tiểu luận môn quản trị sự thay đổi sự thay đổi về mặt xã hội, kỹ thuật và thể chế - Pdf 13


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA S AU ĐẠI HỌC


TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ SỰ THAY ĐỔI
ĐỀ TÀI :
SỰ THAY ĐỔI VỀ MẶT XÃ HỘI, KỸ
THUẬT VÀ THỂ CHẾ

Thầy hướng dẫn :
Nguyễn Hữu Lam
Trần Hồng Hải
Nhóm 9:
1. Đào Hùng Anh
2. Lê Thị Hiền
3. Nguyễn Kim Nam
4. Lê Hùng Tú

2
Chương 9: Sự thay đổi về mặt xã hội, kĩ thuật và thể chế
Andrew H. Van de Ven & Timothy J. Hargrave Điều gì giải thích cho những thay đổi về mặt kĩ thuật và xã hội đáng kể được quan sát ở
nhiều nơi trên thế giới trong suốt thế kỉ qua? Câu trả lời cho vấn đề này là khác nhau, phụ
thuộc vào mức độ giả định rằng cuộc sống xã hội là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hay
chủ nghĩa tập thể. Những người theo chủ nghĩa cá nhân nhìn nhận sự thay đổi về xã hội
và kinh tế như là sản phẩm của trung gian cá nhân, nơi mà những cá nhân có mục đích và

thức. Những người theo trường phải tập thể mới nhìn nhận sự xây dựng xã hội của chữ
viết, chuẩn mực và phân tầng như là “những thứ mà thể chế được hình thành” (Powell và
DiMaggio, 1991, p. 15). Một vài người cũng tiếp nhận phương pháp mới mang tính phổ
biến mà phương pháp này lại tách khỏi những hành động có tính mục đích và khuôn khổ
của những nhóm lợi ích khác nhau trong những thể chế đang thay đổi. Như chúng ta đã
thấy, một vài học giả theo trường phải tập thể mới bắt đầu nhìn nhận vấn đề này bằng việc
xem xét mối quan hệ qua lại giữa thuyết tiền định về cấu trúc và đại diện cá nhân.
Các học giả ở cả 2 khía cạnh đều nghiên cứu sự thay đổi về thể chế. Các học giả về
chuyển biến xã hội tập trung vào những thay đổi về thể chế xảy ra thông qua các cam
đoan, hành động chính trị và các chiến dịch động viên cơ sở nhằm chỉ rõ chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc, chiến tranh, vũ khí nguyên tử, vấn đề giới tính, sự tàn phá về môi trường
và những vấn đề xã hội khác. Các học giả về công nghệ thì tập trung vào sự ảnh hưởng
qua lại của thay đổi về kĩ thuật, xã hội và thể chế trong các nghiên cứu của mình về những
cải tiến công nghê, khởi sự và sự nổi lên của ngành công nghiệp. Các học giả ở cả 2
trường phái đều tập trung vào những tiến trình của hành động tập thể, cũng như những
hành động tìm kiếm lợi ích mà những người thực hiện chúng nhằm ảnh hưởng lên các tiến
trình trên.

4
Gần đây các học giả đã quan sát những điểm giống nhau đáng kể trong các tài liệu về sự
thay đổi về xã hội, kĩ thuật và thể chế. Họ đã vẽ ra một sơ đồ khái quát hơn và hệ thống
hơn về nền tảng chung được chia sẻ bởi những lĩnh vực này. Bằng việc xem lại tài liệu,
chương này sẽ cố gắng cung cấp một sơ đồ như thế. Chúng tôi thảo luận về những công
trình mang tính nhận thức và thực nghiệm lớn từ trường phái cũ của kinh tế học thể chế,
trường phải mới của lí thuyết thể chế được tìm thấy trong thuyết tổ chức và xã hội học,
công trình về cải tiến công nghệ và sự nổi lên của ngành công nghiệp trong tài liệu quản
trị, và tài liệu về những chuyển biến xã hội được công bố bởi những nhà xã hội học và các
nhà khoa học về mặt chính trị. Chúng tôi tập trung vào việc xem xét những tương tác
năng động giữa các thể chế, cải tiến công nghệ và sự chuyển biến xã hội. Chúng tôi nhận
diện những điểm giống và khác trong các mặt này và chỉ ra một vài đóng góp thêm vào

