Vai trò của ODA đối với các nước đang và kém phát triển, liên hệ thực tiễn với Việt Nam - Pdf 11

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng cho
mọi hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề
cấp bách. Đầu tư và tăng trưởng vốn là một cặp phạm trù của tăng trưởng kinh tế, để thực
hiện ch i ến l ư ợc phát tr i ển nền kinh tế t r on g gia i đoạn h i ện nay ở nướ c
ta cầ n đến một lượng vốn lớn. Cũng như các nước đang phát triển khác, trong chủ
trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta ,
ngu ồn v ốn hỗ trợ phá t tri ển chính t hứ c (ODA) là một tr on g nhữn g
nguồn vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, vốn ODA không thể
thay thế được vốn trong nước, mà chỉ là “chất xúc tác”, tạo điều kiện để khai thác tối đa
và hiệu quả mọi nguồn vốn phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đấtnước. Hơn nữa, kinh nghiệm thu hút sử dụng vốn từ bên ngoài của nhiều
nước trên thế giới cho thấy không phải lúc nào ODA cũng mang lại hiệu quả tốt. ODA
như con dao hai lưỡi, nếu sử dụng khéo sẽ hỗ trợ thực sự cho công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội. Nếu ngược lại sẽ dẫn tới hậu quả gánh nặng nợ nần khó trả cho nhiều
thế hệ
Có thể nhận thức được rằng ODA đang ngày càng nâng cao vai trỏ trong công cuộc
phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam nói riêng và các nước đang và kém phát triển nói
chung. Vấn đề đặt ra là làm sao khai thác được mặt tốt của ODA và đồng thời cũng hạn
chế được tác động và hậu quả không tốt của nó. Nhóm chúng em quyết định chọn đề
tài: “Vai trò của ODA đối với các nước đang và kém phát triển, liên hệ thực
tiễn với Việt Nam”. Mục đích của đề tài nhằm hệ thống hóa các vấn đề lý luận
và thực tiễn về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đồng thời đánh giá khái quát thực
trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ và phát triển chính thức ở Việt Nam những năm
qua.Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và
sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ở Việt Nam trong những năm tới.
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ODA
I. Nguồn gốc ra đời
Sau đại chiến thế giới thứ II các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận vềsự trợ

Bên nước ngoài cun g cấ p v i ện trợ (mà bên nhận khôn g p hả i
hoà n lạ i ) để bên n hận thự c hiện cá c chư ơ n g trìn h, dự á n theo sự th oả
thuận trước giữa các bên.Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng
• Hỗ trợ kỹ thuật
• Viện trợ bằng hiện vật
1.2 Viện trợ có hoàn lại
Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo một quy mô và mục
đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp. Những điều kiện ưu đãi
thường là:
• Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay)
• Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm)
• Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm)
1.3 Viện trợ hỗn hợp
Bao gồm sự kết hợp của viện trợ hoàn lại và viện trợ không hoàn lại
2. Phân loại theo nguồn cung cấp
2.1 ODA song phương
Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp
định được ký kết giữa hai Chính phủ.
2.2 ODA đa phương
Là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF, WB ) hay tổ chức khu vực
(ADB, EU, ) hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho Chính phủ của một nước
nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP
(Chương trình phát triển Liên hiệp quốc), UNICEF (quĩ nhiđồng Liên Hiệp
quốc) có thể không.
Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu
• Ngân hàng thế giới (WB)
• Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
• Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
3. Phân loại theo mục tiêu sử dụng
3.1 Hỗ trợ cán cân thanh toán

