếu trong 5 năm kể từ khi gia nhập WTO. Trong số 10.600 dòng thuế nhập
khẩu sẽ có 36% phải cắt giảm, lộ tình cắt giảm kéo dài bình quân 5-7 năm. Mức thuế bình
quân cho nông nghiệp là 21%, công nghiệp là 12.6%, so với mức bình quân hiện hành là
23,5% và 16.6% … Ngoài ra trong các cơ chế hợp tác, tự do hoá ASEAN-Trung Quốc,
ASEAN-Ấn Độ, ASEAN-Nhật, ASEAN-Hàn Quốc…. mà Việt Nam tham gia cũng quy định
tiến trình cụ thể về cắt giảm thuế và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan.
Tất cả những điều này sẽ khiến cho môi trường kinh doanh ở nước ta ngày cành cạnh
tranh do sức ép mạnh mẽ từ luồng hành hoá nhập khẩu chủ yếu là từ Trung Quốc và
ASEAN, đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phỉa nỗ lực để vượt qua thách thức.
Trong bối cảnh ấy, việc đặt ra nhu cầu bảo hộ nói chung và tự vệ nói riêng nhằm giúp
đỡ các doanh nghiệp trong nước có điều kiện điều chỉnh cơ cầu và nâng cao sức cạnh tranh là
cần thiết. Đã đến lúc chúng ta đứng lên bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, các doanh
nghiệp Việt Nam cần kiện ngược lại chứ không chỉ loay hoay bị động với các vụ khởi kiện từ
nước ngoài. Lâu nay, chúng ta chỉ lo lắng đối phó với việc nước ngoài kiện sản phẩm của
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 7
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
mình bán phá giá vào thị trường họ hoặc sản phẩm của mình đựơc nhập khẩu tràn lan đe doạ
đến ngành sản xuất trong nước họ. Đã đến lúc doanh nghiệp Việt Nam khởi kiện hàng hoá
của nước ngoài được trợ cấp, bán phá giá hay nhập khẩu quá mức đang đe doạ nhiều ngành
công nghiệp non yếu của mình
2.1. M ôi trường pháp lý về tự vệ thương mại tại Việt Nam
Cho đến thời điểm này, hai văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh vấn đề tự vệ thương
mại là Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 của Uỷ ban thường vụ quốc hội ngày 25 tháng
5 năm 2002 về tự vệ trong nhập khẩu hàng nước ngoài vào Việt Nam và nghị định số
150/2003/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nói trên.
việc gia nhập WTO.
2.2.2. Những tác động tiêu cực
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 8
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
- Việc áp dụng các biện pháp tự vệ cũng có thể làm giảm cơ hội của các ngành sản
xuất sử dụng hàng hoá nhập khẩu đầu vào cho sản xuất với giá thấp hoặc chất lượng tốt hơn,
hạn chế người tiêu dùng có được những hàng hoá tương tự với giá rẻ hơn.
- Trong một số trường hợp, việc áp dụng các biện pháp tự vệ có thể làm thay đổi đáng
kể các cơ hội thị trường mà các đối tác nước ngoài có được và do vậy có thể dẫn đến sự
khiếu nại từ phía chính phủ nước ngoài, thậm chí khi tham vấn liên chính phủ không thành
công có thể bị trả đũa.
- Nếu lạm dụng các biện pháp tự về sẽ làm nảy sinh sự ỷ lại của các doanh nghiệp vào
sự bảo hộ quá mức của Nhà nước.
