Đề tài:
Phân tích nội dung và ý nghĩa cán cân thanh toán Quốc tế, liên hệ
thực tiễn với Việt Nam giai đoạn 2010-2012
Bài làm
Việt nam đặt mục tiêu về cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm
2020. Để đạt đươc mục tiêu này trước hết Việt Nam cần phai tham gia vào quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia vào mạng lưới sản xuất khu vực trên
thế giới. Vì vậy Việt Nam cũng có nhiều hoạt động với các quốc gia khác trên
thế giới bao gồm: thương mại, đầu tư, dư lịch, văn hóa, quân sự, chính trị ….Hệ
quả của các quan hệ này dẫn đến việc phát sinh những giao dịch thu, chi với các
nước khác. Để theo dõi và phân tích các khoản thu chi này, nhằm đưa ra những
chính sách đúng đắn, thì cần thiếtphải lập cán cân thanh toán quốc tế.
PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao
dịch kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ
nhất định. Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân,
các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng
giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và
một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một quý, song
thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú
trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao
dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở
trong nước được ghi vào bên tài sản có.
Theo nghị định 164/1999/NĐ/CP thì cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam
là bảng tổng hợp có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch giữa ‘’người cư
trú’’ và ‘’người không cư trú’’ trong một thời khì nhất định.
“Người cư trú’’ phải hội tụ 2 điều kiện sau:
1: thời hạn cư trú tối thiểu 12 tháng.
2: có nguồn thu nhập tại quốc gia đang cư trú.
1
Người không đủ 2 điều kiện trên thì thành người ‘‘không cư trú’’.
nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng
0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng. Cán cân thương mại còn được gọi
là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng
dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân
thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm.
Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại.
Cán cân thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến cán cân thanh toán quốc tế
đồng thời tác động trực tiếp đến cung, cầu, giá cả hàng hóa và sự biến động tỷ
giá, tiếp đến sẽ tác động đến cả cung cầu nội tệ và tình hình lạm phát trong
nước.
Các nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại gồm có
• Tỷ giá
• Tâm lý người tiêu dùng
• Giá cả hàng hóa
• Chính sách thương mại quốc tế
• Thu nhập người dân
• Tương quan lạm phát
1.2. Cán cân dịch vụ
Bao gồm các khoản thu chi từ các dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưuchính,
viễn thông, ngân hàng, thông tin xây dựng và các hoạt động khác giữa người cư trú với
người không cư trú.
Giống như xuất nhập khẩu hàng hoá, xuất khẩu dịchvụ làm phát sinh cung ngoại tệ
nên nó được ghi vào bên có và có dấu dương, nhậpkhẩu ngoại tệ làm phát sinh cầu
ngoại tệ nên nó được ghi vào bên nợ và có dấu âm.Các nhân tố ảnh hưởng lên
giá trị xuất
nhập khẩu dịch vụ cũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất
nhậpkhẩu hàng hoá.
1.3. Cán cân thu nhập
Phản ánh thu nhập ròng của người lao động hoặc thu nhập ròng từ
hoạt động đầu tư.
đầu tư trực tiếp, đầu tư vào giấy tờ có giá hay chuyển giao vốn một chiều giữa
người cư trú và người không cư trú
4
Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng mà người ta phân chia cán cân vốn và tài
chính thành từng loại khác nhau.
2.1. Nhằm mục đích thống kê:
Nếu chỉ nhằm mục đích theo dõi tình hình các luồng vốn vào ra khỏi quốc
gia và để tiện lợi cho việc ghi chép, người ta chia cán cân vốn và tài chính thành
cán cân vốn và cán cân tài chính.
