Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Nớc ta có thế mạnh về trồng cây cà phê do điều kiện đất đai và khí
hậu thuận lợi. Đất đỏ ba dan, rất thích hợp với cây cà phê đợc phân bố
rộng khắp lãnh thổ, trong đó tập trung nhiều ở hai vùng Tây Nguyên và
Đông Nam Bộ với diện tích hàng triệu ha. Khí hậu nhiệt đới gió mùa,
nhất là những tháng cà phê sinh trởng. Cây cà phê cần hai yếu tố cơ bản
là đất và nớc thì cả hai yếu tố đó đều rất thuận lợi nớc ta. Với sự say mê
của cá nhân trong vấn đề cũng nh nhiều ý kiến quan tâm, em xin đợc
đóng góp một vài ý kiến cá nhân nhỏ bé của mình trong bài tiểu luân
với đề tài: Vận dụng cặp pham trù nguyên nhân- kết quả để phân tích
thực trạng cà phê Việt Nam trên thị trờng thế giới và môt số giải pháp
đa ra để tiếp tục phát triển.
Trong khuôn khổ của một bài viết ngắn, và vì những hạn chế hiểu
biết, chắc chắn bài viết của em sẽ không tránh khỏi những sai xót. Kính
mong thầy cô giáo và các bạn SV góp thêm ý kiến để em làm tốt hơn
cho những bài viết sau. Và em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô
đã hớng dẫn, giúp em hoàn thành tốt bài viết này.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ch ơng I: cơ sở triết học của đề tài
1 Khái niệm Nguyên nhân- Kết quả
a. Nguyên nhân.
Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một
sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra sự biến đổi nhất định.
b. Kết quả
Kết quả là những biến đổi gây ra sự biến đổi xuất hiện do tác
động lẫn nhau của các mặt tập hợp trong một sự vật hoặc giữa các sự
vật với nhau.
2 Mối quan hệ biên chứng giữa Nguyên nhân và Kết quả
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả,vì vậy nguyên nhân bao giờ
nở bóng đèn (tuy không đáng kể), vừa làm thay đổi nhiệy độ xung
quanh bóng đèn v.v... Vì vậy đòi hỏi chúng ta phải biết phân loại
những kết quả do nguyên nhân đa lại. Điều này đặc biệt quan trọng đối
với các hoạt động có mục đích của con ngời .Một cuộc cách mạng coi
nh không thành công, không triệt để, không đạt đợc mục đích nếu nh nó
không giành đợc chính quyền về tay các giai cấp cách mạng. Lê-nin
nói, chính quyền là vấn đề quan trọng nhất của mọi cuộc cách mạng.
-Trong sợi dây truyền vô tận của sự vật động của vật chất, không
có một hiện tợng nào đợc coi là nguyên nhân đầu tiên và cũng không
có kết quả nào đợc xem là kết quả cuối cùng. Trong mối quan hệ này,
sự vật và hiên tợng nào đó đợc coi là nguyên nhân, song trong mối quan
hệ khác, nó lại là kết quả và ngợc lại. Diễn tả tính quy định này, Ăng-
ghen viết: "...nguyên nhân và kết quả là những biểu tợng chỉ có ý nghĩa
là nguyên nhân và kết quả khi nào đợc ứng dụng vào một trờng hợp cá
biệt, nhng ta xét trong trờng hợp cá biệt ấy trong mối liên hệ chung của
nó với toàn bộ thế giới thì những biểu tợng đó lại hoà hợp với nhau,
xoắn xuýt với nhau trong sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong
đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau, cá ở đây
bây giờ là kết quả thì chỗ khác lạ trở thành nguyên nhân và ngợc lại.
-Nguyên nhân sản sinh ra kết quả, nhng sau khi xuất hiên, kết quả
không giữ vai trò thụ động đối với nguyên nhân, trái lại, nó có ảnh h-
ởng ngợc lại nguyên nhân. Sự ảnh hởng,tác động trở lại theo hai
chiều, tích cực hoặc tiêu cực.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ch ơng II:
Thực trạng cà phê việt nam trên thị trờng
thế giới và một số giải pháp đa ra để tiếp tục
phát triển
I. Thực trạng
nên năng xuất cà phê nớc ta từ 1 tấn/ha thời kỳ đầu 1990 tăng lên 1,5
tấn/ha thời kỳ 1996-2000.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Quy mô và tốc độ phát triển sản xuất cà phê nớc ta có quan hệ trực
tiếp với quan hệ cung cầu trên thị trờng cà phê thế giới, nhất là các nớc
sản xuất cà phê và thị trờng tiêu thụ cà phê.
Sản lợng cà phê toàn thế giới vụ cà phê 1990-1991 là 5,586 triệu tấn,
trong đó cà phê Arabica chiếm 75,6%, còn cà phê Robusta chiếm
24,4%. Từ năm 1970 trở lại đây, tỷ lệ này tiêu tơng đối ổn định, dạng
sản phẩm đợc xuất khẩu trên thị trờng thế giới chủ yếu là cà phê nhân
sống. Lấy số liệu năm 1990 làm ví dụ, lợng cà phê đã xuất khẩu là
4,788 triệu tấn, gía trị 6,73 tỉ USD, trong đó cà phê nhâm sống chiếm
95,2% ; cà phê rang rất ít, chiếm 0,1%; cà phê hoà tan chiếm 4,7%.
Giá cà phê trên thị trờng thế giới không ổn định, lên xuống thất th-
ờng. Năm 1992 đã có lúc giá cà phê Robusta chỉ còn 600 USD/tấn. Nh-
ng đến năm 1996, giá cà phê Robusta lại tăng vọt, có thời điểm đạt
4000 USD/tấn. Giá cả diễn biến phản ánh tình hình tồn kho ở các nớc
tiêu thụ. Năm 1998, do hậu quả của En-ni-nô, sản lợng cà phê thế giới
giảm sút lớn. Đến tháng 12 năm 2000 giá cà phê ở nớc ta chỉ còn ở
mức dới 5 nghìn đồng/kg thấp nhất từ trớc đến nay.
Trong 70 nớc sản xuất cà phê thì Việt Nam cáhc đây 20 năm còn
đứng vị trí thấp,hằng năm xuất khẩu 5000-6000 tấn. Ngoài việc trao đổi
hàng hoá với Liên Xô và các nớc XHCN Đông Âu, còn lại một lợng
nhỏ đợc bán cho các thơng gia ở hai thị trờng Xin-ga -po và Hồng
Kông. Ngày nay, cà phê Việt Nam đang trực tiếp xuất sang 40 nớc với
khối lợng lớn đứng hành thứ 4 trên thế giới. Mức tăng trởng lợng cà phê
xuất khẩu hàng năm khá lớn. Có thể xem số liệu xuất khẩu cà phê của
nớc ta từ vụ cà phê 1992-1993 lại đây:
Niên vụ Lợng xuất khẩu (tấn) Tốc độ tăng (%)