BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------
BÀI TẬP NHÓM THÁNG 1
MÔN: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
ĐỀ BÀI SỐ 2
Phân tích 3 tình huống trong thực tế để làm
rõ nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận
cặp phạm trù nguyên nhân kết quả
LỚP
NHÓM
:
:
3720
B2
Hà Nội 2012
Danh mục tài liệu của phần này
Giáo trình:
1 .B ộ g i á o d ụ c và đ à o t ạ o ,
Giáo trình những nguyên lí cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin, Nxb.CTQG, Hà
Nội, 2009.
chắn vàcái nhìn thực tế sâu sắc. Vì vậy, phần trình bày của chúng em
không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, chúng em rất mong nhận được
những góp ý quý báu của thầy cô.
II. NỘI DUNG CHÍNH
1. Lĩnh vực tự nhiên
1.1 Tình huống: Rừng bị tàn phá gây lũ lụt và thay đổi khí hậu
1.2 Phân tích
Tình huống trên có thể làm rõ về cặp phạm trù nguyên nhân kết quả. Rừng
có vai trò quan trọng trong hệ sinh quyển Trái Đất. Nếu tài nguyên rừng bị ảnh
hưởng thì kéo theo nhiều hậu quả trong đó dễ thấy nhất là lũ lụt và ảnh hưởng
lớn hơn là thay đổi khí hậu toàn cầu.
Rừng có vai trò giảm lưu lượng dòng chảy của nước mưa khi rơi xuống
đất,làm nước mưa chảy chậm và đều. Dòng nước sẽ chảy dần dần vào sông suối
chứ không quá đột ngột. Nếu không có rừng khi mưa xuống, nước mưa sẽ chảy
theo quy luật “ nước chảy về chỗ trũng” một cách tự nhiên không có sự kiểm
soát, chúng tạo thành dòng nước có lưu lượng chảy và khối lượng lớn dần, từ đó
thành lũ với sức mạnh tàn phá khủng khiếp, gây thiệt hại nghiêm trọng về người
và của mỗi nơi cơn lũ đi qua.
Rừng gồm rất nhiều cây xanh,mà hoạt động quang hợp và hô hấp của cây
xanh có vai trò rất lớn đến sự sống cũng như khí hậu trên Trái Đất. Khi quang
hợp cây lấy khí cacbonic trong không khí và chuyển hoá thành khí oxi. Đối với
Trái Đất khí oxi duy trì sự sống,còn khí cacbonic làm tăng hiệu ứng nhà kính,
hiêu ứng nhà kính làm Trái Đất nóng lên, từ đó ảnh hưởng tới khí hậu toàn cầu.
Trong tình huống trên, phạm trù nguyên nhân là “rừng bị tàn phá” còn phạm trù
kết quả là “lũ lụt và thay đổi khí hậu”. Ngoài ra còn có điều kiện như cần có mưa
để gây ra lũ lụt hay cần có lượng khí cacbonic nhiều trong không khí để gây ra
sự thay đổi khí hậu. Tình huống trên thuộc cặp phạm trù nguyên nhân kết quả
nên cũng có những tính chất chung của cặp phạm trù này bao gồm:
thể. Trong tình huống trên chỉ có một nguyên nhân là rừng bị tàn phá nhưng đã
dẫn tới ít nhất hai kết quả đã nêu khi xuất hiện điều kiện cụ thể (nếu gặp mưa thì
có lũ lụt, nếu có nhiều cacbonic thì thay đổi khí hậu).
+Một kết quả có thể có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong kết quả lũ
lụt và biến đổi khí hậu có thể có nguyên nhân khác (như độ dốc địa hình lớn, khả
năng giữ nước của đất kém đối với lũ lụt và thủng tầng Ozone hay băng tan đối
với thay đổi khí hậu) nhưng rừng bị tàn phá là nguyên nhân cơ bản đẫn đến hai
nguyên nhân trên.
-Mối quan hệ biện chứng thứ hai: Kết quả có thể tác động trở lại nguyên
nhân. Đối với tình huống đã nêu,kết quả đều có khả năng tác động trở lại nguyên
nhân và ảnh hưởng tới nguyên nhân. Lũ lụt lại tàn phá phần rừng bên dưới và
gây lũ cục bộ bên dưới, cơn lũ cục bộ đó kết hợp với cơn lũ đầu tiên tạo nên cơn
lũ mới với sức mạnh khủng khiếp hơn. Hay biến đổi xấu đi của khí hậu làm điều
kiện sống của một bộ phận thực vật mất đi,dẫn đến rừng trên thế giới bị tàn phá
thêm.
