Phân tích nội dung và kết quả chủ yếu của cải cách và mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc trong thời kỳ 1978-2000 và liên hệ công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam 1986 đến nay - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề tài:
Phân tích nội dung và kết quả chủ yếu của cải cách và mở cửa
của nền kinh tế Trung Quốc trong thời kỳ 1978 - 2000 và liên hệ công
cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam 1986 đến nay - Giống nhau và khác nhau.
Lời mở đầu
Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc láng giềng cùng một khu vực nên
có rất nhiều điểm tơng đồng, cả về lãnh thổ, điều kiện tự nhiên cũng nh yếu
tố bản sắc văn hoá, đờng lối chính trị. Chính vì vậy, việc Việt Nam học tập
Trung Quốc là điều nên làm và đáng làm.
Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều cố gắng noi gơng Trung Quốc trong
việc cải cách kinh tế, từng bớc đa nền kinh tế trở thành nền kinh tế thị trờng
phát triển mạnh. Do đó, em phân tích đề bài nhằm đa ra những bài học kinh
nghiệm chung nhất mà Việt Nam đã thấy và đang từng bớc học tập theo.
Em xin chân thành cảm ơn cô đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong
môn học này.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nội dung
Kinh tế Trung Quốc
I- Trớc khi cải cách kinh tế.
1. Trớc khi giành độc lập.
Trung Quốc là một quốc gia có dân số đông nhất thế giới, địa hình rất
đa dạng và phức tạp, tài nguyên thiên nhiên phong phú. Trớc khi giành độc
lập, Trung Quốc phải trải qua hàng ngàn năm dới chế độ phong kiến. Đặc
điểm kinh tế Trung Quốc thời kỳ này là kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ
yếu, thủ công nghiệp phát triển nhng phụ thuộc hoàn toàn vào lĩnh vực nông
nghiệp, nền kinh tế kéo dài trong tình trạng tự cấp tự túc.
2. Sau khi giành độc lập.
Sau khi giành đợc độc lập, nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa
ra đời (01/10/1949) nền kinh tế Trung Quốc đứng trớc những vấn đề hết sức

tháng 11/1978, tại Hội nghị lần thứ 3 của Đại hội 11, Đảng cộng sản Trung
Quốc đã vạch rõ những quan điểm tả khuynh về kinh tế, chính trị của thời
gian trớc, đó là nguyên nhân gây nên sự trì trệ về kinh tế xã hội.
Về phơng diện kinh tế, tại hội nghị lần thứ 3 của Đảng cộng sản Trung
Quốc đã xem xét đánh giá toàn diện thực trạng cuả nền kinh tế Trung Quốc.
Với nông nghiệp thì 700 triệu nông dân dùng lao động thủ công là phổ biến.
Với công nghiệp thì nhiều ngành sản xuất còn lạc hậu mấy chục năm, thậm
chí có ngành sản xuất lạc hậu hàng trăm năm so với công nghiệp hiện đại ở
phơng Tây. Tình hình sản xuất công nông nghiệp nh vậy, nên trình độ xã hội
hoá sức sản xuất rất thấp kém, kinh tế hàng hoá và thị trờng trong nớc không
phát triển. Do vậy, kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên còn chiếm tỉ trọng tơng
đối lớn trong nền kinh tế.
Với thực trạng kinh tế nói trên, nếu tiếp tục kéo dài, sẽ đa đất nớc vào
con đờng bế tắc, khủng hoảng. Từ xem xét và đánh giá thực trạng kinh tế xã
hội, nhiều quan điểm ở Trung Quốc đều thống nhất rằng, cần làm sáng tỏ
Trung Quốc đang ở giai đoạn nào của sự phát triển lịch sử. Đây là vấn đề rất
quan trọng, vì có nh vậy mới xác lập đợc hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp
với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất trong hoàn cảnh cụ thể. Kinh
nghiệm lịch sử cho thấy, trớc đây Trung Quốc có xu hớng đốt cháy giai đoạn,
đặt đất nớc vào tình trạng mà nó cha đạt tới. Do vậy, đã áp đặt quan hệ sản
xuất "xã hội chủ nghĩa tiên tiến" vào điều kiện sản xuất thủ công lạc hậu. Bức
tranh quá khứ về các công xã nhân dân qui mô tới 5.000 hộ, khi nông nghiệp
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mới ở trình độ "nền văn minh đòn gánh". Bên cạnh đó các công xã này còn
áp dụng chế độ phân phối theo nhu cầu với t tởng "cả nớc ăn chung một nồi
cơm to", "cả nớc cùng quá độ nghèo đi lên chủ nghĩa xã hội". Từ thực trạng
kinh tế xã hội, Trung quốc cho rằng: đất nớc đang ở giai đoạn đầu của chủ
nghĩa xã hội, giai đoạn này kéo dài ít nhất là 100 năm. Đó là thời gian cần
thiết để Trung Quốc thực hiện những việc mà nhiều nớc đã thực hiện trong