2.1.1. Cán cân vốn:
Cán cân vốn ghi chép lại các giao dịch về vốn và về tài sản phi tài chính,
phi sản xuất, trong đó:
Các giao dịch chuyển giao vốn: bao gồm các giao dịch cho, tặng bằng tiền
hoặc hiện vật nhằm mục đích viện trợ hay xoá nợ giữa người cư trú và người
không cư trú
Các giao dịch về tài sản phi tài chính và phi sản xuất: bao gồm những
tài sản do tự nhiên tạo ra như đất đai, khoáng vật, các tài sản tự nhiên khác… và
các tài sản vô hình do con người tạo ra như bằng sáng chế, bản quyền… nhưng
tài sản này không phải là tài sản tài chính và cũng không do con người tạo ra
2.1.2. Cán cân tài chính:
Cán cân tài chính ghi chép lại toàn bộ các giao dịch về chuyển giao vốn
có liên quan đến hoạt động đầu tư giữa người cư trú và người không cư trú
Cán cân tài chính bao gồm:
+ Đầu tư trực tiếp: được ghi chép lại khi một đơn vị là người cư trú ở nên
kinh tế này đầu tư vào một đơn vị là người cư trú của nền kinh tế khác nhằm
mục đích thu được lợi ích lâu dài
+ Đầu tư gián tiếp (thông qua giấy tờ có giá): là đầu tư thông qua các loại
cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ tài chính khác có kỳ hạn dài hay ngắn khác
nhau, thông thường nghiệp vụ này phát sinh khi có việc mua bán cổ phiếu hay
trái phiếu quốc tế thông qua thị trường chứng khoán, sự phát triển của thị trường
gia của các luồng vốn ngắn hạn, cán cân này bao gồm rất nhiều hạng mục đầu tư
khác nhau, đa dạng, phong phú:
6
Chẳng hạn như tín dụng thương mại ngắn hạn, hoạt động tiền gửi, đầu tư
vào các giấy tờ có giá ngắn hạn, kinh doanh ngoại hối…
Ngày nay, nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng lưới ngân
hàng mà giao dịch ngắn hạn giữa các nền kinh tế trở nên rất thuận tiện, cán cân
vốn ngắn hạn ngày càng có ảnh hưởng lớn đến cán cân thanh toán quốc tế.
2.2.3. Chuyển giao vốn một chiều:
Chuyển giao vốn một chiều phát sinh khi có sự cho, tặng, xoá nợ, viện trợ
không hoàn lại giữa các quốc gia
Thông thường rất khó để phân biệt rõ ràng chuyển giao vốn một chiều và
chuyển giao vãng lai một chiều, để thống nhất, người ta quy định nếu giao dịch
bằng tiền gắn với việc mua bán tài sản cố định sẽ được coi là giao dịch chuyển
giao vốn, nếu không thể phân loại được chuyển giao vốn hay chuyển giao vãng
lai một chiều thì giao dịch đó sẽ được tính là chuyển giao vãng lai. Chính vì vậy
mà thường ít thấy khoản mục này xuất hiện trên cán cân thanh toán do phần lớn
đã được tính vào cán cân vãng lai một chiều
3. Nhầm lẫn và sai sót
Do áp dụng nguyên tắc hạch toán kép, nên cán cân thanh toán luôn được
cân bằng. Do đó
OB+ OFB= 0
OB = - OFB
CA+ K+ OM = - OFB
OM = – (CA + K + OFB)
Trong đó:
OB là cán cân tổng thể
CA là cán cân vãng lai
K là cán cân vốn và tài chính
OM là phần sai sót do thống kê
PHẦN 2: THÂM HỤT VÀ THẶNG DƯ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
BOP=(X – M+Se+Ic+Tg)+(KL+Ks)+(∆R+L+≠)
X: Xuất khẩuKl: Luồng vốn ròng dài hạn
M:Nhập khẩu Kx:Luồng vốn dòng ngắn hạn
Se: Dịch vụ ròng ∆R: Thay đổi dự trữ
Ic: Thu nhập ròng +L: Vốn vay
Tg: Giá trị chuyển giao vãng lai ròng
1. Khái niệm
CCTT được lập theo nguyên tắc hạch toán kép, do đó tổng các bút toán
ghi có luôn bằng tổng các bút toán ghi nợ, nhưng có dấu ngược nhau. Điều này
có nghĩa là, về tổng thể thì CCTTQT luôn được cân bằng. Do đó nói đến thặng
dư, thâm hụt CCTTQT là nói đến thặng dư thâm hụt của một hoặc của một
nhóm các cán cân bộ phận chứ không nói đến toàn bộ cán cân.
