BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
\[ TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ KINH
DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI : LỢI THẾ CẠNH TRANH – SỰ PHỒN VINH CỦA
QUỐC GIA ĐƯỢC TẠO RA CHỨ KHÔNG PHẢI GẮN
LIỀN BẨM SINH .
Thầy hướng dẫn : Nguyễn Hùng Phong
Nhóm 1:
1. Đào Hùng Anh
2. Nguyễn Diệu Nguyên Khanh.
3. Nguyễn Thái Hiệp.
4. Nguyễn Minh Hải
5. Tôn Thất Kỳ Nam
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Phần 1 : Mô hình viên kim cương của Michael Porter.
Phần 2 : Các chính sách của chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy lợi thế
cạnh tranh của quốc gia
Phần 3 : Ứng dụng mô hình viên kim cương để giải thích các tác động của
các chính sách đến lợi thế cạnh tranh của ngành thủy hải sản Việt
Nam
Porter đã trình bày trong cuốn: “ Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”. Trong đó,
Michael Porter đã trình bày quan điểm của mình và cho rằng: “sự thịnh vượng của
một quốc gia được tạo ra chứ không phải là kế thừa”. Và đây cũng là đề tài của
nhóm quyết định thực hiện nhằm mục đích phân tích các tác động của các chính
sách của chính phủ tạo nên l
ợi thế cạnh tranh cho ngành thủy hải sản Việt Nam
dựa trên mô hình viên kim cương của Michael Porter. Qua đó giúp hiểu rõ hơn về
lợi thế cạnh tranh của một quốc gia khi bước chân vào sân chơi quốc tế với sự
toàn cầu hóa càng ngày càng sâu sắc.
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm đã cố gắng đưa ra những dữ liệu ,
những phân tích , những tài liệu tham khảo trong sách, internet, bài giảng của thầy
Hùng Phong và nhiều nguồn khác … Tuy nhiên do h
ạn chế về thời gian và về
kiến thức nên chắc chắn sẽ có nhiều sai sót. Rất mong thầy, cô góp ý thêm cho
nhóm để hoàn thiện đề tài tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Tp HCM, ngày 7 tháng 4 năm 2010
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
3
PHẦN 1 : MÔ HÌNH VIÊN KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER
Trong tác phẩm lợi thế cạnh tranh của các quốc gia, Michael Porter đã
khẳng định: “sự thịnh vượng của một quốc gia được tạo ra chứ không phải kế
thừa. Nó không phát triển từ sự sẵn có tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động,
lãi suất hay giá trị tiền tệ …”. Theo lý thuyết này, khả năng cạnh tranh quốc
gia phụ thuộc vào năng lực của các ngành trong việc đổi mới và nâng c
ấp của
quốc gia đó. Khả năng này được thể hiện ở sự liên kết của bốn nhóm yếu tố
chính. Mối liên kết của bốn nhóm này tạo thành mô hình có tên gọi là mô hình
Theo lý thuyết kinh tế tiêu chuẩn, các nhân tố sản xuất – lao động , đất đai, tài
nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở hạ tầng – sẽ quyết định đến dòng thương mại. Một
quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều nhất các nhân tố mà
quốc gia đó tương đối dư thừa. Học thuyết này có ngu
ồn gốc từ thời Adam Smith
và David Ricardo và được gắn chặt với kinh tế học cổ điển, trong điều kiện tốt
nhất là không đầy đủ và trong hoàn cảnh xấu nhất là không chính xác.
Trong các ngành kinh tế mà tạo ra xương sống cho bất kỳ nền kinh tế tiên tiến
nào, một quốc gia không kế thừa mà thay vào đó tạo ra các nhân tố sản xuất quan
trọng nhất- ví dụ như nguồn nhân lực có kỹ n
ăng hay một cơ sở khoa học. Hơn
nữa nguồn dự trữ nhân tố mà một quốc gia có được tại một thời điểm cụ thể là ít
quan trọng hơn so với tốc độ và tính hiệu quả mà quốc gia đó tạo ra, nâng cấp và
sử dụng các nhấn tố này trong những ngành cụ thể.
Các ngành công nghiệp
hỗ trợ và liên quan.
Chiến lược, cơ cấu và
cạnh tranh nội bộ ngành
Điều kiện về cầu
Điều kiện về các yếu
tố sản xuất.