3. Một số kiến nghị
3.1 Đối với Nhà nư ớc (ở tầm vĩ mô)
3.1.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp điều chỉnh thương mại đặc biệt là Pháp lệnh
về tự vệ thương mại
Đây là một kiến nghị không mới, mặc dù chúng ta đã hết sức cố gắng trong việc xây
dựng và ban hành ra một khung pháp lý phù hợp với pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ song như thế chưa đủ. Hệ thống pháp luật điều
chỉnh thương mại của chúng ta còn chưa đầy đủ và cha đồng bộ, đôi khi còn chồng chéo lên
nhau gây khó hiểu và hoạt động còn chưa có hiệu quả rõ rệt. Do đó, Nhà nước ta cần phải
hoàn thiện hơn nữa hệ thống luật pháp này thông qua quá trình rà soát, sửa đổi, bổ sung, thay
thế, loại bỏ hay làm mới các quy định có liên quan Quá trình này phải được tiến hành một
cách đồng bộ và thống nhất giữa các Bộ, ngành, cơ quan hữu quan. Ngoài ra để xây dựng
một môi trờng cạnh tranh lành mạnh cần nhanh chóng ban hành Luật về cạnh tranh và chống
độc quyền, về chống gian lận thơng mại và các yếu tố pháp lý quan trọng khác của nền kinh
tế thị trường. Quan trọng nhất tạo ra sự thuận tiện và cũng phải đảm bảo tính minh bạch
trong nội dung các văn bản đó. Cũng để có ưu thế về cạnh tranh trên bình diện quốc gia,
pháp tự vệ theo thời gian áp dụng là cần thiết cho phù hợp với luật pháp quốc tế chứ không
nên quy định một cách cứng nhắc như ở trong Pháp lệnh của ta.
Thứ ba theo quy định của Pháp lệnh tự vệ thì các biện pháp tự vệ được áp dụng không
phân biệt đối xử và không phân biệt xuất xứ hàng hoá trừ trờng hợp ngoại lệ là các biện pháp
tự vệ có thể không áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước kém phát triển. Về
mặt lý luận, quy định này phù hợp với các quy tắc và thông lệ của các nước trên thế giới
cũng như của WTO. Tuy nhiên trên thực tế việc áp dụng quy định này lại nảy sinh ra một số
khó khăn nhất định chẳng hạn như trong số các nước có lượng hàng hoá nhập khẩu vào Việt
Nam thì chỉ có một số nước có lượng nhập khẩu tăng mạnh trong khi thị phần nhập khẩu của
các nước khác không tăng thậm chí còn giảm đi. Việc áp dụng biện pháp hạn ngạch dựa trên
tỷ lệ hàng hoá nhập khẩu sẽ gây bất lợi đối với một số nớc có lợng nhập khẩu vaò Việt Nam
giảm đi trong khi những nớc có lượng nhập khẩu tăng mạnh thì sẽ ít bị ảnh hưởng hơn bởi
quyết định của nước áp dụng biện pháp tự vệ, Chúng ta cần thiết phải nghiên cứu bổ sung
thêm ngoại lệ này bằng cách đa thêm vào Pháp lệnh quy định việc phân bổ hạn ngạch, thoả
thuận áp dụng hạn ngạch chỉ đối với một số nước có thị phần nhập khẩu tăng lên một cách
tuyệt đối hay tương đối so với lượng nhập khẩu trung bình trong khoảng thời gian 3 năm tr-
ước đó. Hơn nữa chúng ta cũng nên quy định bổ sung thêm vào khoản 2 điều 21 Pháp lệnh
về tự vệ năm 2002 trường hợp nếu thị phần nhập khẩu từ các nớc kém phát triển vợt quá bao
nhiêu phần trăm thì có thể vẫn áp dụng một biện pháp tự vệ nhằm mục đích kiểm soát được
lượng hàng hoá nhập khẩu từ những nước này.