5
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA ODA ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG VÀ KÉM
PHÁT TRIỂN
I. Nhu cầu của các nước đang và kém phát triển đối với nguồn vốn ODA
ODA – Official Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức. Gọi là “hỗ
trợ” vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thếp
với thời hạn cho vay dài. Gọi là “phát triển” vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư
này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước đầu tư. Gọi là chính thức vì bên nhận
vốn vay thường là Nhà nước.Thông qua các thành tố trên về ODA thì các nước đều thấy
được lợi ích của nguồn vốn vay ODA. Đặc biệt là các nước đang và kém phát triển nói
chung, trong đó Việt Nam là nước điển hình.
Trên thực tế hiện nay, Việt Nam cũng đang có nhu cầu lớn trong việc sử dụng vốn
ODA để phát triển cơ sở hạ tầng. Bước vào năn 2012, năm bản lề cho việc hoàn tất kế
hoạch Phát triển KT – XH 5 năm ( 2011-2015), Việt Nam càng cần nhiều hơn nữa sự hỗ
trợ về ODA, trong đó đối tác chính yếu là Nhật Bản trong việc cung cấp nguồn vốn vay
này, nhằm phát triển cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là công
tác xóa đói giảm nghèo.
Hiện nay với các dự án đang giải ngân thực hiện bằng nguồn vốn ODA từ Nhật
Bản như: Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng Cảng quốc tế Cái Mép – Thị Vải, đường cao tốc
Bắc Nam (đoạn TP HCM – Dầu Giây), nhà máy nhiệt điện Ô Môn II, đại lộ Đông Tây TP
HCM, dựa án cải thiện môi trường nước TP HCM,… vẫn đang cần thêm nguồn vốn bổ
sung để hoàn tất. Bên cạnh đó, còn hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng qui mô lớn thiết yếu
như dự án phát triển cơ sở hạ tầng cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (cảng Lạch Huyện),
đường cao tốc Bắc Nam (đoạn Đà Nẵng – Quảng Ngãi), Trung tâm vũ trụ Việt Nam, dự án
cấp nước và xử lý nước thải Đồng Nai,… cũng đang được chính phủ Việt Nam đề nghị
chính phủ Nhât Bản cung cấp vốn ODA.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nguồn vốn vay ODA chủ yếu được dung vào
các dự án phúc lợi và phát triển cộng đồng tại các quốc gia đang và kém phát triển và đây
cũng là nhu cầu cấp thiết nhất tại các quốc gia này. Trong đó lĩnh vực giáo dục là một
trong những ưu tiên hang đầu để các nước đồng ý hỗ trợ cho các nước đang và kém phát

đã đến Indo học tập.
Tại Trung Quốc, từ năm 1990 đến năm 1997, có khoảng 16 dự án gìn giữ môi
trường sử dụng vốn ODA của Nhật Bản. Các khoản vay ODA cam kết cho năm tài chính
2000 có 20 trong số 23 dự án là các dự án nhằm bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, việc hợp
7
tác cũng mở rộng sang lĩnh vực chống ô nhiễm công nghiệp, các biện pháp chống ô nhiễm
nước và không khí, quản lý môi trường, trồng rừng, chống sa mạc hóa…
3. ODA giúp các nước xoá đói, giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc
tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức.Mục tiêu này biểu hiện
tính nhân đạo của ODA. Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng
1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Và nếu như
các nước giàu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi
cảnh đói nghèo. Nhật dành nhiều vốn ODA cho việc xóa đói giảm nghèo tại Indonesia, đất
nước chịu nhiều thiên tai và dịch bệnh.
Tuy nhiên thực tế cho thấy nghèo vẫn còn là vấn đề lớn nhất cần được giải quyết tại
nước này, đặc biệt là trong tình hình khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế và sự bất ổn
trong nước trong những năm gần đây. Tại Trung Quốc, nhờ sử dụng vốn ODA hiệu quả,
dân số nông thôn nghèo khó ở Trung Quốc từ 94,22 triệu người tính đến cuối năm 2000,
giảm xuống còn 26,88 triệu người năm 2010. Tỷ lệ dân số nông thôn nghèo khó trong tổng
số dân nông thôn Trung Quốc từ 10,2% năm 2000, giảm xuống còn 2,8% năm 2010. Trung
Quốc đã thực hiện trước thời hạn mục tiêu giảm 50% dân số nghèo khó theo Mục tiêu phát
triển thiên niên kỷ của LHQ, góp phần quan trọng cho sự nghiệp xóa giảm đói nghèo của
toàn thế giới.
4. ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế
của các nước
Đa phần các nước rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán
cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này. ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có
chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng
bản tệ.