cung cấp sự giải thích phù hợp hơn với hành động tập thể mang tính cạnh tranh và hợp tác
giữa các mạng lưới tổ chức và những tác nhân thuộc thể chế khác trong nền kinh tế hậu
công nghiệp. Tuy nhiên, để nhận ra tiềm năng này, quan điểm ổn định của lí thuyết tân
thể chế với tư cách là những lực lượng có cấu trúc nhất quán và liên tục cần phải được
xem lại và phát triển. Việc tập trung vào sự thay đổi về thể chế tương đối bị xao lãng
trong các tài liệu thể chế gần đây.
Phần tiếp theo của bài giới thiệu này xác định những khái niệm cơ bản và cung cấp một
khuôn khổ cho việc phân tích sự thay đổi về thể chế. Chúng tôi xác định 4 quan niệm
khác biệt về sự thay đổi thể chế, gồm thiết kế tổ chức, sự thích ứng về mặt tổ chức, sự phổ
biến về mặt tổ chức và hành động tập thể. Phần 2 của chương xem lại các công trình đi
kèm với mỗi quan điểm. Chúng tôi bao quát cả những bài lí thuyết sâu xa cũng như các
nghiên cứu thực nghiệm. Phần kết luận của chương thảo luận về những chủ đề lớn trong
tài liệu về sự thay đổi thể chế và sự tổng hợp của các quan điểm.
CÁC ĐỊNH NGHĨA.
North (1990, p. 2) định nghĩa các thể chế như là “quy định của trò chơi trong một xã hội
hoặc một cách chính thức hơn….đó là những quy định được thiết lập bởi con người nhằm
định hình sự tương tác của con người với nhau.” Chúng được xây dựng bởi xã hội nhằm

6
khiến cho cuộc sống ổn định và ý nghĩa và chúng cũng quy định và thúc đẩy hành động.
Scott (2001) mô tả những thể chế bao gồm những thành tố mang tính văn hóa - nhận thức,
chuẩn mực và quy định hay chính là những “trụ cột”. Mặc dù Scott nhấn mạnh khía cạnh
văn hóa - nhận thức của các thể chế, ông nhìn nhận “thể chế” như là một khái niệm đa
khía cạnh. Đó chính là những trụ cột nhận thức, chuẩn mực và quy định đại diện cho 3
khía cạnh khác nhau của một thể chế đơn lẻ. Nét nổi bật tương ứng của 3 khía cạnh này là
khác biệt với những vấn đề được xác định. Chẳng hạn, vì những người theo trường phái
thể chế cũ (chẳng hạn như Commons, 1934/1961; 1950) chỉ ra những vấn đề về thiết kế
các quy tắc trong thể chế có thể thi hành được đối với việc thiết lập những nghi hoặc và
bất công giữa các đảng đối lập, chúng tập trung vào khía cạnh quy định của các thể chế.
Những người theo trường phái tân thể chế tập trung vào khía cạnh nhận thức – văn hóa

quan và hiệp định thương mại, những thỏa thuận về môi trường trên toàn thế giới, những
giá trị về ngoại tệ.)
Chúng tôi định nghĩa sự thay đổi về thể chế như là sự khác nhau trong việc hình thành,
chất lượng hoặc trạng thái qua thời gian trong một thể chế. Sự thay đổi về sắp xếp trong
thể chế có thể bị quyết định bởi việc quan sát sự sắp xếp tại 2 thời điểm hoặc nhiều hơn
trong tập hợp các khía cạnh (chẳng hạn như nhận thức, chuẩn mực và sự rõ ràng về mặt
quy định) và sau đó tính toán sự khác nhau qua thời gian trong các khía cạnh này. Nếu có
sự khác biệt đáng kể, chúng tôi có thể nói rằng sự sắp xếp về thể chế đã thay đổi. Nhiều
quan điểm trong tài liệu đồ sộ về sự thay đổi thể chế tập trung vào bản chất của sự khác
biệt này, điều gì sản sinh ra chúng, và những hậu quả. Điều ít được chú ý hơn sẽ liên quan
đến những tiến trình của sự thay đổi về thể chế.
Hai định nghĩa khác biệt về tiến trình thường được sử dụng trong tài liệu: (1) danh mục
các khái niệm hay các biến số liên quan đế những hành động và hoạt động và (2) sự mô tả
tường thuật về cách thức mà mọi thứ phát triển và thay đổi (Van de Ven, 1992). Khi định
nghĩa đầu tiên được sử dụng, tiến trình thường đi kèm với “thuyết sai số” (Mohr, 1982) về
sự thay đổi, mà trong đó tập hợp những biến số độc lập giải thích về mặt thống kê những