3.1.2. Nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp về công tác tự vệ
thương mại
Vấn đề tự vệ thương mại là một vấn đề còn rất mới mẻ trong nhận thức của các cơ
quan từ cấp Nhà nước xuống cấp doanh nghiệp của Việt Nam. Từ trước khi ban hành Pháp
lệnh về tự vệ năm 2002 trở về trớc, ở Việt Nam cha hề có một văn bản bản nào quy định hay
giải thích về vấn đề này. Sự hiểu biết về vấn đề liên quan đến các biện pháp tự vệ ngay trong
các cơ quan và công chức hoạch định chính sách thương mại cũng còn rất hạn chế huống chi
là cấp doanh nghiệp địa phương. Kể từ khi ban hành Pháp lệnh tự vệ tháng 5 năm 2002 đến
nay thì tình hình đã đợc cải thiện đôi chút. Chúng ta đã biết được những khái niệm cơ bản
nhất về các biện pháp tự vệ. Tuy nhiên sự nhận thức về vấn đề này còn cha phổ biến và cha
các buổi tham vấn, nghiên cứu…vv. Theo quy định của Pháp lệnh về tự vệ thì Bộ Thơng mại
là cơ quan đầu mối thực hiện các công việc trên, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Bộ Thương mại đã đợc Chính phủ giao. Trên thực tế đa số các nước đều theo mô
hình này nhưng cũng có nớc chọn mô hình cơ quan chịu trách nhiệm là một cơ quan liên
ngành. Nếu theo mô hình cơ quan liên ngành thì tổ chức bộ máy sẽ cồng kềnh dẫn đến việc
điều phối sẽ khó khăn hơn. Còn ở Việt Nam, tuy Bộ Thương mại là cơ quan đầu mối chuyên
trách có thẩm quyền điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ song Bộ này cũng cần phải phối hợp
chặt chẽ với một số Bộ ngành hữu quan khác đặc biệt là Bộ Tài chính, các Bộ chuyên ngành
phụ trách các ngành sản xuất, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê… Trên cơ sở đó, Bộ
Thương mại sẽ phải lập ra một Nhóm chuyên trách hoặc Nhóm đặc trách theo vụ việc gồm
các thành viên đại diện của các Bộ ngành nói trên. Nhóm này sẽ thực hiện chức năng điều
tra, đề xuất biện pháp áp dụng và thực thi các công việc liên quan đến việc áp dụng các biện
pháp tự vệ.
Vấn đề thành lập cơ quan trực thuộc Bộ Thương mại chuyên quản lý và điều tra, giám
sát việc thực hiện các biện pháp tự vệ cần phải đợc xúc tiến nhanh và phải đảm bảo hoạt
động của các cơ quan này không bị chi phối từ phía Chính phủ cũng như các doanh nghiệp,
không bị chồng chéo về thẩm quyền với các cơ quan khác và quan trọng là phải đảm bảo đư-
ợc tình hình nhân sự trong hoàn cảnh hiện nay khi chúng ta đang cải cách bộ máy nhà nước
sao cho gọn nhẹ mà hoạt động vẫn có hiệu quả. Nh vậy vấn đề này cần được Chính phủ sớm
quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
3.1.4 Tư vấn và hỗ trợ các doanh nghiệp những thông tin về tự vệ thương mại
Vấn đề thông tin trong thời đại hiện nay không còn là một vấn đề nan giải như trớc
đây. Ngày nay nhờ vào các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến như truyền thanh,
truyền hình, mạng Internet…chúng ta có thể có được bất kỳ thông tin cần thiết vào bất kỳ lúc
nào và bất cứ ở đâu. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để có đợc những thông tin chuẩn xác,
cụ thể, thiết thực và hữu ích cho vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu. Cụ thể ở đây là vấn đề
tự vệ thương mại. Vì đây là một chủ đề còn rất mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam
nên thông tin về vấn đề này ở Việt Nam còn rất hạn chế và sơ sài. Do đó các cơ quan nhà nư-
ớc có thẩm quyền cần sớm ban hành những văn bản thông tin có liên quan đến vấn đề tự vệ
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
chặt chẽ để tránh trường hợp các doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở pháp luật để thủ tiêu cạnh
tranh và gây ra cản trở thương mại, ảnh hởng đến quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam.