Về mặt nguyên tắc, thặng dư hay thâm hụt của CCTTQT được xác định
theo hai phương pháp:
-Phương pháp xác định thặng dư thâm hụt của từng cán cân bộ phận.
-Phương pháp tích lũy.
1.1. Thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại( TB)
TB=X-M
Như vậy cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và giá trị
nhập khẩu về hàng hóa.
Cán cân thương mại thặng dư: X > M, cho biết:
- Thu từ người không cư trú > chi cho người không cư trú
- Cung ngoại tệ > cầu ngoại tệ
Cán cân thương mại thâm hụt: X < M, cho biết:
- Thu từ người không cư trú < chi cho người không cư trứ
- Cung ngoại tệ < cầu ngoại tệ
Việc phân tích diễn biến cán cân thương mại cóvai trò to lớn trong nền
kinh tế, bởi vì:
người cư trú giảm xuống.
10
Cung ngoại tệ < cầu ngoại tệ.
- Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, trạng thái cán cân vãng lai là lý
tưởng để phân tích trạng thái nợ nước ngoài của quốc gia. Lý do có thể được giả
thích như sau: Trạng thái cán cân vãng lai có mối liên hệ trực tiếp với trạng thái
tổng nợ nước ngoài của một quốc gia. Cán cân vãng lai cân bằng nói lên rằng
tổng nợ nước ngoài của quốc gia là không đổi (quốc gia không là chủ nợ và
cũng không là con nợ). Cán cân vãng lai thặng dư phản ánh tài sản có ròng của
quốc gia đối với phần thế giới còn lại được tăng lên (vị thế quốc gia là chủ nợ).
Ngược lại cán cân vãng lai thâm hụt phản ánh tài sản nợ ròng của quốc gia đối
với nước ngoài tăng lên (vị thế quốc gia là con nợ).
*CA = 0, trong dài hạn
Theo giả thiết cán cân vãng lai cân bằng, nghĩa là:
(X- M + Se + Ic + Tr ) = 0
Vì trong dài hạn hiệu ứng can thiệp của NHTW mang tính trung lập do đó
chúng ta có thể coi dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi là bằng 0, tức:
R= 0
Kl + Ks = 0 K
l
= - Ks.có 2 khả năng xảy ra
+ TH1: K
l
< 0 và Ks > 0. nếu luồng vốn ngắn hạn chảy vào càng lớn và
được cân đối bởi luồng vốn dài hạn chảy ra, có thể làm cho năng lực thanh toán
của quốc gia trong tương lai bị đe dọa, dẫn đến áp lực tăng áp suất và giảm giá
nội tệ
+ TH2: K
l
> 0 và Ks < 0. nếu luồng vốn dài hạn chảy vào càng lớn và
l
)> 0 thì quốc gia
không hề chịu rủi ro thanh toán. Chính vì thế mà nhiều nhà kinh tế cho rằng, cán
cân cơ bản phản ánh tổng quát hơn về trạng thái nợ nước ngoài của một quốc gia
so với cán cân vãng lai. Điều này xảy ra là vì: vốn dài hạn có đặc trưng của sự
phân phối lại thu nhập tương đối ổn định trong một thời gian dài giữa một quốc
gia và thế giới.
- Thông thường người ta cho rằng một sự xấu đi của cán cân cơ bản là tín
hiệu xấu của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết phải như vậy,cho
dù cán cân cơ bản bị thâm hụt nhưng đây chưa hẳn đã là điều xấu.
Ví dụ, một quốc gia có thể đang bị thâm hụt cán cân vãng lai và đồng thời
có các luồng vốn dài hạn chảy ra, điều này khiến cho cán cân cơ bản trở lên
thâm hụt nặng; nhưng các luồng vốn chảy ra sẽ hứa hẹn những thu nhập như lãi
suất, cổ tức hay lợi nhuận trong tương lai; những thu nhập mày sẽ góp phần cải
12
thiện thâm hụt hay tạo thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai. Ngược lại
thặng dư cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt, khi mà luồng vốn ròng dài
hạn chảy vào lớn hơn mứcthâm hụt cán cân vãng lai thì cán cân cơ bản trở lên
thặng dư.