8
sai số trong các tiêu chuẩn kết quả (biến phụ thuộc). Ý nghĩa thứ hai của tiến trình thường
đi kèm với sự giải thích theo “thuyết tiến trình” về trật tự thời gian và trình tự trong đó tập
hợp những sự kiện thay đổi mang tính riêng biệt là xảy ra dựa trên câu chuyện hay sự
tường thuật mang tính lịch sử (Abott, 1988; Pentland, 1999; Poole, Van de Ven, Dooley,
và Holmes, 2000). Theo cách sử dụng này, vấn đề về “cách mà sự thay đổi diễn ra” được
xác định bởi việc tường thuật trình tự thời gian những sự kiện diễn ra trong một sự sắp
xếp về thể chế.
Trong việc xem lại tài liệu, chúng tôi xem các công trình cụ thể như là những thuyết tiến
trình hay thuyết biến số. Trong khi những ví dụ của thuyết tiến trình và thuyết biến số có
thể được tìm thấy trong mỗi khía cạnh của 4 khía cạnh về sự thay đổi được xác định trong
chương này, hầu hết công trình hiện nay về sự thay đổi về chể quan tâm đến thuyết sai số.
Trong khi một nghiên cứu đơn lẻ lại sử dụng thuyết sai số hoặc thuyết tiến trình nhưng

nhiều lĩnh vực về sự thay đổi thể chế không thể được tích hợp thành một quan điểm đơn
lẻ. Các học giả không hội tụ cùng một vấn đề đơn lẻ hay lí thuyết thay đổi. Thay vào đó,
chúng tôi nghĩ rằng họ đồng thuận với nhau về 4 khái niệm phân biệt của sự thay đổi về
thể chế. Mỗi khái niệm chỉ ra những vấn đề khác nhau và dựa trên cơ chế sản sinh độc
đáo để giải thích sự thay đổi. Chúng tôi đặt tên cho 4 khái niệm là thiết kế thể chế, sự
thích ứng về thể chế, sự phổ biến thể chế và hành động tập thể. Những khía cạnh phân
biệt của 4 khái niệm này được vạch ra trong bảng 9.1 và được tóm tắt ở dưới.
Khái niệm thiết kế thể chế tập trung vào sự sáng tạo có mục đích và sự sửa lại của các thể
chế nhằm nhận diện các mâu thuẫn và bất đồng về xã hội. Cơ chế sản sinh để nhận diện
các vấn đề về cách mà các thể chế được thiết lập và nổi lên chính là sự ban hành có mục
đích và sự xây dựng xã hội. Theo cách nhìn này, các thể chế phản ảnh việc chạy theo
những lựa chọn có ý thức và hành vi mà xã hội cho là khôn ngoan và hợp lí.
Khái niệm sự thích nghi về thể chế giải thích cách thức và nguyên nhân mà các tổ chức
thích nghi với những vấn đề trong môi trường của mình. Scott (2001) cho rằng kể từ công
trình của Meyer và Rowan 1977, các nhà xã hội học về tổ chức đã tập trung sự chú ý của
mình vào vấn đề về cách mà môi trường của thể chế định hình cấu trúc tổ chức. Công

10
trình của những người theo trường phái thể chế mới này có thể được xem là sử dụng khái
niệm sự thích nghi về thể chế.
Khái niệm sự phổ biến về thể chế tập trung vào cách thức và nguyên nhân mà những thể
chế cụ thể được tiếp nhận (lựa chọn) và phổ biến (duy trì) trong dân cư.
Bảng 9.1 – Những khía cạnh phân biệt 4 khái niệm về sự thay đổi thể chế
Khía cạnh Thiết kế thể chế Sự thích nghi về thể
chế
Sự phổ biến thể chế Hành động tập thể
Vấn đề Những hành động
và vai trò mà những
cá nhân trong thể
chế đảm nhận nhằm

Những doanh nhân
đơn lẻ với sự đại
diện có giới hạn: sự
đánh giá lẫn nhau
mang tính phe phái
Những người trong
tổ chức thích nghi
(tiên phong hay
phản ứng lại) đối
với môi trường thể
chế
Dân cư và ngành
của tổ chức được
thể hiện trong cùng
một môi trường thể
chế
Mạng lưới những
người được phân
bố và phân chia bè
phái về mặt liên tổ
chức là những
người được gắn
chặt vào trong tiến
trình chung của
việc thiết lập và sửa
lại những thể chế
Cơ chế sản sinh Sự đóng góp về mặt
xã hội và những
chiến lược mà con
người sử dụng

t
công
pháp



c

a th


ch
ế

ngh


Tiến trình: trình tự
sự kiện
Tiến trình biện
chứng của việc thiết
lập những quy định
làm việc giải quyêt
các mâu thuẫn và
chỉ ra những trường
hợp chưa từng có
Các tiến trình mang
tính cưỡng ép,
chuẩn mực và bắt
chước của sự thích

với con người
Tiền lệ trong thể
chế, quy định làm
việc mới hoặc được
thay đổi, sự cải tiến
trong thể chế