3.2.2 Chủ động tiếp cận và chuẩn bị đầy đủ kiến thức về tự vệ thương mại để sử
dụng khi cần thiết tiến hành tự vệ
Việc tiếp cận và tự tranh bị cho mình những kiến thức về tự vệ thơng mại ở các doanh
nghiệp Việt Nam chưa thực sự đợc quan tâm và chú trọng đúng mức. Thực tế ở Việt Nam
trong thời gian qua cho thấy tuy chúng ta cha thực sự tiến hành bất cứ biện pháp nào dới
danh nghĩa tự vệ thương mại nhng đã có một số ngành nghề xuất khẩu của chúng ta bị phía
nớc ngoài áp dụng biện pháp tự vệ và gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất
khẩu của ta, và chỉ trong doanh nghiệp xuất khẩu nào bị ảnh hởng, tác động bất lợi bởi việc
áp dụng biện pháp tự vệ của phía nước ngoài thì mới có nhu cầu tìm hiểu và trang bị cho
mình những kiến thức về tự vệ thương mại. Đây thực sự là một nhược điểm của các doanh
nghiệp Việt Nam cần sớm được khắc phục. Các doanh nghiệp nên sớm tạo cho mình thế chủ
động trong mọi tình huống. Bên cạnh sự trợ giúp của các cơ quan nhà nước hay các Hiệp hội
cùng ngành nghề thì các doanh nghiệp cũng cần phải tự tìm hiểu và tự chuẩn bị cho mình đầy
đủ các thông tin kiến thức về chủ trương chính sách tự vệ thương mại của nớc ta nói riêng và
tình hình tự vệ thương mại của thế giới nói chung để trên cơ sở đã hiểu sâu bản chất, nắm bắt
kịp thời vấn đề thì các doanh nghiệp có thể chủ động đối phó lại với những tình huống khi bị
nước khác áp dụng biện pháp tự vệ cũng như khi cần thiết phải yêu cầu Nhà nước ta sử dụng
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 12
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
biện pháp tự vệ để bảo vệ quyền và lợi ích của doanh nghiệp nói riêng, của quốc gia nói
chung.
3.2.3 Khẩn trương tìm hiểu, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, bằng chứng để yêu cầu tiến hành
áp dụng biện pháp tự vệ hay biện pháp trả đũa
Các doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ
bởi vì đây là những đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc hàng hoá nhập khẩu gia tăng
hay chịu tác động bất lợi trực tiếp bởi việc áp dụng các biện pháp tự vệ của các nước khác.
Doanh nghiệp là những nhân tố chính trong cuộc điều tra và đa ra những bằng chứng trong
Nông nghiệp và Phát triển Nông thônh, Bộ Thuỷ Sản…cũng có trách nhiệm phối hợp chặt
chẽ, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ hay trực tiếp tham gia cùng với các cơ quan chức năng
chuyên trách và các đối tượng chính của vụ việc.
Thứ ba là cơ chế tự vệ thương mại này chỉ nên sử dụng trong trường hợp thực sự cần
thiết và chỉ nên áp dụng cho một số ngành nhạy cảm và quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Đó phải là những ngành mà nếu bị thiệt hại thì sẽ gây ra những tác động xấu đến toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. Do đó khi thu nhận hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ của
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 13
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
một ngành sản xuất thì Bộ Thương mại phải suy xét và cân nhắc cẩn thận về việc có thật sự
cần thiết phải tiến hành điều tra, áp dụng biện pháp tự vệ đối với ngành sản xuất đó không
hay chỉ cần sử dụng một số hạn chế đơn giản hoặc chỉ cần đàm phán, sửa đổi một số cam
kết… Bởi một khi đã tuyên bố áp dụng biện pháp tự vệ thì nguy cơ bị trả đũa thương mại là
rất cao. Và trong một số trờng hợp thì thiệt hại do bị trả đũa thương mại khi áp dụng biện
pháp tự vệ còn lớn hơn và nghiêm trọng hơn thiệt hại gây ra bởi việc gia tăng hàng nhập
khẩu. Trong bối cảnh Việt Nam là một nớc nhỏ bé, tiềm lực kinh tế chưa mạnh, lượng hàng
hoá lưu thông trên thị trờng quốc tế là không đáng kể, lại mới tiến hành mở cửa được hơn 10
năm nay với vị thế trên trờng quốc tế còn rất khiêm tốn thì vấn đề này lại càng phải được các
cơ quan có thẩm quyền quan tâm, xem xét đến nhiều hơn.
