Trường Đại Học Ngoại Thương
Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Môn Kinh tế phát triển
Đề tài 4: LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010.
Nhóm thực hiện tiểu luận – nhóm 1 lớp A13K45E:
1. Kiều Hải Anh
2. Nguyễn Phương Anh
3. Phan Qúy Dung
4. Tô Lan Dung
5. Ngô Thanh Hương
6. Nguyễn Phương Linh
7. Phạm Thị Phương Linh
8. Phạm Thị Thùy Linh
9. Bùi Thị Thanh Nga
10. Nguyễn Mai Phương
11. Hán Thị Thu Phương
12. Võ Thị Kim Thoa
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………… 7
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
1. Các khái niệm
1.1. Cơ cấu kinh tế………………………………………………………………………9
1.2. Cơ cấu ngành kinh tế………………………………………………………………9
1.3. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế………………………………………………
10
2. Xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.1. Những cơ sở lý thuyết……………………………………………………………10
1.2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế…………………………………12
3. Các mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.1. Mô hình Rostow…………………………………………………………………13
Danh mục bảng biểu
Bảng 1: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam qua các năm 2001-2005.
Bảng 2: Cơ cấu lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo
ngành kinh tế (%)
5
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm 1-K45E đã cố gắng hết sức mình,
tuy vậy, bài tiểu luận sẽ không thể được hoàn thành nếu không có sự hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình cô giáo Lương Thị Ngọc Oanh, giảng viên môn Kinh tế phát
triển - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường đại học Ngoại Thương.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý, nhận xét quý báu của các
bạn trong khối K45E, góp phần vào sự hoàn thiện của bài tiểu luận.
Bài tiểu luận mặc dù đã được thực hiện cẩn thận và công phu, cũng không
thể không tránh khỏi những thiếu sót. Chính vì thế, nhóm 1 – K45E mong nhận
được sự góp ý của cô giáo và các bạn nhằm làm cho bài tiểu luận được hoàn
thiện hơn.
6
LỜI NÓI ĐẦU
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi
nhọn là một vấn đề cơ bản, cốt lõi của tiến trình CNH - HĐH của bất cứ một
quốc gia nào trong đó Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau từ trước đến nay
và tương ứng với mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng, những ưu tiên
riêng trong cơ cấu phát triển kinh tế đất nước. Do cơ cấu kinh tế chịu tác động
đồng thời của những nhân tố bên trong và bên ngoài và liên tục biến động nên
luôn đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu xem xét để có thể có những nhận định và
kết luận đúng đắn, từ đó có những hành động phù hợp trong từng giai đoạn. Đặc
biệt trong giai đoạn từ 2001 đến nay và hướng tới 2010, nước ta đã và đang đối
mặt với những thách thức to lớn trên nhiều phương diện. Cùng với những thách
thức là những cơ hội để nước ta có thể hòa nhập và phát triển mạnh, do vậy càng
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế,
thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa
các ngành với nhau. Thông qua đó cơ cấu ngành kinh tế còn phản ánh phần nào
trình độ phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa, hợp tác sản xuất và sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Hiện nay, khi phân tích cơ cấu ngành của một
quốc gia, người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính : Nông nghiệp
(bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp), Công nghiệp (bao gồm công
nghiệp và xây dựng), Dịch vụ (bao gồm các ngành kinh tế còn lại như : bưu
điện, du lịch …).
9
1.3. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự thay đổi tương quan giữa các ngành
kinh tế theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trường và
điều kiện phát triển.
Qua khái niệm trên có thể thấy rằng, chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ
là sự thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng mỗi ngành mà còn còn bao gồm
sự thay đổi về vai trò của các ngành, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu
ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có
và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp
để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hiện đại và phù hợp hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Đó là quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với
sự phát triển kinh tế, thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực khan
hiếm cũng như lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của quốc gia trong nền
kinh tế toàn cầu. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, linh hoạt giúp cho
việc thu được mức tăng sản xuất xã hội lớn nhất, phân bố hợp lý lực lượng sản
xuất, phát triển các mối quan hệ đối ngoại và mang lại sự phát triển bền vững
cho nền kinh tế.
2. Xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
2.1 Những cơ sở lý thuyết:
khi đó, công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế lao động hơn và tỷ lệ lao
động công nghiệp có xu hướng tăng. Còn ngành dịch vụ được coi là khó thay thế
lao động nhất và có xu hướng càng tăng nhanh khi kinh tế phát triển.
2.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Từ những cơ sở lý thuyết trên có thể rút ra kết luận về tính quy luật của sự
dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Muốn chuyển một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh
tế công nghiệp cần trải qua các bước: chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh
tế công-nông nghiệp để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển.