phải nỗ lực cải cách thể chế, tích cực chống thể chế, tích cực chống tham nhũng và nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn quốc gia, đây là những điều khoản tiên quyết để được nhận hỗ
trợ nhiều hơn từ các nhà tài trợ song phương và đa phương.
ODA giúp các nước nghèo cải cách hành chính, kinh tế thông qua các chương
trình viện trợ dự án, làm cho cơ chế quản lý kinh tế những nước này tiếp cận với những
chuẩn mực chung quốc tế; góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và
đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.
Căn cứ vào những kết quả đã đạt được cho đến nay trong quá trình thực hiện
tuyên bố Paris và cam kết Hà Nội (HCS) về Hiệu quả viện trợ, cũng như kế hoạch thực
9
hiện chương trình hành động Accra tại một số Bộ và địa phương có thể rút ra một số bài
học sau đây:
• Những hoạt động hiệu quả viện trợ cụ thể có thể được thực hiện một cách tích cực bởi các
cơ quan và đơn vị thụ hưởng có lợi ích thực tế và rõ ràng mà hoạt động này mang lại. Bộ Y
tế đã có sáng kiến xây dựng các cột mốc thực hiện HSC về hiệu quả viện trợ để gắn với các
hoạt động của Bộ. Tác động của các hoạt động này có thể đóng góp cải thiện dịch vụ y tế
cho xã hội. Đó chính là tác động của hiệu quả viện trợ đối với hiệu quả phát triển trong
lĩnh vực y tế.
• Cam kết chính trị cấp cao là hết sức quan trọng để thúc đẩy thực hiện các hoạt động hiệu
quả viện trợ. Việc Thứ trưởng Bộ Y tế đồng chủ tọa Nhóm quan hệ đối tác Y tế (HPG) là
một ví dụ cụ thể về cam kết chính trị cấp cao đối với việc thực hiện Chương trình nghị sự
về hiệu quả viện trợ. Ví dụ cụ thể về việc thay đổi, cải cách chính sách quản lý kinh tế ảnh
hưởng đến việc nhận được viện trợ nước ngoài.
• Năm 1999, sau khi khảo sát dự án cải tạo hệ thống cấp thoát nước tránh lũ lụt cho các quận
5, quận 6, và quận 11 của TP.HCM, ADB nhận thấy dự án này rất quan trọng nên đã đồng
ý cho vay ưu đãi ODA 70 triệu USD và thỏa thuận với chính quyền thành phố đóng khoản
vay vào tháng 12-2005 và gia hạn thêm 6 tháng nữa trước khi đóng gói thầu. Trên thực tế,
ADB đã đóng gói thầu vào cuối tháng 6-2006. Lý do là sau 7 năm kể từ khi dự án được
triển khai, ADB nhận thấy dự án chỉ được rút ra 6 triệu USD dành cho hoạt động tư vấn.
Tuy chính quyền thành phố có bàn bạc gia hạn thêm vài năm nữa nhưng ADB nhận thấy

móc thiết bị, nguyên liệu, công nghệ cho quá trình sản xuất.
Ngoài ra, ĐTQT còn giúp phát triển các hình thức kinh tế đối ngoại khác như: xuất
khẩu sức lao động (tại chỗ), chuyển giao công nghệ, quan hệ quốc tế và tiền tệ.
III. Hạn chế của ODA
Các nước cung cấp viện trợ (nước giàu) khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi
ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục
tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính
sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu
ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước,
khu vực và trên thế giới). Vì vậy dẫn đến một số hạn chế, bất lợi khi nhận ODA của các
nước đang và kém phát triển
1. ODA mang tính ràng buộc
ODA có thể ràng buộc (phải chi tiêu ở nước cung cấp viện trợ) hoặc có thể ràng
buộc một phần (một phần chi tiêu ở nước cấp viện trợ, phận còn lại chi ở bất kỳ đâu)
11
• Về kinh tế, nước đang và kém phát triển (nước tiếp nhận ODA) phải chấp nhận dỡ bỏ dần
hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu
hàng hoá của nước tài trợ. Nước đang và kém phát triển (nước tiếp nhận ODA) cũng được
yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước
tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép
họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao
• Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước đang và kém phát triển cũng
thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp,
thậm chí là không cần thiết đối với các nước đang và kém phát triển. Ví như các dự án
ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia
nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương
cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia
như vậy trên thị trường lao động thế giới).
• Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu
tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước đang và kém phát triển