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 14
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
PHỤ LỤC
Hiệp định về các biện pháp tự vệ
Đi ề u 1 : Quy định chung
Hiệp định này thiết lập các quy tắc áp dụng các biện pháp tự vệ được hiểu theo
nghĩa các biện pháp được quy định tại Điều 19 của GATT 1994.
Điều 2 : Các điều kiện
1. Một Thành viên có thể áp dụng một biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi
(b)"đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng" được hiểu là tổn hại nghiêm trọng rõ ràng sẽ
xảy ra, phù hợp với các quy định tại khoản 2. Việc xác định nguy cơ tổn hại nghiêm trọng
phải dựa trên cơ sở thực tế chứ không phải là phỏng đoán, viện dẫn hoặc khả năng xa; và
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 15
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
(c) trong khi xác định thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại, một "ngành sản xuất nội địa"
được hiểu là toàn bộ các nhà sản xuất sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm trực tiếp cạnh
tranh trong phạm vi lãnh thổ một Thành viên, hoặc tập hợp các nhà sản xuất mà đầu ra của
sản phẩm tương tự hoặc trực tiếp cạnh tranh của họ chiếm phần lớn trong tổng số sản xuất
nội địa của loại sản phẩm này.
2. (a)Trong khi điều tra để xác định xem hàng nhập khẩu gia tăng có gây ra hoặc
đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng đối với sản xuất trong nước theo các quy định của Hiệp
định này không, cơ quan chức năng sẽ đánh giá tất cả các yếu tố liên quan tới đối tượng và
có thể định lượng dựa trên tình hình sản xuất của ngành này, đặc biệt là tốc độ và số lượng
gia tăng nhập khẩu của sản phẩm có liên quan một cách tương đối hay tuyệt đối, thị phần
trong nước của phần gia tăng nhập khẩu này, sự thay đổi mức bán hàng, sản xuất, năng suất,
công suất sử dụng, lợi nhuận, lỗ và việc làm.
(b)Việc xác định được đề cập tại điểm (a) sẽ không được thực hiện, trừ khi việc
điều tra này, trên cơ sở những chứng cứ khách quan, cho thấy có mối liên hệ nhân quả giữa
việc gia tăng nhập khẩu một loại hàng hóa có liên quan và tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa
gây ra tổn hại nghiêm trọng. Khi có các yếu tố khác không phải là sự gia tăng nhập khẩu,
xuất hiện cùng một thời gian, gây ra tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm
trọng đối với ngành công nghiệp trong nước thì những tổn hại này sẽ không được coi là do
sự gia tăng nhập khẩu.
(c)Phù hợp với quy định tại Điều 3, các cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố ngay
lập tức một bản đánh giá chi tiết về vụ việc được điều tra cũng như trình bày các nhân tố liên
quan được xem xét.
Điều 5 : Áp dụng biện pháp tự vệ
1. Một Thành viên sẽ chỉ áp dụng biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản
sơ bộ rằng có chứng cứ rõ ràng chứng tỏ gia tăng nhập khẩu đã gây ra hoặc đe dọa gây ra
tổn hại nghiêm trọng. Thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời không được quá 200 ngày và
trong suốt thời hạn đó các yêu cầu từ Điều 2 đến 7 và Điều 12 phải được tuân thủ. Các biện
pháp này được áp dụng dưới hình thức tăng thuế và sẽ được hoàn trả ngay nếu điều tra sau
đó, như quy định tại khoản 2 Điều 4 xác định rằng sự gia tăng nhập khẩu không gây ra hoặc
đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất nội địa. Thời gian áp dụng bất kỳ
biện pháp tạm thời nào sẽ được tính vào thời gian ban đầu và được gia hạn theo quy định tại
khoản 1, khoản 2, khoản 3 của Điều 7.
Điều 7 : Thời hạn và rà soát các biện pháp tự vệ
1. Một Thành viên sẽ chỉ áp dụng các biện pháp tự vệ trong tời hạn cần thiết để ngăn
chặn hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và tạo điều kiện điều chỉnh. Thời gian này không
được vượt quá 4 năm, trừ khi được gia hạn theo khoản 2.