Thuyết thể chế ở đây đã vay mượn và phát triển từ sinh thái học và tiến hóa về tổ chức.
Những nhà sinh thái học về dân số đã sử dụng những lí lẽ phụ thuộc vào mật độ để giải
thích tính hợp pháp và sự chọn lọc cạnh tranh của các hình thức thể chế nhất định.
Các mô hình hành động tập thể tập trung vào những tiến trình của sự thay đổi về thể chế
tại mức độ lĩnh vực liên tổ chức. Những tiến trình này được khởi xướng bởi những
chuyển biến xã hội và những nhà kinh doanh theo đuổi những cải tiến công nghệ. Những
học giả nghiên cứu khái niệm này ban đầu quan tâm đến cách thức những sắp xếp thể chế
mới nổi lên từ những tương tác giữa các đại diện phe phái độc lập.
Chúng tôi cũng xem xét 4 khái niệm này của sự thay đổi thể chế theo trình tự lịch sử mà
trong đó chúng xuất hiện, bắt đầu với thiết kế thể chế, sau đó là thích ứng về thể chế, sự
phổ biến và hành động tập thể. Mỗi khi chúng xuất hiện, các khái niệm phát triển đồng
thời và thỉnh thoảng phản ứng lại với nhau.
Trước khia phân chia thành 4 khái niệm, chúng tôi thừa nhận rằng việc xem lại tài liệu là
không toàn diện. Chúng tôi chỉ tập trung vào những công trình nghiên cứu mà chúng tôi

12
tin là đại diện cho những đóng góp về lí thuyết mang tính dẫn đầu và những nghiên cứu
thực nghiệm mẫu mực đối với mỗi khái niệm. Tài liệu thì lại quá nhiều để có thể bao quát
hoàn toàn. Chúng tôi cũng chú ý rằng sự phân loại những lí thuyết và những nghiên cứu
không áp dụng được cho các tác giả. Chúng tôi mong là tránh được việc phân vai cho các
học giả riêng lẻ. Nhiều học giả viết và nghiên cứu về sự thay đổi thể chế từ nhiều khái
niệm. Qua thời gian, những tư duy của họ cũng phát triển. Trong kết luận chúng tôi đề
xuất rằng ban đầu những phân biệt giữa 4 khái niệm là thô sơ và cứng nhắc, tuy nhiên

không đơn giản là cưỡng ép, chúng cũng thả tự do và mở rộng hành vi cá nhân. Sự thả tự
do đối với một vài cá nhân (chẳng hạn như cưỡng ép, cầm tù hay phân biệt) có thể có
được thông qua việc quy định bắt buộc những hành động của người khác. Commons nhấn
mạnh rằng sự tự do cá nhân không phải là một quyền tự nhiên, ông xem nó như là thành
tựu của tập thể. “Cách duy nhất để đạt được ‘sự tự do’ chính là áp đặt những nghĩa vụ lên
người khác, mà những người này có thể cản trở hoạt động của cá nhân ‘được tự do’”. Do
đó, Commons xem những thể chế như là phương tiện đối với sự tự do cá nhân.
Khi các thể chế cưỡng ép, thả tự do và mở rộng hành vi cá nhân, các cá nhân xây dựng và
thay đổi thể chế. Commons bác bỏ sự chọn lọc tự nhiên và thay thế vào đó sự chọn lọc
nhân tạo (có mục đích), chú ý rằng các cá nhân làm cho môi trường của họ thích hợp với
nhu cầu và mục đích của chính họ. Ông cho rằng những cá nhân có năng lực, theo bản
chất của mình, về việc xây dựng những lực lượng trong thể chế và lực lượng tự nhiên
xung quanh mình. Kết quả là sự thay đổi thể chế có khuynh hướng mang tính ý chí, mục
đích và nguyện vọng của cá nhân.
Commons đưa ra 3 khía niệm hành động để xem xét nguyện vọng của con người trong
hành động: thành tích, sự né tránh và sự kiên trì. “Đối với việc chọn lựa cái nào bao gồm
hành động, nguyện vọng chính là việc mong chờ có mục đích. Nguyện vọng luôn đương
đầu với điều gì đó. Nó luôn tồn tại, né tránh và tiếp diễn,…với việc mong chờ vào tương
lai. Một cá nhân hành động bằng việc thực hiện hành vi bị giới hạn và quy định bởi sự né
tránh và kiên trì. Sự né tránh chính là một lựa chọn nhằm bỏ qua tất cả những nhóm hành

