Phân tích ba tình huống trong thực tiễn để làm rõ nội dung và ý nghĩa của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả - Pdf 26

Trường: Đại học Luật Hà Nội.
Lớp: 3613 - Nhóm: 3613b3
STT Họ và tên Mã sinh viên
1. Bùi Hương Lan (Nhóm trưởng) 361360
2. Nguyễn Hồng Nhung 361365
3. Lê Thị Thanh Huyền 361359
4. Nguyễn Thị Hương Ngọc 361368
5. Dương Thị Thanh Nhàn 361369
6. Hoàng Kim Anh 361362
7. Lê Thùy Linh 361366
8. Lê Thị Hồng Ngát 361367
9. Nguyễn Trọng Phước 361364
10. Kiều Mạnh Cường 361361
11. Nguyễn Văn Huấn 361363
12. Ngô Phương Anh 360761
13. Lê Ngọc Sáng 361370
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Khái niệm:
2. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:
2.1 Nguyên nhân sản sinh ra kết quả:
2.2 Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân:
2.3 Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau:
B. CỞ SỞ THỰC TIỄN:
1. Tình huống 1: Con đường cứu nước – tư duy của một vĩ nhân:
1.1 Cơ sở khách quan:
1.2 Nhân tố chủ quan:
1.3 Kết quả:

rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn. Sau đây chúng tôi
xin được trình bày nội dung bài tập nhóm 13B3.
NỘI DUNG
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
4
Bên cạnh các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật như cái
riêng- cái chung,cái đơn nhất,tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản
chất và hiện tượng,khả năng và hiện thực....Cặp phạm trù nguyên nhân- kết quả
được coi là những cặp phạm trù mang tính cơ bản nhất, phổ biến nhất.
1. Khái niệm:
Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt
trong một sự vật, hiện tượng với nhau từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định. Phạm
trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt các
yếu tố trong một sự vật, hiên tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:
2.1 Nguyên nhân sản sinh ra kết quả:
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước
kết quả. Còn kết quả bao giờ cũng có sau nguyên nhân.Tuy nhiên không phải
mối quan hệ nối tiếp nào cũng là mối liên hệ nhân quả,ví dụ như sấm chớp, ngày
đêm,...Chỉ có những mối liên hệ trước sau về mặt thời gian có quan hệ nảy sinh
mới là mối liên hệ nhân quả.
Trong hiện thực, mối liên hệ nhân quả biểu hiện rất phức tạp: một kết quả
có thể do nhiều nguyên nhân và một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả.
Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì có xu hướng dẫn đến kết quả
nhanh hơn. Nếu các nguyên nhân tác động ngược chiều thì làm cho tiến trình
hình thành kết quả chậm hơn. Thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau. Sự tác động
của nhiều nguyên nhân dẫn đến dự hình thành có thể diến ra theo hướng thuận
nghịch khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả nhưng vị trí ,
vai trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp,
5

Bối cảnh thời đại: Chủ nghĩa tư bản đã xác lập trên phạm vi toàn thế giới.
Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa. Cuối thế
kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, cuộc đấu tranh của phong trào công nhân ở các nước tư
bản chủ nghĩa tạo thành một cao trào sôi nổi mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng
Mười Nga năm 1917. Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản ra đời càng thúc đẩy
phong trào công nhân thế giới nói chung và phong trào công nhân Việt Nam nói
riêng ngày càng phát triển hơn.
1.2 Nhân tố chủ quan:
Nguyễn Ái Quốc – một con người vĩ đại, được sinh ra và nuôi dưỡng
trong một gia Nho học, ở vùng đất Nghệ An giàu truyền thống yêu nước.
Khi thực dân Pháp xâm lược, chúng bóc lột nhân dân ta đến kiệt cùng
nhưng theo sau đó là những hệ tư tưởng mới ở châu Âu cũng du nhập vào nước
ta. Nguyễn Ái Quốc đã được tiếp xúc với những hệ tư tưởng này và đã có những
tư duy theo hướng mới sáng tạo hơn.
Nguyễn Ái Quốc sớm được tiếp xúc với chính trị, Người được gặp các nhà
lãnh đạo kiệt xuất lúc bấy giờ, rất khâm phục tinh thần yêu nước ở các cụ nhưng
Người nhận thấy đó không phải là con đường cứu nước đúng đắn. Cùng thời đại
nhưng Nguyễn Ái Quốc đã ý thức hơn người, Người đã định ra cho mình một
7
hướng đi mới "phải tìm hiểu cho rõ bản chất của những từ Tự do, Bình đẳng,
Bác ái" của nước Pháp.
1.3 Kết quả:
Trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc đã hình thành nên việc ra đi tìm
đường cứu nước cho dân tộc và nuôi trong mình sự căm thù giặc, ý chí quyết tâm
giải phóng nước nhà khỏi ách thống trị của thực dân.
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã
ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc hành trình qua các nước tư bản, đế quốc, thuộc
địa, phụ thuộc đã giúp Người nhận ra hướng đi đúng đắn do con đường mình
chọn, Người nhận ra ở đâu nhân dân cũng mong muốn thoát khỏi ách áp bức bóc
lột.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status