*)Tình trạng cán cân cơ bản có tác động một cách không rõ ràng đến nền
kinh tế tuỳ theo cách tiếp cận.
*)Đối với các nước đang phát triển, vốn là yếu tố cần thiết để thực hiện
công nghiệp và hiện đại hoá, thặng dư cán cân cơ bản nhìn chung được coi là
dấu hiệu tích cực.
*)Các chính sách thu hút vốn đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp là giải pháp
cơ bản cho vấn đề này.
Ngược lại thặng dư cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt, khi mà
luồng vốn ròng dài hạn chảy vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thì cán
cân cơ bản trở lên thặng dư. Có hai cách để nhìn nhận vấn đề thặng dư của cán
cân cơ bản như sau:
lực cung nội tệ lớn hơn cầu, do đó để tránh phá giá, Ngân hàng trung ương phải
tiến hành bán dự trữ.
*) Tình trạng của cán cân tổng thể là rất quan trọng và tác động trực tiếp
đến nền kinh tế và sự vận hành các chính sách vĩ mô, đặc biệt khi cán cân tổng
thể ở tình trạng thâm hụt.
*) Các giải pháp cân bằng đối với cán cân tổng thể khi ở tình trạng thặng
dư không những không khó mà luôn mang lại những hiệu ứng tích cực, kể cả
trong ngắn hạn và dài hạn.
*) Ngược lại, các biện pháp cân bằng khi ở tình trạng thâm hụt không
những khó khăn hơn mà tác động mặt trái thường rất nặng nề, thậm chí có thể
mang lại những hậu quả trong dài hạn.
*) Cân bằng cán cân tổng thể cần lựa chọn và thực hiện các giải pháp một
cách hết sức thận trọng.
III) Ý nghĩa của cán cân thanh toán quốc tế
+ Thực chất của cán cân thanh toán quốc tế là một tài liệu thống kê, có
mục đích cung cấp sự kê khai đầy đủ dưới hình thức phù hợp vói yêu cầu phân
14
tích những mối quan hệ kinh tế tài chính của một nước với nước ngoài trong một
thời gian xác định. Do đó CCTTQT là một trong những công cụ quan trọng
trong quản lý kinh tế vĩ mô. Thông qua cán cân thanh toán trong một thời kì,
chính phủ của mỗi quốc gia có thể đối chiếu giữa những khoản tiền thực tế thu
được từ nước ngoài với những khoản tiền mà thực tế nước đó chi ra cho nước
ngoài trong một thời kì nhất định. Từ đó đưa ra các quyết sách về điều hành kinh
tế vĩ mô như chính sách tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu
VD: Khi cán cân thanh toán ở tình trạng thâm hụt nhà nước cần phải:
+Vận hành chính sách thương mại quốc tế theo hướng tăng xuất khẩu hạn
chế nhập khẩu: giới hạn kinh tế của chính sách bảo trợ.
+Vận hành chính sách tài khóa theo hướng thắt chặt Ngân sách nhà nước:
chính sách thắt lưng buộc bụng.
+Vận hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt cung tiền tệ.
16
1. Cán cân vãng lai
1.1. Cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân
thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu
và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc
năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu).
Cán cân thương mại năm 2010
Biểu đồ cán cân thương mại việt nam năm 2010
Đơn vị: triệu USD
Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt nam năm 2010 có nhiều dấu hiệu khởi
sắc hơn nhiều so với năm 2009. Tính chung cả năm 2010, tổng kim ngạch xuất
khẩu đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009 trong khi tổng kim ngạch
nhập khẩu đạt 84 tỷUSD, tăng 20,1% so với cùng kỳnăm trước. Theođó, cán cân
thương mại năm 2010 mặc dù vẫn thâm hụt khá cao, khoảng 12,4 tỷUSD nhưng
thấp hơn so với mức nhập siêu 12,85 tỷUSD của năm 2009 và chỉbằng 16,9%
tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010.