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
5
Các nhân tố sản xuất quan trọng nhất là những nhân tố mà liên quan đến
khoản đầu tư lâu dài và khổng lố được chuyên môn hóa. Các nhân tố cơ bản, ví dụ
như lực lượng lao động hay một nguồn nhiên liệu tại địa phương, không tạo ra
một lợi thế trong các ngành thâm dụng tri thức. Các công ty có thể tiếp cận các
nhân tố này một cách dễ dàng thông qua toàn cầu hóa hay bỏ qua nhân tố này
thông qua công nghệ. Trái với sự hiểu biế
t thông thường, việc đơn giản có được
nội địa. Tuy nhiên, trên thực tế đây đơn giản không phải là điều đã xảy ra. Thực
vậy, cơ cấu và đặc trưng của thị trường trong nước có một ảnh hưởng bất cân
xứng đến cách thức mà các công ty nhận thức, diễn giải và phản ứng với các nhu
cầu c
ủa người mua. Các quốc gia tạo được lợi thế cạnh tranh trong những ngành
mà ở đó nhu cầu trong nước tạo cho các công ty một bức tranh rõ ràng hơn hay
sớm hơn về các nhu cầu đang nổi lên của người mua, và nơi mà những người mua
có yêu cầu cao gây áp lực cho các công ty phải đổi mới nhanh hơn và đạt những
lợi thế cạnh tranh tinh tế hơn so với các đối thủ nước ngoài của mình. Quy mô của
thị tr
ường trong nước tỏ ra kém quan trọng hơn nhiều so với đặc trưng của thị
trường trong nước.
Các điều kiện nhu cầu trong nước giúp cho việc xây dựng lợi thế cạnh tranh
khi một phân khúc ngành cụ thể là lớn hơn hay dễ nhận biết hơn tại thị trường nội
địa so với các thị trường nước ngoài. Các phân khúc thị trường lớn hơn tại một
quốc gia nhậ
n được sự chú ý nhiều nhất từ các công ty tại quốc gia đó; các công ty
chấp nhận các phân khúc nhỏ hơn và kém hấp dẫn hơn như là một ưu tiên thấp
hơn.
Quan trọng hơn là sự phối hợp của bản thân các phân khúc, là bản chất của
người mua nội địa. Các công ty của một quốc gia giành được lợi thế cạnh tranh
nếu những người mua trong nước là những người mua có yêu cầu cao nh
ất và tinh
tế, phức tạp nhất thế giới cho sản phẩm hay dịch vụ đó. Những người mua tinh tế
và đòi hỏi cao cung cấp một sự hiểu biết về nhu cầu của khách hàng cao cấp; họ
gây áp lực buộc các công ty phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao; họ thúc đẩy các
công ty phải cải thiện, đổi mới và nâng cấp thành các phân khúc cao cấp
hơn.Cũng như các điều kiệ
n nhân tố, các điều kiện nhu cầu tạo ra các lợi thế qua
việc buộc các công ty phải phản ứng với những thách thức khắc nghiệt.
c kỹ thuật của
các nhà cung ứng của mình và có thể phục vụ như là các điểm thử nghiệm cho các
công việc nghiên cứu và phát triển, qua đó đẩy nhanh nhịp độ đổi mới.
Các công ty của một quốc gia hưởng lợi nhều nhất khi bản thân các nhà cung
ứng là các công ty cạnh tranh toàn cầu. Việc một công ty hay quốc gia tạo ra các
nhà cung ứng ‘bị nắm giữ’ mà hoàn toàn phụ thuộc vào một ngành trong nước và
bị ngăn không cho phụ
c vụ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài rốt cuộc là tự làm
hại mình. Vì lẽ đó, một quốc gia không cần phải có khả năng cạnh tranh trong tất
cả các ngành cung ứng đối với các công ty của mình nhằm tạo được lợi thế cạnh
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
8
tranh. Các công ty có thể sẵn sàng sử dụng nguyên liệu, hợp phần công nghệ từ
nước ngoài mà không có ảnh hưởng đáng kể đến sự đổi mới hay hiệu quả hoạt
động của các sản phẩm trong ngành đó. Điều tương tự là đúng với các công nghệ
được phổ biến khác- ví dụ như hàng điện tử hay phần mềm- nơi mà ngành này đại
diện cho một khu vực ứng d
ụng hẹp.
Khả năng cạnh tranh tại nước chủ nhà trong các ngành có liên quan tạo ra
những lợi ích tương tự: dòng thông tin và sự trao đổi kỹ thuật đẩy nhanh tốc độ
đổi mới và nâng cấp. Một ngành có liên quan tại nước chủ nhà cũng làm gia tăng
khả năng mà các công ty sẽ nắm bắt các kỹ năng mới, và nó cũng cung cấp một
nguồn những người mới tham gia mà sẽ mang lại một cách tiếp cậ
n mới trong
cạnh tranh.
4. Chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của công ty
Các tình huống và bối cảnh quốc gia tạo ra những xu thế mạnh mẽ trong cách
thức mà các công ty được tạo ra, tổ chức và quản lý, cũng như bản chất của sự
cạnh tranh trong nước sẽ như thế nào. Ví dụ, tại Ý, các công ty cạnh tranh quốc tế
thành công thường là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa mà thuộc sở hữu t
những người hùng của quốc gia đó nổi lên.
Sự hiện diện của các đối thủ cạnh tranh trong nước hùng mạnh là tác nhân
kích thích cuối cùng và mạnh mẽ cho sự tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh. Điều
này là đúng với các quốc gia nhỏ, ví dụ như Thụy Sỹ, nơi mà sự cạnh tranh giữ
các công ty dược phẩm của qu
ốc gia này, Hoffman- La Roche, Ciba – Geigy và
Sandoz đã góp phần tạo ra vị thế đứng đầu trên toàn thế giới. Trong tất cả các
điểm trên hình thoi, thì sự cạnh tranh trong nước chắc hẳn là yếu tố quan trọng
nhất do tác động kích thích mạnh mẽ của nó đối với tất cả các yếu tố khác.
Sự hiểu biết thông thường lập luận rằng sự cạnh tranh trong nước là lãng phí:
nó dẫn đến sự lặp lại các nỗ
lực và ngăn ngừa các công ty đạt được tính hiệu quả
tăng theo quy mô. “Giải pháp đúng đắn” là phải o bế một hay hai công ty “vô
địch” của quốc gia, các công ty có quy mô và sức mạnh để đối phó với các đối thủ
cạnh tranh ở nước ngoài, và đảm bảo cho các công ty này những nguồn lực cần
thiết, với sự ban ơn của chính phủ. Tuy nhiên phần lớn các nhà vô địch của quốc
gia là không có khả năng cạnh tranh, cho dù được tr
ợ cấp và hỗ trợ rất mạnh từ
phía chính phủ của họ. Trong nhiều ngành nổi bật mà trong đó chỉ có một công ty
cạnh tranh của một nước, ví dụ như hàng không và viễn thông, chính phủ đã đóng
vai trò to lớn trong việc bóp méo sự cạnh tranh.
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
10
Tính hiệu quả tĩnh là kém quan trọng hơn nhiều so với sự cải thiện mang tính
động, mà chỉ có sự cạnh tranh trong nước thúc đẩy. Sự cạnh tranh trong nước
giống như bất kỳ sự ganh đua nào, tạo ra áp lực lên các công ty buộc họ phải đổi
mới và cải thiện. Các đối thủ cạnh tranh địa phương thúc đẩy lẫn nhau nhằm giảm
chi phí, cải thiện chất lượng và dịch vụ
, và tạo ra các sản phẩm và quy trình mới.
Nhưng không giống như sự ganh đua với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, mà
thay đổi điều kiện về nhân tố sản xuất. Chi ngân sách có thể kích thích những
ngành nghề bổ trợ và có liên quan. Nếu thực hiện chính sách mà không cân nhắc
liệu chúng có ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống các nhân tố quyết định ra sao thì
dẫn đến khả năng làm giảm lợi thế quốc gia thay vì gia t
ăng lợi thế cạnh tranh.
Tóm lại, các nhân tố trên đây sẽ tác động qua lại với nhau như một hệ thống
tương quan, có thể tạo ra lợi thế hay bất lợi về sức mạnh cạnh tranh của một quốc
gia. Và để thấy rõ hơn điều này, chúng ta sẽ đi qua phần tiếp theo, đó là tìm hiểu
các tác động của các chính sách của chính phủ đối với các nhân tố này như thế
nào.
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
12
PHẦN 2 : CÁC CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ THÚC ĐẨY LỢI THẾ
CẠNH TRANH CỦA QUỐC GIA
1. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Việt Nam
Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới - Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2009.
Thứ hạng Việt Nam xếp theo chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp là 75 trên 133
quốc gia, giảm 5 bậc so với 2008. Thứ hạng năm 2008, 2007 lần lượt là 70/134 và
68/131. Bảng thứ hạ
ng năng lực cạnh tranh tổng hợp của Việt Nam một số năm
gần đây:
2005 2006 2007 2008 2009
GIC 74/111 77/122 68/131 70/134 75/133
sẵn sàng công nghệ (h
ạng 73). So sánh thứ hạng một số chỉ tiêu năng lực cạnh
tranh của Việt Nam năm 2008 với 2009.