Tuy nhiên, tại không ít dự án sử dụng vốn vay ưu đãi ODA, chậm tiến độ còn do một
nguyên nhân khác là sự thờ ơ của các nhà thầu quốc tế.
• Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử
dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm
trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất
lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận
ODA vào tình trạng nợ nần. Vì vậy ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ. Các nước khi
tiếp nhận và sử dụng vốn ODA do tính chất ưu đãi nên ghánh nặng nợ xuất hiện. Một số
nước do sử dụng không hiệu quả ODA, có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau
một thơi gian lại lâm vào vòng nợ nần không có khả năng trả nợ.nần thường. Các khoản
ODA thường giậm chân tại chỗ, gây lãng phí lớn và làm ảnh hưởng xấu tới những nước
đang và kém phát triền vốn là những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.
13
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM
I. Tình hình huy động, tiếp nhận và sử dụng ODA của Việt Nam
1. Tình hình huy động
ODA của các tổ chức quốc tế và các nước phát triển là một trong những kênh cấp
vốn khá quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Vì vậy, việc duy
trì một lượng vốn ổn định hoặc gia tăng theo hướng năm sau cao hơn năm trước cũng như
nâng cao mức độ giải ngân luôn là những mục tiêu quan trọng
1.1 Chiến lược huy động vốn ODA của Việt Nam:
Nh ận thứ c đư ợc rằng OD A là một nguồn lực có ý nghĩa quan
trọn g từ bên ngoài và xuất phát từ xu hướng vận động và những ưu tiên của nhà tài trợ
chính phủ Việt Nam luôn luôn coi trọng và quan tâm đến việc huy động các nguồn ODA.
Trước hết, để duy trì lòng tin đối với các nhà tài trợ nhằm duy trì các nguồn cung
cấp ODA đang khai thác chính phủ Việt Nam đã tạo ra một khung pháp lý cho việc khai
thác và sử dụng nguồn vốn ODA thông qua việc ban hành các chính sách và các
văn bản pháp lý điều tiết các hoạt động liên quan đến ODA.
Cụ thể: Trước năm 1993, việc quản lý và sử dụng ODA được điều tiết bởi từng
quyết định riêng lẻ của Chính phủ đối với từng chương trình, dự án ODA và từng nhà tài

Nhà tài trợ Ưu tiên toàn cầu Ưu tiên Việt Nam
Nhật Hạ tầng kinh tế và dịch vụ Hạ tầng kinh tế và dịch vụ
Đức Phát triển kinh tế và cải thiện
điều kiện sống
Hỗ trợ cải cách kinh tế và phát triển hệ
thống giao thông
Mỹ Tăng trưởng kinh tế, ổn định dân
số và sức khỏe
Cứu trợ nạn nhân chiến tranh và trẻ em
mồ côi
Pháp Phát triển đô thị, giao thông vận
tải, giáo dục, khai thác mỏ
Phát triển nhân lực, giao thông vận tải,
thông tin liên lạc
Canada Cơ sở hạ tầng, phát triển khu vực
tư nhân, môi trường
Hỗ trợ kinh tế và tài chính, hỗ trợ thiết
chế và quản lý
Anh Nhiều lĩnh vực Xóa đói giảm nghèo và vận tải
WB Thúc đẩy phát triển kinh tế và
phúc lợi
Xóa đói giảm nghèo và vận tải
IMF Cân bằng về mậu dịch quốc tế và
ổn định tỷ giá hối đoái
Hỗ trợ cán cân thanh toán và điều chỉnh
cơ cấu
1.3 Huy động vốn ODA qua các thời kì
1.3.1 Giai đoạn trước tháng 10/1993
Trước đây, nước ta nhận được hai nguồn ODA song phương chủ yếu. Một từ các
nước thuộc tổ chức SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế) trong đó chủ yếu là Liên Xô (cũ).