-Mối quan hệ biện chứng thứ ba: Nguyên nhân có thể chuyển hóa thành
kết quả và kết quả có thể chuyển hóa thành ngyên nhân nếu xét trong các mối
quan hệ khác nhau. Nguyên nhân rừng bị tàn phá có thể là kết quả trong mối
quan hệ “việc không hiểu biết của con người về tầm quan trọng của việc bảo vệ
rừng dẫn tới việc rừng bị tàn phá”. Kết quả lũ lụt và thay đổi khí hậu có thể là
nguyên nhân trong mối quan hệ “lũ lụt và thay đổi khí hậu là những thiên tai gây
hậu quả nghiêm trọng đối với con người”
1.3 Ý nghĩa
Khi nghiên cứu Triết học nói chung hay cặp phạm trù nguyên nhân – kết
quả nói riêng, ta cần phải rút ra được ý nghĩa phương pháp luận hay ý nghĩa của
nó đối với thực tiễn. Khi nghiên cứu tình huống đã nêu kết hợp ý nghĩa phương
pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả ta được những điều sau:
-Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của
không những giúp con người nhận thức được thế giới tự nhiên mà còn giúp con
người tác động trở lại thay đổi giới tự nhiên. Chính vì vậy mà lao động và ngôn
ngữ được coi là nguyên nhân dẫn tới việc con người nhận thức được giới tự
nhiên.
Lao động là 1 quá trình diễn biến giữa người và tự nhiên, 1 quá trình mà
trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự
trao đổi giữa con người với tự nhiên. Đây là 1 quá trình con người tác động vào
giới tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của
mình. Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để cho con người tồn tại,cung cấp
cho con người những điều kiện cần thiết để sống,đồng thời lao động sáng tạo ra
bản thân con người. Lao động vừa lam thay đổi cấu trúc cơ thể con người làm con
người tách ra khỏi động vật. Con người nhờ lao động mà bắt giới tự nhiên phải
phục vụ cho mục đích của mình. Nhờ lao động con người làm giới tự nhiên bộc lộ
những thuộc tính kết cấu, những quy luật vận động,vv…của nó mà con người có
thể quan sát được. Những hiện tượng ấy thông qua những giác quan tác động đến
bộ óc con người và bằng hoạt động của bộ óc, tri thức nói chung về giới tự nhiên
được hình thành và phát triển. Nếu không có lao động thì hoàn cảnh tự nhiên vẫn
bí ẩn và xa lạ với con người, con người không có cách nào khác là lao động để
phản ánh thế giới tự nhiên. Như vậy ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động
cải tạo thế giới khách quan của con người,làm biến đổi thế giới đó. Ý thức với tư
cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có được ngoài quá trình lao động
làm biến đổi thế giới xung quanh. Vì thế có thể nói khái quát rằng lao động tạo ra
ý thức tư tưởng hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thế
giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao động.
Từ kết cấu của ý thức ta có yếu tố là” tri thức”tri thức là toàn bộ những
hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức, là sự tái tạo hình ảnh
của giới tự nhiên được nhận thức dưới dạng ngôn ngữ. Quá trình lao động không
xuất hiện ở trạng thái đơn nhất ngay từ đầu dã mang tính “tập thể xã hội”. Vì vậy
khi xuất hiện kết quả (con người nhận thức được thế giới tự nhiên). Đặc biệt là
phải chú ý tới những dấu hiệu đặc trưng riêng biệt, đó là quan hệ sản sinh (từ
nguyên nhân sinh ra kết quả)
-Trong tình huống này chúng ta cần phải xem xét 1 cách toàn diện các nguyên
nhân dẫn tới việc con người nhận thức được thế giới tự nhiên vì trong tình huống
này có rất nhiêu nguyên nhân tuy nhiên chúng ta chỉ tìm hiểu những nguyên
nhân căn bản và quan trọng nhất và đánh giá đúng vị trí, vai trò của nó đố với sự
hình thành kết quả.
3. Lĩnh vực xã hội
3.1 Tình huống: Hiện nay do điều kiện sống được nâng cao lên tỉ lệ người béo
phì ở nước ta ngày càng gia tăng.
3.2 Phân tích
Nguyên nhân là do đời sống của người dân hiện nay đang được nâng cao
đặc biệt là đời sống vật chất, chất lượng bữa ăn của người dân được cải thiện, sử
dung nhiều thưc ăn giàu gluxit, lipit lên gây ra kết quả là tình trạng béo phì ngày
càng nhiều và điều này đặc biệt xảy ra với người dân của các thành phố lớn.
Tuy nhiên cũng thấy rằng kết quả như vậy không phải chỉ do một nguyên
nhân gây nên. Bên cạnh nguyên nhân chính đó thì cũng có nhiều nguyên nhân
phụ khác cùng tác động để tạo ra kết quả như vậy như do cơ cấu bữa ăn chưa cân
đối, con người ít vận động năng lượng tiêu hao ít…Như vậy một kết quả không
chỉ do một nguyên nhân chính, nguyên nhân quyết định, còn các nguyên nhân
khác tuy không giữ vai trò quyết định nhưng chúng cũng ngây ảnh hưởng cùng
chiều đến sự hình thành kết quả và làm cho kết quả xuất hiện nhanh hơn.
Thứ hai là kết quả có thể thay đổi trở thành nguyên nhân của kết quả khác.
Trong trường hợp trên ta thấy nguyên nhân là do chất lượng cuộc sống dẫn
đến béo phì thì trong mối quan hệ khác thì kết quả béo phì đó lại là nguyên nhân,
ví dụ như vì béo phì mà gây ra một loạt các loại bệnh như gan nhiễm mỡ, cao
huyêt áp, tiểu đường,…Qua đó ta thấy trong trường hợp này thì kết quả lại trở