Chỉ tiêu 2008 2009
Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp 70/134 75/133
Thể chế 71 63
Cơ sở hạ tầng 93 94
Ổn định kinh tế vĩ mô 70 112
Y tế và giáo dục cơ bản 84 76
Giáo dục bậc cao 98 92
Hiệu quả thị trường hàng hóa 70 67
Hiệu quả thị trường lao động 47 38
Trình độ thị trường tài chính 80 82
Sẵn sàng công nghệ 79 73
Quy mô thị trường 40 38
Trình độ kinh doanh 84 70
Đổi mới 57 44
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
14
Về cơ sở hạ tầng, Việt Nam có tiến bộ lớn về viễn thông (hạng 37), nhưng
yếu kém về chất lượng hạ tầng điện, đường bộ, cảng biển (đề xếp hạng trên 100).
Về giáo dục, Việt Nam còn yếu hầu hết chỉ số cơ bản như chất lượng giáo dục
(hạng 120), số lượng sinh viên (hạng 106) và chi phí giáo dục (hạng 100).
Đáng
lưu ý, Diễn đàn Kinh tế đánh giá khá cao về chỉ số đổi mới của Việt Nam, trong
đó có nhiều chỉ tiêu được xếp hạng tương đối cao như năng lực đổi mới (hạng 41),
chỉ tiêu của Chính phủ cho khoa học công nghệ (hạng 21)… Mặc dù chỉ số cạnh
tranh tổng hợp toàn cầu năm 2009 của Việt Nam chưa có cải thiện nhưng Diễn
đàn Kinh t
là:
2.1 Về chính sách vĩ mô:
- Tăng cường hợp tác với các nước về lĩnh vực kinh tế, chú trọng vào việc thu
hút vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam thông qua nguồ
n vốn FDI, tận dụng
nguồn tài nguyên dồi dào với trữ lượng lớn.
- Chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng trong nước nhằm tạo ra sự hấp dẫn cho
các nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
- Tận dụng lực lượng lao động dồi dào, tậo trung đào tạo tầng lớp lao động có
tay nghề nhằm tặng lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Tuy nhiên điều này chư
a chắc
đã là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, vì còn phụ thuọc vào chất lượng lao động.
- Tăng cường xuất khẩu những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế thí dụ những
sản phẩm may mặc, thuỷ hải sản, thủ công mỹ nghệ, nông sản.
- Ổn định kinh tế trong nước, kìm chế lạm phát, giảm tỉ lệ thất nghiệp, chuyển
dịch những ngành ngh
ề có lao động thủ công là chủ yếu sang những ngành có lao
động kỹ thuật cao hơn.
- Ổn định cơ chế tỉ giá hối đoái nhằm tạo sự an tâm cho các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hiệu quả hơn.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo ra sự ràng buộc chắc chắn cũng như
vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
2.2 Chính sách vi mô:
Theo mô hình lợi thế c
ạnh tranh của Micheal Porter thì chính sách nhà
nước cần trực tiếp hỗ trợ cho các vấn đề sau:
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
16
* Điều kiện về các yếu tố sản xuất:
+ Nhà nước cần có chính sách đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, có tri
cạnh tranh lành mạnh trong ngành.
+ Tạo áp lực cạnh tranh trong nộ bộ ngành tạo động cơ cho các doanh nghiệp
vươn lên.
+ Ưu tiên chiến lược phát triển của ngành, nhằm tạo ra sự chuyên môn cũng
như đào tạo nguồn nhân lực có chất luợng phục vụ riêng cho ngành.
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
18
PHẦN 3 : ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VIÊN KIM CƯƠNG ĐỂ GIẢI THÍCH
CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH ĐẾN LỢI THẾ CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM
1. Sơ lược ngành thủy sản Việt Nam
Thủy sản là một trong những ngành kinh tế đem lại kim ngạch xuất khẩu cao
cho Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng bình quân 18%/năm. Năm 2008, xuất khẩu
thủy sản đạt 4,5 tỉ USD với sản lượng trên 4,5 triệu tấn. Hiện nay, trong cả nước
có khoảng 120.000 tàu thuyền nghề cá. Tổng diện tích sử dụng cho mục đích nuôi
trồng thủy sản toàn quốc khoảng 1,1 triệu ha, với s
ản lượng (năm 2008) đạt 2,3
Về nhân t
ố cơ bản, Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, với 112 cửa sông, trên
3000 đảo lớn nhỏ, nhiều eo biển, hồ, đầm lầy, phá, trên 1 triệu km2 diện tích vùng
đặc quyền kinh tế. Hơn nữa, do Việt Nam nằm trong khu vực sinh thái nhiệt đới,
ít bị ô nhiễm, nên nguồn lợi thuỷ sản rất đa dạng, phong phú, và có khả năng tự
hồi sinh cao. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật thuỷ sản, Việ
t
Nam có trên 6000 loài động vật đáy, 2038 loài cá, mực được phân bố ở hầu hết
các vùng, với trữ lượng cao. Khả năng khai thác cá ở vùng biển đặc quyền kinh tế
của Việt Nam có thể đạt trên 4 triệu tấn/năm; tôm có thể đạt trên 44 ngàn tấn/năm;
mực nang có thể đạt trên 64 ngàn tấn/năm; mực ống có thể đạt gần 60 ngàn
tấn/năm
Để phát huy các tiềm năng của yếu tố
cơ bản trên, chính phủ đã thực hiện các
chính sách sau :
- Đầu tư 1,340 tỷ đồng đưa cá tra thành mũi nhọn xuất khẩu thủy sản.
