Luận văn
Đề tài: “Về cặp phạm trù nguyên nhân - kết
quả trong triết học Mác - Lênin”
1
MỤC LỤC
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong sự vận động của hiện thực, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ
được lặp đi lặp lại nhiều nhất, phổ biến nhất. Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân
quả là một trong những mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ánh vào trong
đầu óc của con người. Chúng ta nói rằng, phạm trù là kết quả của những quá
trình phản ánh những mối liên hệ được lặp đi lặp lại của đời sống, và trong
trường hợp này, phạm trù nguyên nhân và kết quả là những phạm trù chứng
minh cho quan niệm đó. Mối liên hệ nguyên nhân và kết quả, hay gọi tắt là mối
liên hệ nhân - quả là mối liên hệ vốn có của thế giới vật chất. Nó không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Chính những tác động của các sự vật
hiện tượng trong thế giới vật chất, nó được phản ánh ở trong nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến đã làm cho thế giới vận động, sự tác động đó nếu đặt trong mối
quan hệ với kết quả thì đó là nguyên nhân. Vì vậy, bất kỳ một sự vận động nào ở
trong thế giới vật chất suy cho cùng đều là những mối liên hệ nhân quả, xét ở
những phạm vi khác nhau, những thời điểm khác nhau và những hình thức khác
nhau. Nói một cách khác, nếu như vận động là thuộc tính của thế giới vật chất, là
phương thức tồn tại của vật chất thì vận động luôn luôn là sự tác động, hoặc là sự
tác động giữa những bộ phận khác nhau ở trong cùng một một sự vật hiện tượng,
hoặc là sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng. Tất cả những tác động
đó chỉ cần xét theo định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Lô - mô -
nô - xốp cũng thấy rằng, chúng nhất định phải sinh ra từ nguyên nhân nào đó.
Vấn đề chỉ là ở chỗ ý thức của chúng ta có phản ánh được những cấp bậc đó hay
không mà thôi.
3
trong hạt mới chỉ là khả năng mà thôi, chỉ bao giờ nó hóa thành hiện thực là
những quá trình sinh hóa ở trong cái hạt, bấy giờ nó mới là sự tác động và nó
mới làm nảy sinh mầm. Tóm lại, cái mầm là kết quả sinh ra từ những quá trình
5
sinh học, hóa học ở trong cái nhân chứ không phải bản thân cái nhân là nguyên
nhân của nó.
Vấn đề thứ hai là trong thế giới luôn luôn có sự tác động qua lại của các sự
vật hiện tượng với nhau. Suy cho cùng, mỗi một sự tác động đều đưa lại những
hệ quả nào đó, một kết quả nào đó, nhưng như vậy mọi tác động của bản thân nó
đều chưa được xem xét như là những nguyên nhân. Nguyên nhân chỉ là nguyên
nhân trong mối quan hệ với kết quả. Nếu không có kết quả thì cũng không gọi sự
tác động đó là nguyên nhân. Hay nói cách khác, nếu không quy kết quả như là
hậu quả của một quá trình tác động thì tác động đó cũng không được gọi là
nguyên nhân.
Còn bây giờ chúng ta nói đến vấn đề kết quả. Kết quả vốn là sự xuất hiện
của một sự vật hiện tượng nào đó. Như vậy, sự xuất hiện đó chỉ được xem là kết
quả nếu xem xét nó sinh ra từ những nhân tố nào. Các nguyên nhân là sự tác
động thì kết quả có thể là sự vật hiện tượng.
2. Tính chất của mối liên hệ nhân - quả.
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách
quan, tính phổ biến và tính tất yếu.
Tính khách quan của mối liên hệ nhân - quả thể hiện ở chỗ, mối liên hệ
nhân - quả là cái vốn có của bản thân sự vật, nó không phụ thuộc vào ý thức của
con người. Chúng ta biết rằng, mọi sự vật trong thế giới là luôn luôn vận động,
tác động lẫn nhau, và sự tác động đó tất yếu sẽ dẫn đến một sự biến đổi nhất
định. Do đó có thể nói mối liên hệ nhân - quả luôn mang tính khách quan.