14
động thay thế. Mặc dù một vài sự thay thế có thể được né tránh bởi nhưng quy định của
thể chế và những bắt buộc về bản chất, các cá nhân có tự do để lựa chọn tập hợp những
thay thế còn lại có sẵn với mình. Trong việc hướng dẫn lựa chọn thay thế, thành tích được
bổ sung nhiều hơn bởi sự kiên trì hoặc mức độ quyền lực được thể hiện “đúng” thời điểm,
vị trí và cấp độ. Sự kiên trì chính là sự tự ràng buộc trong hành động với bản chất cũng
như trong mối quan hệ giao dịch với người khác. “Con người sẽ không tuân theo những
luật tự nhiên, nhưng lại sử dụng chúng để đạt được mục đích của mình. Không giống như
những lực lượng vật lí (chẳng hạn như trọng lực) luôn luôn có giới hạn, các cá nhân đạt

cảnh cụ thể đối với mâu thuẫn về lợi ích, nhằm áp đặt chủ ý chung vào những cá nhân và
ngược lại. Không có hệ thống quy định làm việc để thiết lập mức độ trật tự và tính dự
đoán đối với cá nhân thì sẽ có thể có “ít hoặc không có giá trị hiện tại, tổ chức hiện tại,
giao dịch hiện tại và nhân viên hiện tại”.
Nhà kinh tế nghiên cứu kĩ nhất những kết quả của Commons chính là Douglas C. North.
Trong Institutions, Institutional Change and Economics Performance (1990), North cho
rằng thành công về mặt kinh tế có được trong một vài nước là nhờ sự thiết lập những thể
chế tạo điều kiện cho sự trao đổi phức tạp. Ông viết rằng những thể chế, mà ông định
nghĩa như là “những quy định của trò chơi” mang tính chính thức và không chính thức,
làm giảm chi phí của sự trao đổi và sản sinh bằng việc xác định những cơ hội và dẫn dắt
nỗ lực. North cho rằng khuôn khổ thể chế phải ổn định nếu sự trao đổi phức tạp diễn ra và
việc đạt được sự ổn định là bình thường bởi những quy định của trò chơi – thông lệ,
phong tục, chuẩn mực, luật pháp – là phức tạp và độc lập. Vì tập hợp những ràng buộc là
quá nhiều và phức tạp và vì mối quan hệ cộng sinh phát triển giữa các thể chế và tổ chức,
sự thay đổi về thể chế là tăng dần. Sự thay đổi không liên tục đối với những tập hợp khác
nhau của thể chế vì thế mà cực kì tốn kém.
North xem những thay đổi trong giá cả thực sự - những thay đổi trong điều kiện vật chất –
như là nguồn quan trọng nhất của thay đổi thể chế. Đối với North, các tổ chức đáp lại sự
thay đổi dưới giá thực tế bằng việc thích nghi cũng như cố gắng thay đổi khuôn khổ của
thể chế, họ chọn cố gắng thay đổi khuôn khổ thể chế khi việc thực hiện nó là hiệu quả và

16
khi họ thương lượng hữu hiệu về quyền lực. North tin rằng những thay đổi trong thị hiếu
– ý tưởng – cũng là một nguồn quan trọng của sự thay đổi thể chế. Giống như Commons,
North cho rằng các thể chế khiến cho sự tự do trở thành có thể. Bằng việc phản ánh nhiều
hơn khái niệm sự lựa chọn mang tính lý trí, North cho rằng mong ước đối với sự tự do cá
nhân đến trước và thúc đẩy sự thành lập thể chế. Đối với North đó chính là nhu cầu đối
với sự tự do và nhu cầu này thúc đẩy sự sáng tạo và duy trì hình thức thể chế thích hợp.
Hai nhà kinh tế học khác đóng góp vào những am hiểu của chúng tôi về thiết kế thể chế
chính là Vernon Ruttan và Leonid Hurwicz. Trong Toward a Theory of Induced