với nhau là sai lầm".
Nh vậy theo Trung Quốc, việc xác định tính chất của nền kinh tế hiện
đại sẽ có ba ý nghĩa. Nó phân biệt kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế tự
nhiên mang tính phân tán, tự cấp tự túc. Nó cũng phân biệt kinh tế xã hội chủ
nghĩa với kinh tế có sản phẩm dồi dào của xã hội tơng lai. Với Trung Quốc
trong giai đoạn hiện tại, sức sản xuất cha phát triển, kỹ thuật sản xuất còn lạc
hậu, thì Trung Quốc cha thể vợt qua giai đoạn kinh tế hàng hoá để làm kinh
tế sản phẩm. Cuối cùng nó cũng phân biệt kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh
tế hàng hoá không có kế hoạch của xã hội t bản chủ nghĩa.
Trung Quốc còn chủ trơng khôi phục và duy trì một nền kinh tế có
nhiều thành phần. Về vấn đề này, quan điểm của Trung Quốc cho rằng trong
điều kiện cụ thể, với các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa, không phải càng
qui mô lớn càng tốt. Đồng thời với nền kinh tế hiện tại không hoàn toàn càng
công hữu, càng thuần khiết xã hội chủ nghĩa càng tốt, mà cần đa dạng hoá
các loại hình sở hữu trong điều kiện lấy chế độ công hữu làm chủ thể. Nh
vậy, sự đổi mới về nhận thức đã phá bỏ đi những quan niệm truyền thống và
xác lập quan niệm mới là kết cấu của chế độ sở hữu phải do tính chất của sức
sản xuất quyết định. Qua thực tế cho thấy việc lựa chọn và xác lập các hình
thức sở hữu không thể xuất phát từ sự lý tởng hoá chủ quan, mà phải do tính
chất khách quan của lực lợng sản xuất quyết định. Chính trên cơ sở ấy mới
nâng cao hiệu quả của sản xuất, khai thác tốt mọi tiềm năng cho sự phát triển
kinh tế. ở Trung Quốc thời gian qua đã hình thành nhiều loại hình sở hữu
cùng tồn tại và giao tiếp với nhau, trong đó sở hữu xã hội chủ nghĩa với t
cách là chủ thể. Đồng thời, chính sự đổi mới nhận thức về chế độ sở hữu dới
chủ nghĩa xã hội càng phá bỏ quan niệm truyền thống là "càng thống nhất
càng tốt" để xác lập quan niệm mới là trong điều kiện nhất định, quyền sở
hữu và quyền kinh doanh có thể tách rời nhau.
Từ chủ trơng khôi phục và duy trì nền kinh tế có nhiều thành phần, nền
kinh tế chính sách thể đợc khuyến khích phát triển, các hình thức t bản Nhà
nớc cũng đợc chú trọng. Trung Quốc đã áp dụng chính sách khoán không chỉ

tranh thủ khoa học kỹ thuật, khi sản xuất và tiêu dùng ngày càng mang tính
chất quốc tế hoá, thì hoạt động mở cửa là phản ánh xu thế khách quan của
thời đại với tất cả các quốc gia có nhu cầu phát triển kinh tế. Nh vậy chính
sách mở cửa của Trung Quốc là phù hợp với qui luật chung của thế giới đơng
đại. Để tiến hành hoạt động mở cửa, Trung Quốc đã cho xây dựng các đặc
khu kinh tế là Thẩm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu (Quảng Đông) và Hạ Môn
(Phúc Kiến). Bớc sang những năm 1983, 1984, 1985, công cuộc mở cửa vẫn
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đợc tiếp diễn ở các địa phơng. Nhà nớc đã cho phép một số địa phơng nhiều
quyền tự chủ trong việc hợp tác kinh doanh với nớc ngoài. Để tạo điều kiện
thuận lợi cho nớc ngoài đầu t, từ năm 1979, Trung Quốc đã ban hành 160 đạo
luật và sắc lệnh liên quan tới các đặc khu cùng các thành phố mở cửa. Một
trong các đạo luật nói trên tỏ ra u đãi đặc biệt với các nhà t bản bỏ vốn đầu t
kinh doanh. Họ đợc phép sử dụng đất đai với thuế suất u đãi. Bên cạnh đó có
đạo luật chỉ ra các đặc khu kinh tế và thành phố mở cửa phải có trật tự xã hội
cao, phải coi trọng văn minh lịch sự, những sản phẩm của các đặc khu phải
đáp ứng với yêu cầu lu thông hàng hoá trên thị trờng thế giới.
Nhìn vào việc mở cửa quan hệ với nớc ngoài, Trung Quốc đã đa ra
nhiều hình thức khác nhau để t bản nớc ngoài đầu t vào các đặc khu kinh tế
và thành phố mở cửa. Ví dụ nh xí nghiệp hợp danh là hình thức Trung Quốc
và nớc ngoài cùng góp vốn và cùng chịu trách nhiệm trong kinh doanh. Việc
chia lãi cho các bên căn cứ vào cổ phần đóng góp. Thời gian ký kết lập ra các
xí nghiệp hợp doanh là 11 năm tới 30 năm.
Một loại xí nghiệp khác có thể vốn hoàn toàn do nớc ngoài đầu t, nhng
những xí nghiệp này phải có lợi cho việc phát triển kinh tế quốc dân ở Trung
Quốc. Về kỹ thuật và thiết bị của xí nghiệp phải tiên tiến, những sản phẩm
của nó phải đợc xuất khẩu toàn bộ. Với các xí nghiệp loại này, hàng năm
phải nộp cho Trung Quốc thuế thu nhập từ 20% đến 40%.
Ngoài các loại hình xí nghiệp nói trên, còn một loại xí nghiệp nữa là do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status