Còn tính phổ biến của mối quan hệ này thì điều đầu tiên chúng ta có thể
thấy là mối liên hệ phổ biến có tính phổ biến như thế nào thì mối liên hệ nhân
quả cũng có tính phổ biến như thế. Chúng ta có thể nhận thấy mối liên hệ nhân
6
bao giờ cũng rất độc đáo. Nguyên nhân tác động trong những điều kiện, hoàn
cảnh ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra giống nhau bấy nhiêu.
Tuy nhiên, sự ít khác nhau lại cực kỳ hiếm, do đó bao giờ cũng như vậy, mỗi
một kết quả là một thực tại độc đáo, không lặp đi lặp lại trong bất kỳ một thời
gian, không gian nào. Ví dụ, trong chiến tranh, bộ đội ta có một kết luận rất thực
tế là, rất ít khi hai quả bom rơi vào cùng một chỗ. Vì vậy, các chiến sĩ ta hay
tránh bom địch ở chính những hố bom mà quả bom trước đã đào lên.
8
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA NGUYÊN NHÂN VÀ
KẾT QUẢ
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả có thể được khái
quát thành năm vấn đề sau đây.
1. Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn luôn có trước
kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất
hiện.
Ở đây vấn đề là tự bản thân nó đã rõ ràng, không cần phải luận chứng gì
thêm, chỉ cần phải phân biệt không phải một sự vật nào đó có trước sự vật thứ
hai, thì tác động của nó đã được coi là nguyên nhân của hiện tượng thứ hai. Ví
dụ, ngày là sự nối tiếp của đêm nhưng không phải là nguyên nhân của đêm. Ở
đây sự phân biệt không phải là thời gian mà là mối liên hệ hiện thực giữa nguyên
nhân và kết quả. Hai hiện tượng, hiện tượng trước không phải là nguyên nhân
của hiện tượng sau chỉ là ở chỗ sự tác động của nó không có liên quan gì đến sự
xuất hiện của hiện tượng sau. Còn trong quan hệ nhân quả, thì bao giờ sự tác
động của nguyên nhân là cái sinh ra kết quả. Sự kế tục giữa các mùa ở trong năm
cũng như vậy. Đó là hậu quả của những vị trí khác nhau của trái đất so với mặt
trời trong vòng quay của trái đất xung quanh mặt trời, chứ không phải mùa xuân
sinh ra mùa hè, mùa hè sinh ra mùa thu…
Vấn đề thứ hai cần chú ý là sự kế tiếp nhau của nguyên nhân và kết quả
trong mối quan hệ nhân quả không có nghĩa là nguyên nhân sinh ra xong rồi thì
kết quả mới nảy sinh. Trái lại, nguyên nhân vừa tác động thì sự hình thành của
trò riêng biệt. Và đương nhiên chúng ta khẳng định rằng, nguyên nhân ở bên
trong, những tác động nội tại của nền kinh tế nước ta, tinh thần độc lập tự chủ và
những kết quả do bản thân nỗ lực của nền kinh tế Việt Nam đem lại mới là
những nguyên nhân chủ yếu, đóng góp vào sự phát triển của đất nước, sự hoàn
thành quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước ta. Xét nền kinh tế
trong nước, chúng ta lại còn có thể tiếp tục phân chia nguyên nhân đó thành
những nguyên nhân như là: sự tác động, vai trò của mỗi thành phần kinh tế trong
thời kỳ đổi mới và trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Hiện nay, năm
thành phần kinh tế cơ bản của chúng ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể,
kinh tế tư bản tư nhân, trong đó gồm cả tư bản nước ngoài, kinh tế sản xuất hàng
hóa nhỏ và kinh tế tự cung tự cấp ở những vùng còn chưa phát triển được kinh tế
hàng hóa, tất cả những thành phần kinh tế này đều có những vai trò nhất định
trong sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta thấy rằng, nền kinh
tế quốc doanh bao giờ cũng nắm vai trò chủ yếu do chỗ chúng ta định hướng
phát triển kinh tế và định hướng xã hội chủ nghĩa, những ngành kinh tế chủ chốt
có vai trò cơ bản tác động đến nền kinh tế quốc dân đều thuộc khu vực quốc
doanh, do đó hiển nhiên thành phần kinh tế này luôn đóng vai trò chủ đạo, phát
huy những tác dụng của nó làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng trở nên hiện đại.
2. Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không hoàn toàn thụ
động, nó vẫn có khả năng tác động trở lại nguyên nhân.
Cần chú ý là tác động này là hai nghĩa, cả tác động tích cực hoặc tác động
tiêu cực. Ví dụ, trình độ dân trí thấp là do nền kinh tế kém phát triển gây ra, nếu
không đủ đầu tư cho việc nâng cao dân trí của nhân dân, đầu tư giáo dục không
11
đầy đủ. Đến lượt mình, dân trí thấp với tư cách là kết quả lại tác động trở lại với
quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước, làm cho kinh tế kém phát
triển và dân trí sẽ lại tiếp tục thấp xuống. Ngược lại, trình độ dân trí cao vốn là
kết quả của sự phát triển xã hội cả về chính trị, kinh tế, văn hóa… làm cho nền
giáo dục quốc dân cũng phát triển đầy đủ, khi đó nó sẽ đem lại một kết quả là
tầng lớp trí thức và một đội ngũ lao động với trình độ cao, tay nghề vững và điều
lại, kết quả với tư cách là kết quả được sinh ra từ một nguyên nhân nhưng bản
thân nó không dừng lại. Nó lại tiếp tục tác động, và sự tác động của nó lại gây ra
những kết quả khác. Nói một cách khác, có thể tóm lại trong chuỗi nhân – quả: A
sinh ra B, B sinh ra C, C sinh ra D… thì mỗi cái đều là nguyên nhân ở trong một
mối quan hệ này, nhưng đồng thời lại là kết quả ở một mối quan hệ khác. Ví dụ,
sự phân phối thu nhập không công bằng dẫn tới mâu thuẫn trong xã hội. Những
mâu thuẫn xã hội làm nảy sinh những tệ nạn xã hội. Những tệ nạn xã hội lại làm
cho nền kinh tế xã hội phát triển chậm lại.
Thứ hai, đó chính là ý nghĩa đã được xét ở khía cạnh trên, tức là nguyên
nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả lại có khả năng tác động trở lại đối với
nguyên nhân. Trong mối quan hệ này, khi kết quả tác động trở lại với nguyên
nhân thì kết quả lại có tư cách là nguyên nhân chứ không phải là kết quả nữa. Do
đó có thể nói có sự hoán đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả ngay trong cùng
một mối quan hệ nhân – quả. Chúng ta có thể lấy lại những ví dụ về dân trí và
giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân vừa được dẫn ra ở trên.
13
Vì vậy, Ph. Ăng – ghen nói rằng, nguyên nhân và kết quả là những khái
niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường
hợp riêng biệt nhất định. Hay nói cách khác, một hiện tượng nào đấy được coi là
nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong một quan hệ xác định cụ thể.
4. Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả, và ngược lại, một
kết quả có thể được ra đời từ rất nhiều nguyên nhân.