Về cơ cấu xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu dầu thô sụt giảm khá mạnh
trong khi kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng phi dầu thô lại có mức tăng
trưởng ấn tượng. Lý do của việc sụt giảm kim ngạch xuất khẩu dầu thô là do khả
năng khai thác chưa cao và nhu cầu sử dụng dầu thô cho nhà máy lọc dầu Dung
17
Quất tăng cao. Bên cạnh đó, giá dầu trên thếgiới có xu hướng giảm cũng đã ảnh
hưởng đến khối lượng và giá trịdầu thô xuất khẩu. So với cùng kỳnăm 2009,
khối lượng dầu thô xuất khẩu giảm 40,3% làm cho giá trịxuất khẩu sụt giảm
20,2%. Nhưvậy, có thểthấy rằng, sựtăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu năm
2010 chủyếu dựa vào việc tăng xuất khẩu của các mặt hàng phi dầu thô với giá
trị lên tới 66,69 tỷ USDXét về kim ngạch nhập khẩu, một sốnguyên liệu thô và
đầu vào trung gian cho các ngành sản xuất phục vụxuất khẩu như bông, sợi dệt
và nguyên phụ liệu dệt may giày dép có tốc độtăng khá cao, lần lượt là 69,2%,
USD, tăng 31,2%.
Kim ngạch xuất khẩu năm nay tăng cao chủ yếu nhờ vào các mặt hàng
như: Điện tử, máy
tính và linh kiện,
hàng dệt may, giày dép…
20
Về nhập khẩu hàng hóa, tổng kim ngạch trong năm 2012 đạt 114,3 tỷ
USD, tăng 7% so với năm trước.
Về cơ cấu, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm nay cũng có sự thay đổi
so với năm 2011. Nhóm tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng cao nhất với 93,2%, tăng
so với mức 90,6% của năm 2011. Nhóm hàng tiêu dùng chiếm 6,8%, giảm so với
mức 7,6% của năm 2011 cũng cho thấy cầu tiêu thụ trong nước sụt giảm.
Đặc thù của nền kinh tế Việt Nam gia công nhiều, do vậy tốc độ tăng
trưởng của nhập khẩu thường sẽ đi đôi với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Với tình
hìnhxuất khẩu được dự báo chỉ tăng trưởng 10% cùng sự hồi phục chậm chạp của
cầu trong nước, nhiều khả năng nhập khẩu trong năm 2013 sẽ có mức tăng dưới
10%. Với kịch bản này, Việt Nam hoàn toàn có thể có năm thứ 2 liên tiếp xuất
siêu.
21
Như vậy, năm 2012 là năm đầu tiên Việt Nam xuất siêu (284 triệu USD)
sau gần 20 năm liên tục nhập siêu. Trạng thái xuất siêu trong năm vừa qua là một
tín hiệu đáng mừng, giúp giảm áp lực cho cán cân thanh toán, góp phần kiềm
chế lạm phát. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, xuất siêu trong năm vừa qua chủ
yếu đến từ khu vực đầu tư nước ngoài trong khi khu vực kinh tế trong nước vẫn
nhập siêu gần 12 tỷ USD. Ngoài ra, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn
đến hiện tượng xuất siêu là do suy giảm của sản xuất và tiêu dùng trong nước nên
nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bị tăng thấp chứ không hẳn do xuất khẩu đă tăng
bền vững.
1.2. Cán cân thu nhập và dịch vụ
Phần thu từ đầu tư của Việt Nam chủ yếu là tiền lãi của các khoản tiền gửi
tỷ trọng không đáng kể và thường xu hướng ổn định. Chuyển giao tư nhân của
Việt Nam chủ yếu là chuyển tiền của người Việt Nam sống ở nước ngoài (kiều
hối).
Từ bảng số liệu ta thấy cán cân chuyển giao giai đoạn này luôn có thặng
dư, cũng góp phần đáng kể cải thiện tình trạng thâm hụt của cán cân vãng lai.