phương hóavới các nhà tài trợ. Trong đó Nhật Bản là quốc gia viện trợ song
phương lớn nhất, chiếm 42,9% và Ngân hàng thế giới là cơ quan viện trợ đa phương
lớn nhất, chiếm hơn 26,6 % trong tổng số vốn ODA cho Việt Nam. Các nhà tài trợ
lớn tiếp theo là Ngân hàng Phát triển Châu Á hơn 14,4%; Pháp hơn 4,4%; Đức hơn
2,9%; Đan Mạch hơn 2,7%; Thụy Điển hơn 2%; Trung Quốc 1,5%; Úc 1,4%; Liên minh
Châu Âu 1,3%.
16
Việt Nam dành được sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng tài trợ quốc tế và các nhà
đầu tư nước ngoài sẽ không quan tâm tới Việt Nam nếu như họ không tin tưởng vào triển
vọng phát triển tốt đẹp ở đất nước ta. Điều quan trọng chính là sự đánh giá cao của cộng
đồng quốc tế về những gì mà Việt Nam đã làm trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi
mới nền kinh tế.
1.3.3 Giai đoạn hiện nay
Những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội và xóa đói giảm nghèo
thời gian qua bên cạnh những nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương của Việt Nam, không
thể không kể đến sự đóng góp và hỗ trợ của các nhà tài trợ. Nguồn vốn này đã được huy
động để hỗ trợ những lĩnh vực ưu tiên phát triển cao nhất của đất nước, đặc biệt là tăng
cường cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, chú trọng tới vấn đề ứng phó với
biến đổi khí hậu toàn cầu.
Các chính sách thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam trong thời gian qua đã phát
huy hiệu quả. Tính đến cuối năm 2010, các nhà tài trợ đã cam kết cung cấp ODA cho Việt
Nam trên 64 tỷ USD. Những năm gần đây, lượng vốn ODA cam kết năm sau đều cao hơn
năm trước, lên tới khoảng 8 tỷ USD mỗi năm, thể hiện sự tin tưởng của các nhà tài trợ vào
khả năng phát triển (và trả nợ) của Việt Nam. Số liệu Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho thấy trong
5 năm 2006-2010, tổng số vốn ODA cam kết cho Việt Nam đạt 31,7 tỷ USD, tăng 21,5%
so với giai đoạn 5 năm trước đó. Các chương trình, dự án tài trợ được ký kết trong thời kỳ
2006-2010 cũng đạt 20,1 tỷ USD, tăng 17,9% so với 5 năm trước. Vốn giải ngân được
trong thời kỳ này đạt 13,8 tỷ USD, tăng 17% so với giai đoạn trước đó.
Năm 2011, trong bối cảnh Việt Nam phải cắt giảm đầu tư công để kiềm chế lạm
phát, nguồn vốn ODA với lãi suất ưu đãi và thời hạn vay kéo dài càng được coi là nguồn

Năm 1993 được lấy làm mốc kể từ ngày Việt Nam bắt đầu tiếp nhận nguồn viện trợ
phát triển chính thức (ODA) từ các nhà tài trợ song phương, đa phương cũng như các tổ
chức phi chính phủ. Đa phần vốn vay ODA ưu đãi đều dùng cho công cuộc xoá đói giảm
nghèo, phát triển nông nghiệp nông thôn, giao thông vận tải và thông tin liên lạc. Hiện nay,
ngân hàng thế giới là cơ quan viện trợ đa phương lớn nhất, Nhật Bản là quốc gia viện trợ
song phương lớn nhất cho Việt Nam. Xét về viện trợ không hoàn lại thì Pháp là lớn nhất và
Đan Mạch là thứ nhì. Ngoài ra theo số liệu đến năm 2008 , hiện có trên 50 Nhà tài trợ song
phương và đa phương đã cung cấp nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt
Nam với mức cam kết năm sau cao hơn năm trước tổng cộng trên 42 tỷ USD.
18
Các ngành nghề được hưởng ODA nhiều nhất ở VN là các ngành thuộc hạ tầng:
Giao thông, đô thị, nước sạch và môi trường; thuộc lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, thuộc
lĩnh vực phát triển con người (y tế/ giáo dục), nông nghiệp (thuỷ sản). Vốn ODA đã có
những đóng góp quan trọng trong xóa đói giảm nghèo và hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn tại Việt Nam. Điển hình là tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ mức 58% vào năm 1983 xuống
còn 37% năm 1998; 28,9% năm 2002 và dưới 10% năm 2004.
Tìình hình cam kết ODA và thực hiện ODA của nước ta từ năm 1993 đến nay
Đơn vị tính: tỷ USD
Năm
Cam
kết
Thực
hiện
% Thực
hiện
% Tăng
vốn CK
1993 1.81 0.41 22.65 0.00
1994 1.94 0.73 37.63 7.18
1995 2.26 0.74 32.74 16.49