Chính phủ đã phê duyệt đề án phát triển sản xuất cá tra vùng đồng bằng
sông Cửu Long đến năm 2020. Trong đó có nhiều nội dung như quy
hoạch lại vùng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cách thức xây dựng và
hoàn thiện cơ sở hạ tầ
ng sản xuất, xây dựng hệ thống thống kê phục vụ
công việc dự báo tình hình sản xuất, tiêu thụ. Với sự hỗ trợ của chính
phủ, mặt hàng cá tra sẽ gặp nhiều thuận lợi để trở thành mũi nhọn xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong
ngành tiếp tục tăng trưởng.
- Tiếp nhận và khai thác có hiệu quả
nguồn vốn hỗ trợ và đầu tư của ngân
sách Nhà nước, trái phiếu chính phủ, các chương trình dự án hỗ trợ từ
nước ngoài…
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
phục hồi kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, thị trường Nga cũng chính thức nhập khẩu
cá tra, basa Việt Nam trở lại từ tháng 6/2009. Chính sách hỗ trợ lãi suất trong gói
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
21
kích cầu của chính phủ cũng đã giúp các doanh nghiệp thủy sản giảm bớt khó
khăn trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.
Các doanh nghiệp thủy sản trong năm 2010 tiếp tục nhận được nhiều ưu đãi
về vốn vay, thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài ra, VND đang trong xu hướng
giảm giá so với USD là lợi thế lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam.
Ngoài ra, chính phủ còn có những chính sách thúc đẩy thị trường nội địa phát
triển qua các Festival về Thủy sản Việt Nam. Đó là ngày hội của nông dân, ngư
dân, các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp thủy sản và các lĩnh vực hoạt
động có liên quan, tạo nền tảng, tiến tới xây dựng thương hiệu thủy sản Việt
Nam. Bên cạnh đó, chính phủ còn xúc tiến những hiệp định như Hiệp định Đối tác
Kinh tế Vi
ệt – Nhật (VJEPA) vào đầu năm 2010 và sẽ được triển khai đồng bộ.
Do đó sẽ có trên 800 dòng sản phẩm nông sản và thủy sản Việt Nam vào Nhật
Bản với thuế suất 0%. Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản,
đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu tôm, vì mặt hàng này chiếm tỷ trọng tương
đối lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị
trường Nhật Bản.
* Về các ngành hỗ trợ và có liên quan:
Nhân tố này đối với Việt Nam là không có nhiều lợi điểm, mà các yếu điểm
thì rất lớn như :
- Hiện nay các nhập liệu đầu vào cho ngành nuôi trồng thuỷ sản hầu như
phải nhập khẩu.
- Các kỹ thuật công nghệ mới cho việc nuôi trồng cũng phải cần các chuyên
gia nước ngoài hỗ trợ và các tậ
thiểu những tác động của việc cạnh tranh không lành mạnh về thị tr
ường, nguyên
liệu, giá cả… Việc sáp nhập cũng sẽ giúp nâng cao khả năng tiết kiệm theo quy
mô, cải thiện hiệu quả hoạt động.
Trong phần này, các chính sách của chính phủ là hoàn thiện hệ thống các văn
bản pháp luật theo hướng hội nhập với quốc tế như ban hành Luật đầu tư số
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
23
59/2005/QH11 và luật doanh nghiệp số 60/2005/ QH11. Bên cạnh đó, chính phủ
đã quyết tâm thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo ra sức
mạnh cạnh tranh trên thị trường và thúc đẩy các doanh nghiệp tự tìm kiếm những
giải pháp tồn tại và phát triển. Điều này sẽ giúp cho thị trường của ngành thủy sản
càng trở nên sôi động hơn và hiệu quả hơn.
Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Nhóm: 1
24