Năm 2008, cán cân chuyển giao là 8,1 tỷ USD. Đến năm 2009, tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế sẽ khiến cho đại bộ phận thu
nhập của người lao động trên thế giới giảm xuống, cuộc sống trở nên khó khăn
hơn, trong đó có bộ phận người Việt Nam sống ở nước ngoài, do đókhiến cho
dòng kiều hối chảy về Việt Nam trong những năm gần đây giảm sút, chỉ bằng
80,25% của năm 2008. Năm 2011, cán cân chuyển giao đạt cao nhất trong giai
đoạn 2008-2012 với mức 9,0 tỷ USD, nguyên nhân là do nền kinh tế đang dần
được phục hồi, những việt kiều thất nghiệp do khủng hoảng đã có thể tìm được
các công việc mới dẫn đến dòng kiều hối tăng. Năm 2012, cán cân chuyển giao
ở mức 8,246 tỷ USD, giảm nhẹ so với năm 2011. Qua các năm, ta thấy cán cân
chuyển giao nhìn chung là ổn định, có một số biến động qua các năm do ảnh
hưởng của tình hình kinh tế thế giới và trong nước song không đáng kể.
23
2. Cán cân vốn và tài chính
2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Đvt: tỷ USD)
2009 2010 2011 2012
Cán cân vốn 6,7 5,6 8,6 7,901
FDI ròng 6,9 7,1 10 7,168
FII 2,4 1,0 1,999
Nợ ngắn hạn 0,2 2,8 0,5 1,294
Vốn vay trung dài hạn 4,4 1,0 2,6 3,483
Đầu tư khác -4,8 -7,7 -5,5 -6,043
Năm 2010:
Mặc dù kinh tế thế giới và Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu phục hồi khả
tổng vốn FDI giải ngân đạt 11 tỷ USD, tương đương với năm 2010. Hoạt động
thu hút dòng vốn FDI rất khó khăn trong năm 2011 bởi sự suy yếu của nền kinh tế
toàn cầu. Điều này
thể hiện rõ khi vốn FDI đăng kí cấp mới chỉ tăng 65% trong
khi FDI đăng ký tăng thêm là
165%. Con số trên cho thấy, chỉ có các nhà đầu tư
cũ tiếp tục tin tưởng để tiếp tục đầu tư tại Việt Nam trong khi rất khó để thu hút
thêm các nhà đầu tư mới. Như vậy, các chỉ tiêu thu hút vốn FDI năm 2011 là thấp
so với kế hoạch. Cụ thể, vốn FDI đăng ký năm 2011 chỉ đạt chưa tới 50% kế hoạch
(20 tỷ USD) và FDI giải ngân chỉ gần tương đương mục tiêu 11-12.5 tỷ USD.
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu danh sách thu hút vốn
đầu tư với 435 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 7.1
tỷ USD, chiếm 48.455% tổng giá trị FDI đăng ký cả năm 2011. Lĩnh vực sản xuất
phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 2.53 tỷ
USD, chiếm 17.2% tổng vốn FDI đăng kí năm 2011. Lĩnh vực xây dựng đứng thứ
ba với 140 dự án đầu tư mới, tổng số vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 1.25 tỷ
USD, chiếm 8.5% tổng FDI đăng ký năm 2011. Hông Kông là quốc gia có tổng
vốn đầu tư đăng kí cấp mới và tăng thêm cao nhất trong 53 quốc gia có đầu tư tại
Việt Nam, đạt 3.09 tỷ USD, chiếm 21% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhật Bản
đứng ở vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng kí cấp mới và tăng thêm là 2.43 tỷ
USD, chiếm 16.6% tổng vốn FDI đăng ký(cho vào 2 biểu đồ). Dự báo trong năm
2012, dòng vốn FDI giải ngân đạt 10-11 tỷ USD. Đây là mức giải ngân bình quân
từ năm 2008-2011. Quan điểm của CLS cho rằng triển vọng kinh tế trong năm
2012 vẫn gặp nhiều khó khăn như giai đoạn 2008-2011 nên giữ được mức thu
25