đáo, những giá trị cụ thể và năng lực khác biệt, cùng một lúc những cá nhân tiếp nhận
cách thức quan niệm và đánh giá trải nghiệm. Đối với Selznick, sự thay đổi thể chế diễn
ra trong tổ chức thông qua những tiến trình được khởi xướng và dẫn dắt có chủ ý bởi
những người lãnh đạo tổ chức.
Thiết kế tổ chức và những người theo trường phái thể chế mới
Gần đây, những người theo trường phái tân thể chế đã bắt đầu xem lại quan niệm của họ
rằng những thể chế là những cấu trúc không mềm mỏng quy định đặc điểm và hành động
của tổ chức. Stinchcombe cho rằng những nhà xã hội học đã đẩy con người quay lại lí
thuyết thể chế, những thể chế - qua đó ông ám chỉ những thực thể thể chế, sử dụng các
định nghĩa của chúng tôi – có tác dụng tốt khi được bố trí bởi những người đưa ra những
cam kết về tinh thần, dẫn dắt công việc kinh doanh theo hướng ngay thẳng, và được nắm
giữa hướng đến những tiêu chuẩn mà chúng được tạo ra để duy trì. Stinchcombe cũng
xem lại công trình của John Henry Wigmore về tòa phúc thẩm, nhấn mạnh rằng tính hợp
pháp của thể chế không phải thông qua nhu cầu đối với quyền hành mà thông qua việc
duy trì những giá trị sâu sắc. Stinchcombe cũng thảo luận sự nổi lên của chủ nghĩa tư bản
của Đông Âu và Liên minh xô viết cũ, cho rằng chủ nghĩa tư bản không phục vụ cho xã
hội tốt nơi mà thiếu đi những thể chế, và những thể chế này không được tạo ra bởi sự
thiếu cam kết đối với giá trị về tính chân thực trong thương mại. Stinchcombe xem sự thể
hiện những giá trị sâu sắc như là động cơ thúc đẩy sự thay đổi về thể chế.

18
Barley và Tolbert (1997) sử dụng mô hình cấu trúc của Gidden (1984) để đưa ra biện
pháp đối với sự thiếu đi tính đại diện đối với lí thuyết tân thể chế. Barley và Tolbert viết
rằng những thể chế và hành động tồn tại trong các phạm vi tách biệt của trật tự xã hội và
trật tự này được giàn xếp bởi “các phương thức” (khối lượng kiến thức thực tế bao gồm
các chủ đề trình diễn, nguồn lực và chuẩn mực được làm phù hợp đối với bối cảnh cụ
thể). Những phương thức này “ảnh hưởng đến cách con người giao tiếp, ban hành quyền
lực và quyết định hành vi nào là được thưởng phạt”. Barley và Tolbert đề xuất 4 giai đoạn
đối với tiến trình thể chế hóa: mã hóa, thường diễn ra trong suốt quá trình xã hội hóa; ban
hành, “có thể hoặc không thể dẫn đến sự lựa chọn hoặc hiểu biết về những thay thế; sự ôn

cơ quan chính phủ, có niềm tin đối với những trường phổ thông. Tuy nhiên, dần dần thì
các lãnh đạo trường cộng đồng trở nên nhận thức được rằng một cơ hội tồn tại cho họ để
trở thành nền tảng đào tạo cho những người như thể là chuyên gia cấp trung. Họ có thể
nhận ra lợi ích cả mình khi thị trường lao động của đại học giảm sút năm 1970.
Chiến lược và thủ thuật
Một vài học giả đã đóng góp cho những kiến thức của chúng tôi về thiết kế thể chế bằng
việc mô tả những chiến lược và thủ thuật mà những người trong thể chế sử dụng nhằm cố
gắng ảnh hưởng đến sự thay đổi. Trong The Intelligence of Democracy (1965), Charles E.
Lindblom đưa ra bản mô tả mạng nội bộ của tiến trình “điều chỉnh lẫn nhau theo phe
phái”. Đây chính là tiến trình hình thành chính sách công khai mà qua đó những lực lượng
đối lập đạt được quyết định chung. Lindblom mô tả phương tắc mà những cá nhân có thể
sử dụng khi đối mặt với kẻ thù chính sách. Những phương thức thích nghi chính là nơi mà
con người không tìm được một phản ứng đối với người khác, trong khi những phương
thức lôi cuốn lại được sử dụng để tìm ra một câu trả lời. Những phương thức lôi cuốn này
bao gồm thương lượng, tưởng thưởng, sự trao đổi lẫn nhau và sự hấp dẫn vô điều kiện.
Lindblom viết rằng những người tham gia vào tiến trình điều chỉnh lẫn nhau theo phe phái
lôi cuốn nhau thông qua sự thuyết phục, quyền hành, hấp dẫn đối với tục lệ, bầu cử và của
cải.
Saul Alinsky, một người tổ chức lao động nổi tiếng, cũng đưa ra một lời khuyên rất cụ thể
đối với những người tham gia vào tranh cãi biện chứng. Trong Rules for Radicals: A