Ví dụ trường hợp chặt phá rừng bừa bãi ở trên đầu nguồn có thể sinh ra
nhiều kết quả. Sự thay đổi sinh thái ở bản thân vùng đó làm cho quỹ gien động
vật và thực vật bị biến đổi, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ gây ra sự thay đổi khí
hậu ở chính bản thân vùng rừng đầu nguồn. Thứ hai, nó là nguyên nhân gây ra
những trận lụt, thậm chí là những trận lũ quét gây ra rất nhiều thiệt hại cho đời
sống kinh tế – xã hội không chỉ ở vùng cao mà còn ở vùng đồng bằng. Thứ ba,
nó gây ra những hậu quả làm xáo trộn đời sống xã hội của cư dân, làm ảnh
hưởng đến tình hình xã hội chung của toàn quốc. Thứ tư, nó làm cho ngân sách
Hơn mười lăm năm nay, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển rất lớn
xét riêng về mặt công nghệ, những quy trình công nghệ mới đã được du nhập
vào nước ta thay thế cho những quy trình công nghệ có từ thế kỷ XIX hoặc đầu
thế kỷ XX, những giống mới được tạo ra và những phương pháp canh tác mới
cũng được xuất hiện làm cho nền nông nghiệp của chúng ta từ một nền nông
nghiệp tự cung, tự cấp, có thể nói là độc canh cây lúa đã trở thành nền nông
nghiệp hàng hóa rất phong phú, đa dạng. Nó đã đóng góp rất lớn vào thành công
15
vào sự nghiệp đổi mới chung của toàn thể dân tộc Việt Nam trong những thập kỷ
cuối của thế kỷ XX và hiện nay còn đang tiếp tục phát triển.
Rõ ràng là một kết quả có thể do rất nhiều nguyên nhân sinh ra. Trong quá
trình hoạt động thực tiễn chúng ta càng phải chăm chú nghiên cứu những tác
động này để phối hợp tạo nên sức mạnh tổng hợp và những thắng lợi mới trong
công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
5. Kết quả không bao giờ được to hơn nguyên nhân.
Đây là một vấn đề rất quan trọng. Vấn đề này đã được Hê - ghen đề cập
đến trong cuốn lôgic của ông, đó là một phát hiện rất tài tình. Kết quả không bao
giờ to hơn nguyên nhân, chỉ cần dựa vào định luật bảo toàn và chuyển hóa năng
lượng của Lô - mô - nô - xốp cũng có thể đi đến kết luận này. Một kết quả được
xem xét như là cái được sinh ra từ sự tác động thì bản thân nó không thể nào lại
lớn hơn tác động được. Do đó, nếu chúng ta đun nước ở ngoài trời nắng thì nước
sẽ nhanh sôi hơn, nhanh nóng hơn bởi vì nó còn được tiếp thu ánh sáng mặt trời.
Ví dụ, cùng một độ củi khoảng 3000 calo là đã có thể nâng được nhiệt độ nước:
3kg nước lên một độ. Nhưng nếu để nó ở ngoài trời năng thì người ta thấy rằng,
chỉ cần 2.800 calo chẳng hạn. Vì vậy, khi thấy kết quả to hơn nguyên nhân thì
lập tức chúng ta phải đi tìm những nguyên nhân khác bổ sung để làm nên kết quả
mà chúng có được.
Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng. Bởi vì trong thực tế, khi
chúng ta nhìn thấy về mặt hình thức, nhận được kết quả to hơn sự tác động, thì
chúng ta biết rằng phải đi tìm những nguyên nhân khác để bổ sung cho kết quả
dụng trong đời sống xã hội. Đồng thời người ta sử dụng mối quan hệ nhân - quả
của các hiện tượng tự nhiên để thấy được những tác hại mà các hiện tượng đó
gây ra. Điển hình nhất là hiện tượng sóng thần vừa qua ở vùng biển Ấn Độ
Dương, một vụ tai họa nghiêm trọng, hiếm có ở trong lịch sử hiện đại. Nếu
chúng ta biết được rằng, các hoạt động núi lửa và động đất ở dưới lòng biển là
nguyên nhân gây ra những đợt sóng thần thì người ta có thể dự báo trước những
trận động đất để tránh được cho các vùng cư dân ven biển khỏi bị tai họa sóng
thần. Đấy là chưa kể mỗi một lần có sóng thần thì tự nhiên đã sản sinh ra một
năng lượng vô cùng lớn. Nếu chúng ta có đủ trình độ và tri thức để lợi dụng
những nguồn năng lượng đó thì sẽ có ích lợi cho nhân loại rất nhiều.