đạt được hiệu quả cao và đang có xu hướng sút giảm. Cụ thể, trong suốt quá trình dài tiếp
nhận ODA từ bên ngoài của nước ta, bắt đầu từ năm 1993 đến nay, tỉ lệ vốn được giải ngân
thường xuyên thấp hơn 50%, kể cả trong giai đoạn Việt Nam đang tập trung đổi mới kinh
tế, cần nhiều vốn đầu tư cho việc nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng như hiện nay. Hậu quả
là, tốc độ giải ngân chậm gây ra việc lãng phí, thất thoát vốn gây ra gánh nặng nợ không
cần thiết cho thế hệ sau và gây ảnh hưởng xấu cho khả năng thu hút các nguồn đầu tư quốc
tế khác, khiến Việt Nam trở nên kém hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư.
Như đã nói ở trên, Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam. Từ năm
1992 - 2003, viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam đạt khoảng 8,7 tỉ USD, chiếm
khoảng 30% tổng vốn ODA của cộng đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam, trong đó
viện trợ không hoàn lại khoảng 1,2 tỉ USD. Từ năm 2001, Nhật Bản cắt giảm 10% ngân
sách ODA nhưng vẫn giữ và tăng kim ngạch ODA cho Việt Nam. Năm 2003, mặc dù Nhật
tiếp tục cắt giảm 5,8% vốn ODA cho các nước nói chung, nhưng ODA cho Việt Nam vẫn
là 91,7 tỉ Yen, giảm khoảng 1% so với năm 2002. Từ năm 2002 - 2006, tổng vốn viện trợ
Nhật Bản cho Việt Nam vào khoảng 479 tỉ Yen, tương đương 4,1 tỉ USD. Vào năm 2010
con số đó đã lên đến 1.64 tỉ USD và trong năm nay, năm 2012 Nhật cam kết sẽ tiếp tục
tăng viện trợ ODA cho nước ta, dự định là khoảng 1.9 tỉ USD.
Cơ cấu vốn ODA của Nhật cho Việt Nam
Đơn vị tính: %
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Vốn vay 90.4 82.1 82 87 87.5 88.3 89.9
Viện trợ 4.1 9.4 9.3 5.7 6.3 5.4 4.5
Hợp tác 5.4 8.6 8.7 7.3 6.2 6.3 5.6
Từ bảng số liệu trên ta thấy, vốn vay chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng vốn ODA của
Nhật cho Việt Nam. Xét về phân bổ theo ngành, một tỷ trọng lớn vốn vay ODA được dành
cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông. Vốn dành cho phát triển cơ sở hạ tầng xã hội (như
20
giáo dục, sức khỏe, và vệ sinh công cộng) tương đối thấp. Hơn nữa, viện trợ không hoàn
lại thường cấp cho những ngành có tính sinh lợi thấp (như nông nghiệp).
Tóm lại, quá trình tiếp nhận ODA của các nước dành cho Việt Nam diễn ra liên tục

lắp, 1 gói nạo vét luồng và một gói cung cấp dịch vụ cung cấp thiết bị khai thác cảng.
 Hiệu quả dự án đem lại
Cảng Cái Mép được thiết kế để tiếp nhận tàu container có trọng tải lên đến 80.000
DWT với công suất thông qua đạt 600.000- 700.000 TEU mỗi năm. Chiều dài bến 600m
với tổng diện tích lên tới 48ha. Còn cảng Thị Vải cũng có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng
hợp có tải trọng lên đến 75.000 DWT. Công suất thông qua cảng đạt 1,6- 2 triệutấn/năm.
Tổng diện tích của cảng là 27ha.
Hai bến cảng này của dự án sau khi hoàn thành và đưa vào vận hành khai thác sẽ
nâng cao lượng hàng thông qua tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, đồng thời tạo điều kiện thuận
lợi cho việc giao thương xuất nhập khẩu hàng hóa trong và ngoài nước. Đặc biệt, dự án có
thể góp phần thúc đẩy phát triển các khu kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và cả nước
nói chung, đóng góp một phần quan trọng vào chiến lược phát triển cảng biển trong những
năm tới.
3. Đại lộ Đông Tây
Đại lộ Đông Tây được khởi công vào ngày 31/1/2005 với tổng vốn đầu tư trên 600
triệu đô la . Dự án có chiều dài toàn tuyến 21,89km, đi qua địa bàn các quận 1, 2, 4, 5, 6, 8,
Bình Tân và huyện Bình Chánh, tạo thành một tuyến trục giao thông Đông – Tây.
 Hiệu quả đem lại:
Kết nối hai đầu Đông Bắc - Tây Nam thành phố, cải thiện hệ thống giao thông nội
thị hiện đang quá tải. Có đại lộ Đông – Tây, các phương tiện giao thông ra vào cảng Sài
Gòn để đi và về các tỉnh miền Đông và miền Tây sẽ không phải đi vào trung tâm thành
phố. Đây sẽ là con đường huyết mạch nối với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, tạo
thành mối liên kết chặt chẽ các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Dự án đại lộ Đông Tây tạo tiền đề cho việc giãn dân cư đô thị về phía Đông và phía
Nam thành phố, đặc biệt góp phần quan trọng hình thành trung tâm thương mại mới ở Thủ
Thiêm thuộc quận 2
Từ trước đến nay, mặc dù ở bên kia bờ con sông Sài Gòn, nhưng Thủ Thiêm là một
bán đảo gần như cô lập với TP.HCM, vì giao thông trắc trở. Vì vậy, con đường hầm dài
1,49km của dự án cùng với 5 cây cầu sẽ đưa bán đảo Thủ Thiêm với diện tích 737ha nối
liền với trung tâm thành phố và trở thành trung tâm của thành phố trong tương lai, khi