20
Practical Primer for Realistic Radicals (1971), Alinsky liệt kê 13 thủ thuật chính trị đối
với những nhà hoạt động xã hội đấu tranh chống lại kẻ thù quyền lực. Những thủ thuật
này nhấn mạnh sự tấn cộng hơn là hòa giải. Filgstein (1997) lặp lại ý kiến của Alinsky,
mô tả những kĩ năng xã hội mà những nhà kinh doanh trong thể chế cần để tác động đến
sự thay đổi thể chế. Một vài trong số đó, chẳng hạn như “thiết lập chương trình cho người
khác”, có thể được xem như là mang tính lôi cuốn, trong khi những kĩ năng khác được
cho là mang tính thích nghi hoặc như là hình thức của sự ban phát – đó chính là “tiếp
nhận những gì hệ thống cho”.

đạt được tính hợp pháp, tạo điều kiện cho họ đạt được nguồn lực và nâng cao cơ hội tồn
tại. Không giống như 3 khái niệm kia, sự thích nghi về thể chế cơ bản liên quan đến sự
thay đổi trong đặc điểm của những con người trong thể chế trong việc đáp lại các sắp xếp
về thể chế trong môi trường tổ chức.
Scott (2001) cho rằng Weber (1924/1968) là “một trong những thuyết gia về xã hội đầu
tiên chú ý đến tầm quan trọng trung tâm của tính hợp pháp trong cuộc sống xã hội” và
rằng Parsons (1960) là người đầu tiên kết nối tính hợp pháp với các mục tiêu của tổ chức.
Scott diễn giải sự nhấn mạnh của những người theo trường phái tân thể chế đối với sự
thích nghi với môi trường thể chế như là sự mở rộng của lí thuyết hệ thống mở, mà lí
thuyết này làm biến đổi tổ chức và các tư liệu về quản trị chiến lược “bằng việc nhấn
mạnh vào tầm quan trọng của bối cảnh môi trường rộng hơn khi nó quy định, định hình,
thấm nhuần và làm mới tổ chức. Những người nghiên cứu lần đầu tiên nhận ra rằng môi
trường kĩ thuật đặt áp lực lên tổ chức và sau đó vào những năm 1970 họ lại thấy rằng các
tổ chức cũng chịu ảnh hưởng bởi môi trường thể chế của chúng.
Institutionalized Organisations: Formal Structure as Myth and Ceremony của Meyer và
Rowan là tác phẩm đầu tiên đặt ra luận điểm rằng các tổ chức làm cho cấu trúc của mình
phù hợp với áp lực từ môi trường thể chế. Meyer và Rowan cho rằng sự hiện đại hóa thúc
đẩy sự phát triển và sự hợp lí hóa của những quy định trong thể chế và những thành tố của
cấu trúc tổ chức và rằng mối quan tâm của tổ chức đối với tính hợp pháp và sự sống còn
khiến cho tổ chức phải sử dụng những sắp xếp về thể chế. Meyer và Rowan truy tìm bản

22
chất của những điều hoang đường về thể chế mang tính hợp lí đối với sự hình thành các
mạng lưới quan hệ phức tạp và những nỗ lực của lãnh đạo trong các tổ chức địa phương.
Họ cho rằng vì sự thích ứng với những quy định được thể chế hóa có thể mâu thuẫn với
những cân nhắc hiệu quả về kĩ thuật, nên các tổ chức phải tách riêng cấu trúc của mình
khỏi các hoạt động kĩ thuật để “những chuyện hoang đường” trong thể chế được duy trì
và tính hợp pháp được giữ lại, tuy nhiên cùng một lúc tính hiệu quả về kĩ thuật cũng đạt
được. Trong khi Meyer và Rowan nhấn mạnh vào ảnh hưởng có điều kiện của môi trường
thể chế lên cấu trúc tổ chức thì họ cũng viết rằng những tổ chức hùng mạnh thường áp đặt