2. Thời hạn nêu tại khoản 1 có thể kéo dài với điều kiện cơ quan có thẩm quyền của
Thành viên nhập khẩu xác định, phù hợp với các thủ tục được nêu tại điều 2, Điều 3, Điều 4
và Điều 5, rằng biện pháp này vẫn cần thiết để ngăn chặn hay khắc phục tổn hại nghiêm
trọng và có chứng cứ rằng ngành công nghiệp này đang được điều chỉnh, với điều kiện phải
tuân thủ các quy định của Điều 8 và Điều 12.
3. Toàn bộ thời gian áp dụng một biện pháp tự vệ kể cả thời gian áp dụng biện pháp
tạm thời, thời gian bắt đầu áp dụng và bất kỳ sự gia hạn nào không được vượt quá 8 năm.
4. Nhằm tạo điều kiện điều chỉnh trong trường hợp thời hạn áp dụng một biện pháp tự
vệ theo các quy định khoản 1 Điều 12 vượt quá 1 năm, Thành viên áp dụng sẽ từng bước nới
lỏng biện pháp này trong khoảng thời gian áp dụng. Nếu thời gian áp dụng vượt quá 3 năm,
Thành viên áp dụng biện pháp này sẽ rà soát thực tế trong thời hạn không muộn hơn trung
kỳ của biện pháp, và nếu thích hợp, có thể loại bỏ hoặc đẩy nhanh tốc độ tự do hóa. Một biện
pháp, khi được gia hạn thêm theo khoản 2 không được hạn chế hơn và phải tiếp tục được
nới lỏng.
5. Không biện pháp tự vệ nào được áp dụng lại đối với việc nhập khẩu một sản phẩm
đã bị áp dụng một biện pháp này sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực trong thời hạn
bằng thời hạn mà biện pháp đó đã được áp dụng trước đây, với điều kiện thời hạn không áp
dụng phải ít nhất là 2 năm.
Thành viên đang phát triển, nếu thị phần hàng hóa có liên quan được nhập từ Thành viên
này không vượt quá 3%, với điều kiện là tổng số thị phần nhập khẩu từ các Thành viên đang
phát triển, có thị phần nhập khẩu riêng lẻ nhỏ hơn 3%, không vượt quá 9% tổng kim ngạch
nhập khẩu nhập khẩu của hàng hóa liên quan[2].
2. Một Thành viên đang phát triển có quyền kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ
trong thời hạn không quá 2 năm sau khi hết thời hạn tối đa quy định tại khoản 3 Điều 7.
Cho dù có các quy định tại khoản 5 Điều 7, một Thành viên đang phát triển có quyền áp
dụng lại một biện pháp tự vệ đối với việc nhập khẩu hàng hóa đã chịu sự áp dụng của biện
pháp này, sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực, sau thời gian bằng một nửa thời gian mà biện
pháp này được áp dụng trước đây, với điều kiện là thời gian không áp dụng ít nhất là 2 năm.
Điều 10 : Các biện pháp tồn tại trước trong Điều XIX
Các Thành viên phải chấm dứt việc áp dụng tất cả các biện pháp tự vệ quy định tại
Điều XIX GATT 1947 đã áp dụng cho tới khi Hiệp định WTO có hiệu lực không muộn hơn
8 năm sau khi áp dụng lần đầu tiên hoặc 5 năm kể từ khi Hiệp định WTO có hiệu lực, tuỳ
thuộc thời hạn nào đến sau.
Điều 11 :
Cấm và hạn chế một số biện pháp cụ thể
1. (a)Một Thành viên sẽ không áp dụng hoặc tìm kiếm bất cứ hành động khẩn cấp nào
trong việc nhập khẩu hàng hóa cụ thể theo quy định tại Điều XIX GATT 1994 trừ khi hành
động này phù hợp với những quy định của Điều này được áp dụng phù hợp với Hiệp định
này.