Mối liên hệ nhân - quả ở trong lĩnh vực xã hội, tức là lĩnh vực hoạt động
của con người phức tạp hơn rất nhiều. Mối quan hệ nhân - quả này có đặc điểm
trước hết là nó chỉ xuất hiện khi có hoạt động của con người. Ở đây chúng ta đề
cập đến các đặc điểm của hoạt động con người là hoạt động có ý thức. Đặc điểm
này có thể đúng, không đúng ở trong những lĩnh vực khác nhau. Có những hoạt
động được coi là hoạt động có ý thức của cá nhân, nhưng lại là hoạt động vô ý
thức đối với cộng đồng. Chủ thể hoạt động bao giờ cũng xuất phát từ lợi ích của
chính bản thân mình, nhưng tác động của nó tới đời sống xã hội còn tùy thuộc
vào những mối liên hệ và những hậu quả xã hội mà nó gây ra. Ví dụ, lợi nhuận
buôn ma túy là rất cao, cho nên bọn buôn bán ma túy không từ bỏ một hành vi
nào thúc giục việc buôn bán ma túy để kiếm lợi. Xét từ phía cộng đồng, đó là
hành động rất có hại, hành động có thể nói là một hành động tự sát. Tuy nhiên,
những tác động đó người ta không thể ngăn chặn một sớm một chiều, nếu không
nghiên cứu những quan hệ lợi ích tác động vào quan hệ nhân - quả. Do đó
nghiên cứu mối quan hệ nhân – quả ở trong đời sống xã hội cũng chính là nghiên
18
cứu mối quan hệ tác động về mặt lợi ích. Những lợi ích nào được sinh ra từ
những tác động nào, nó đưa lại những hậu quả nào, đó chính là mục tiêu để
nghiên cứu mối quan hệ nhân - quả trong đời sống cộng đồng. Ví dụ tình trạng
tai nạn giao thông hiện nay rất là phổ biến. Chúng ta biết rằng, một trong những
quan hệ nhân - quả là kết quả của việc khái quát những hiện tượng từ một sự tác
động này suy ra một kết quả khác ở trong rất nhiều lĩnh vực: trong tự nhiên,
trong xã hội, cả trong vật lý, hóa học, cả trong đời sống xã hội như kinh tế, chính
trị, văn hóa… Quan hệ nhân - quả là một trong những quan hệ có tính phổ biến
nhất ở trong thế giới hiện thực. Đặc biệt, nó có vai trò rất quan trọng đối với quá
trình hình thành nhận thức của chúng ta. Quá trình nhân - quả được lặp đi lặp lại
nhiều lần sẽ làm cho tư duy của con người phản ánh được những mối quan hệ
nhân - quả, đồng thời khi nghiên cứu ở khía cạnh khác dẫn tới những kết luận về
mặt phương pháp luận rất phong phú.
Vì vậy, trong những câu ngạn ngữ chúng ta cũng bắt gặp được sự tổng kết
của cha ông ta về quan hệ nhân - quả là rất nhiều. Ví dụ:
“Mưa dầm thấm lâu, cày sâu tốt lúa”
“Ác giả ác báo”.
“Gieo gió gặt bão”
“Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”
“Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”…
Tóm lại, mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả là những
cơ sở lý luận rất quan trọng giúp cho chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm
trong quá trình hoạt động thực tiễn. Những hoạt động thực tiễn là cơ sở để cho
chúng ta nhận thức được về đặc trưng của mối quan hệ nhân - quả và những đặc
trưng này với tư cách là thành quả của nhận thức lại sẽ tiếp tục chỉ đạo cho con
21
người trong hoạt động thực tiễn để có thể gặt hái được những thành công to lớn
hơn.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C. Mác và Ph. Ăng - ghen Toàn tập, Tập 20 - Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 1995.
2. V. I. Lênin - Bút ký triết học Tập 29 - Nxb Tiến bộ, Mát - xcơ - va,
1981.