1970) thuyết điều ổn môi trường (1970-1982) thuyết trách nhiệm đối với môi trường
(1982-1988) và thuyết chiến lược môi trường. Trong thuyết môi trường công nghiệp,
ngành công nghiệp được xem là yếu tố ô nhiễm mà nó có thể tự xử lý. Sau khi chính phủ
và các nhà hoạt động chính trị xem xét đến lĩnh vực tổ chức, thể chế đi đến chế ngự các
lĩnh vực và quy chuẩn kỹ thuật với các điều luật quy định chặt chẽ cho ngành công
nghiệp. trạng thái thứ 3 được tạo ra do sự suy giảm tín nhiệm của những người làm luật
do tai tiến, 1 sự thay đổi dẫn đến sự xuất hiện thể chế quy chuẩn như là áp lực thể chế cho
ngành công nghiệp. Trạnh thái cuối cùng, thuyết môi trường chiến lược xuất hiện và các
nhà đầu tư và công ty bảo hiểm thâm nhập vào lĩnh vực tổ chức. Trạng thái cuối cùng này
được tạo ra do thế thống trị của kinh nghiệm trong quản lý môi trường đã tạo ra do ngành
công nghiệp
Kraatz và Zajac (1996) tìm ra bằng chứng sự mâu thuẩn với sự đáp ứng tổ chức. Họ kết
luận rằng tổ chức rất hay đổi để đáp ứng với môi trường công nghệ khá phù hợp với nhu
cầu của môi trường thể chế. Kraatz và Zajac thử nghiệm mức độ với các trường cao đẳng
nghệ thuật nhân văn Mỹ chương trình hướng nghiệp và kế tục chuyên nghiệp trong suốt
giai đoạn 1971 đến 1986.Dựa vào thuyết phi thể chế, họ đưa ra giả thuyết là để duy trì
tính pháp lý các sinh viên dưới sự nghiên cứu sẽ thích nghi với quy chuẩn và giá trị thông
dụng đã ban bố cho trường cao đẳng nghệ thuật nhân văn duy trì sự trong sáng của họ và
chống lại nghề nghiệp hóa các môn học của họ. Kraatz và Zajac không tìm thấy sự hổ trợ
cho giả thuyết của họ tuy nhiên họ tìm ra các sinh viên tạo ra sự thay đổi quy chuẩn thể

24
chế mà họ đáp ưng với môi trường công nghệ hơn là quy chuẩn thể chế là những quy
chuẩn mà cấu trúc của chúng phân kỳ hơn là hội tụ mà hiếm các sinh viên uy tín đã không
tranh đua; các điều kiện cục bộ gây ảnh hưởng hành vi hơn những áp lực thể chế đã làm.
Và các sinh viên đó đã tạo ra sự thay đổi bất tuân thủ mà không phải chịu đựng những
ảnh hưởng có hại. Kraatz và Zajac rất ngạc nhiên khi kết quả tìm kiếm của họ cho thấy
trong tổ chức trường cao đằng nghệ thuật nhân văn như là 1 thử nghiệm hổ trợ cho thuyết
phi thể chế


hình quy trình của sự thay đổi thể chế kèm theo các giai đoạn sau:

1. Một sự thất vọng nhanh chóng đã làm xáo trộn thực tế tồn tại
2. Tái cấu trúc, sự đồng lòng xây dựng lại xã hội được diễn ra và hình thành các tác nhân
cùng thực tế mới xuất hiện
3. Tiền thể chế hóa, tổ chức xáo trộn đổi mới một cách độc lập
4. Lý thuyết hóa, sự sai lệch từ những thỏa hiệp thông dụng được coi nhẹ và tạo tính
tương thích cho sự thừa nhận rộng hơn
5. Sự phổ biến, xảy ra sau khi lý thuyết hóa thành công
6. Sự thể chế hóa lại. giai đoạn những các ý tưởng , thực tế, mới trở thành thể chế hóa
hoàn chỉnh.

Greenwood đánh dấu sự quan trọng của giai đoạn 4, giai đoạn lý thuyết hóa, dường như
quan trọng hơn trong việc đặt nền móng cho sự thể chế hóa, xa hơn thế chúng chỉ ra các
cài đặt mà trong đó phương tiện hợp lý thống trị, sự hợp pháp hóa diễn ra trong suốt quá
trình phổ biến, nhưng ngược lại trong những thiết lập mang tính quy chuẩn hơn, sự hợp
pháp hóa phải diễn ra trong suốt giai đoạn lý thuyết hóa điều đó không có nghĩa sau đó
sự phổ biến sẽ không theo sau. Trong khi Greenwood, Suddaby và Hinings nhấn mạnh áp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status