(b)Hơn nữa, một Thành viên sẽ không tìm kiếm, áp dụng hay duy trì bất cứ một hạn
chế xuất khẩu tự nguyện nào, thoả thuận phân chia thị trường hay bất cứ biện pháp tương tự
nào khác đối với việc xuất khẩu và nhập khẩu[3],[4]. Những biện pháp này bao gồm những
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 18
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
hành động do một Thành viên đơn phương áp dụng cũng như là những hành động theo các
thoả thuận, hiệp định hay hiểu biết giữa hai hay nhiều Thành viên. Bất cứ một biện pháp nào
như thế được áp dụng vào thời điểm Hiệp định WTO có hiệu lực phải được thực hiện phù
kiến, thời điểm áp dụng dự kiến và tiến độ thực hiện tự do hóa biện pháp này. Trong trường
hợp gia hạn biện pháp tự vệ thì phải chứng minh được ngành công nghiệp liên quan đang
được điều chỉnh. Hội đồng thương mại hàng hóa hay Uỷ ban có thể yêu cầu Thành viên dự
định áp dụng hay mở rộng biện pháp tự vệ cung cấp thêm thông tin nếu thấy cần thiết.
3. Một Thành viên dự định áp dụng hoặc mở rộng một biện pháp tự vệ phải dành
những cơ hội thích hợp để tham vấn trước với các Thành viên có quyền lợi cung cấp chủ yếu
như nhà xuất khẩu sản phẩm có liên quan, nhằm rà soát thông tin được cung cấp tại khoản
2, trao đổi các quan điểm về biện pháp áp dụng và đạt được một sự hiểu biết về những
phương thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra tại khoản 1 Điều 8.
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 19
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
4. Một Thành viên sẽ thông báo cho Uỷ ban về các biện pháp tự vệ trước khi áp dụng
một biện pháp tự vệ tạm thời nêu tại Điều 6. Việc tham vấn phải được bắt đầu ngay sau khi
biện pháp này được áp dụng.
5. Kết quả tham vấn nêu tại khoản này, cũng như các kết quả rà soát trung kỳ nêu
tại khoản 4 Điều 7, bất kỳ hình thức bồi thường nào theo khoản 1 Điều 7, và các đề xuất
đình chỉ nhượng bộ và các nghĩa vụ khác tại khoản 2 Điều 8 sẽ được các Thành viên có liên
quan thông báo ngay lập tức cho Hội đồng thương mại hàng hóa.
6. Các Thành viên sẽ thông báo ngay lập tức cho Uỷ ban về các biện pháp tự vệ về
pháp luật, quy định và thủ tục hành chính của mình có liên quan tới các biện pháp tự vệ này
cũng như những sửa đổi của chúng.
7. Các Thành viên đang duy trì các biện pháp được nêu tại Điều 10 và khoản 1 Điều
11 còn tồn tại khi Hiệp định WTO có hiệu lực sẽ phải thông báo các biện pháp đó cho Uỷ
ban về các biện pháp tự vệ không chậm hơn 60 ngày sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực.
8. Một Thành viên có thể thông báo cho Uỷ ban về các Biện pháp Tự vệ về pháp luật,
quy chế, thủ tục hành chính và bất kỳ một biện pháp hay hành động nào như trong Hiệp định
này mà các Thành viên khác, theo Hiệp định này, đáng lẽ phải thông báo nhưng lại chưa
thông báo.
9. Một Thành viên có thể thông báo cho Uỷ ban về các biện pháp tự vệ về bất cứ một
báo cáo hàng năm về thực tế thực hiện Hiệp định này dựa trên các thông báo và các thông tin
tin cậy.
Điều 14 : Giải quyết tranh chấp
Các quy định của Điều 22 và Điều 23 Hiệp định GATT 1994 được Bản Diễn giải về
giải quyết tranh chấp chi tiết hóa và áp dụng sẽ được áp dụng cho việc tham vấn và giải
quyết tranh các chấp phát sinh theo Hiệp định này.
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 21
Môn: Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Giảng viên: ThS. Lưu Tiến Dũng
Tài liệu tham khảo:
http://moj.gov.vn
http://vi.wikipedia.org
http://luanvan365.com
http://www.moit.gov.vn
http://www.congbanphagia.vn
Nhóm 6 – Lớp 12QT201
Trang 22