giao thông nông thôn và điện khí hóa nông thôn, Chương trình thủy lợi Đồng bằng sông
Cửu Long và nhiều dự án phát triển nông thôn tổng hợp kết hợp xóa đói, giảm nghèo
23
khác, đã góp phần hỗ trợ phát triển nông nghiệp và cải thiện một bước quan trọng đời
sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc
tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục.
1.2 Trong lĩnh vực năng lượng điện
Là lĩnh vực sử dụng nguồn vốn ODA lớn với các dự án đã ký trong thời gian qua
đạt trên 7,6 tỷ USD. Nhờ có vốn ODA, ngành Năng lượng điện đã tăng đáng kể công suất
nguồn; phát triển và mở rộng mạng lưới phân phối điện, kể cả lưới điện nông thôn, một số
cơ sở sản xuất công nghiệp được đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã góp phần tạo công ăn
việc làm ở một số địa phương.
Ví dụ: Một số dự án tiêu biểu như Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại (596,9 triệu USD),
Nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận Đa Mi (435 triệu USD), Nhiệt điện Phú Mỹ (507,6 triệu
USD), Dự án Năng lượng Nông thôn 2 (218,5 triệu USD); Lưới điện đồng bằng sông Cửu
Long (88 triệu USD); Nhà ga hành khách Quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất (186 triệu USD).
1.3 Trong lĩnh vực Giao thông vận tải và Bưu chính viễn thông
Vốn ODA đã góp phần nâng cấp và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và cải thiện
chất lượng dịch vụ. Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, cảng biển, đường
hàng không, cơ sở hạ tầng bưu chính, viễn thông đã có những bước phát triển rõ rệt.
Ví dụ: Đề án "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các
khoản vốn vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ thời kỳ 2011 – 2015" mới được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt. Theo đề án, nguồn vốn này sẽ được ưu tiên sử dụng cho xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng, trong đó sẽ dành phát triển các tuyến đường cao tốc, xây dựng
đường bộ ở những vùng kinh tế trọng điểm nơi có thể kết nối thuận lợi giữa các vùng
vùng, miền và quốc tế. Một số dự án tiêu biểu như 2 dự án đường cao tốc đang triển khai là
tuyến đường Cầu Giẽ-Ninh Bình ở phía Bắc và TPHCM - Long Thành - Dầu Giây ở phía
nam, còn 2 dự án khác đang chờ vốn để khởi công là dự án đường cao tốc Đà Nẵng -
Quảng Ngãi, vốn đầu tư 1,4 tỉ đô la và dự án đường cao tốc Bến Lức - Long Thành vốn
đầu tư 1,68 tỉ đô la. Một số dự án khác dự kiến sẽ được đầu tư bằng các nguồn vốn vay

gom, xử lý và thoát nước TP. Vũng Tàu (vốn ODA của Pháp), quy mô 22.000m3/ngày
đêm, vốn đầu tư gần 9.000 tỷ đồng, đã đền bù giải phóng mặt bằng đạt trên 50%, đang xúc
tiến phần móng nhà máy; xây dựng các trạm bơm, lắp đặt hệ thống mạng, chủ trương tập
trung tổng lực trước mùa mưa năm 2012 để cơ bản giải quyết các khu vực đã có mặt bằng
sạch.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status