Những nội dung cụ thể của xu hướng này thể hiện ở chỗ: tỷ trọng nông nghiệp
có xu hướng giảm đi trong khi đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng
tăng kể cả GDP và lao động. Một xu hướng khác lại cho thấy, khi nền kinh tế
bước sang những giai đoạn phát triển cao thì tốc độ tăng của ngành dịch vụ sẽ
ngày càng cao hơn so với tốc độ tăng của ngành công nghiệp. Trong ngành công
12
nghiệp, tỷ trọng các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng vốn cao ngày càng
lớn và gia tăng với tốc độ nhanh, tỷ trọng các ngành sản phẩm có dung lượng
lao động cao sẽ giảm dần. Đối với ngành dịch vụ, theo sự phát triển kinh tế, các
ngành dịch vụ chất luợng cao sẽ có tốc độ phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng
cao. Và ở các nước khác nhau thì xu hướng chuyển dịch như nhau nhưng tốc độ
chuyển dịch khác nhau. Có thể nói những kết luận của E.Engel và A.Fisher đã
gợi ra những nội dung khá ró nét về xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong quá trình phát triển.
3. Các mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
3.1 Mô hình Rostow
Mô hình Rostow thể hiện quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia qua
năm giai đoạn và ứng với mỗi một giai đoạn là một dạng cơ cấu ngành kinh tế
đặc trưng thể hiện bản chất của giai đoạn đó.
Xã hội truyền thống: cơ cấu nông nghiệp thuần tuý.
khác sự tăng dân số không phải là hiện tượng bất lợi hoàn toàn và do đó không
có lao động dư thừa để có thể chuyển sang khu vực khác mà không làm giảm
đầu ra của nông nghiệp. Tuy nhiên, sự tác động của khoa học kỹ thuật cũng
không đủ để làm cho khu vực nông nghiệp thoát khỏi quy luật lợi nhuận biên
giảm dần theo quy mô. Do đó, với một số lượng lao động tăng lên bằng nhau,
tổng sản phẩm của khu vực này ngày càng giảm đi. Trong khi đó để thu hút lao
động từ nông nghiệp sang, khu vực công nghiệp phải trả một mức tiền công lao
14
động cao hơn mức tiền công của khu vực nông nghiệp. Hơn thế nữa, mức tiền
công phải trả của khu vực công nghiệp sẽ tăng dần lên theo xu hướng sử dụng
ngày càng nhiều lao động.
Trong điều kiện trên, để quá trình trao đổi giữa hai khu vực không tạo ra
những bất lợi ngày càng nhiều cho khu vực công nghiệp thì các nhà tân cổ điển
đã cho rằng cần phải đầu tư cho cả hai khu vực ngay từ đầu nhưng tỷ trọng đầu
tư cho nông nghiệp có xu hướng giảm đi và ưu tiên tăng dần tỷ trọng đầu tư cho
khu vực công nghiệp.
3.4 Mô hình hai khu vực của Harry T.Oshima
Nhà kinh tế người Nhật Bản Harry T.Oshima đã đưa ra những quan điểm
mới về mô hình phát triển và mối quan hệ công-nông nghiệp dựa trên những đặc
điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh tế châu Á. Thông qua
mô hình của mình, Oshima phân tích mối quan hệ của hai khu vực trong sự quá
độ về cơ cấu từ nền kinh tế do nông nghiệp chiếm ưu thế sang nền kinh tế công
nghiệp. Với quan điểm hướng tới một nền kinh tế phát triển, Oshima đã đưa ra
hướng quan tâm đầu tư phát triển nền kinh tế theo ba giai đoạn:
Giai đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng: với mục tiêu tạo việc làm cho
thời gian nhàn rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp, qua đó
tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu lương thực cho dân số ngày càng gia tăng,
tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp.
những thành tựu đáng kể, tuy nhiên bên cạnh đó cũng vẫn còn tồn tại một số hạn
chế cần được khắc phục trong thời gian tới.
1.1 Những thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
a. Kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2001-2005
Tốc độ tăng (%)GDP 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 7,51
Bảng 1: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam qua các năm 2001-2005.
(Nguồn: Niên giám thống kê)
GDP bình quân hằng năm nước ta thời kỳ 2001-2005 đạt cao (7,51% năm), GDP
tăng đáng kể từ 6,89 % năm 2001 lên đến 8,43% năm 2005 . Tăng trưởng kinh
tế cao kéo theo thu nhập bình quân đầu người cũng được cải thiện đáng kể, tăng
từ 483 USD năm 2003 lên đến 545 USD năm 2004 và 640 USD năm 2005. Kết
quả này cho thấy Việt Nam đã bước vào thời kỳ tăng trưởng nhanh và ổn định,
17
tiềm lực kinh tế của đất nước đã thay đổi đáng kể. Năm 2008, tốc độ tăng tổng
sản phẩm trong nước tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 và mục tiêu
kế hoạch điều chỉnh là tăng 7%, nhưng trong bối cảnh khủng hoảng, đạt tốc độ
tăng tương đối cao như trên là một nỗ lực lớn.
b. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trên thực tế, đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực: tỷ trọng
trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 24,5% năm 2000 xuống
còn 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6%. Tỷ trọng công nghiệp
trong GDP đã tăng nhanh, năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008
ước tính sẽ tăng đến 41,6%. Cơ cấu GDP tính theo giá thực tế năm 2008 như
sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21, 99% GDP; khu vực công
nghiệp và xây dựng chiếm 39, 91%; khu vực dịch vụ chiếm 38, 1%.
Bên cạnh đó, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế cũng chuyển đổi theo
hướng CNH-HĐH. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày
càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi (bảng
2).
gặp nhiều khó khăn lớn song FDI đăng ký tại Việt Nam vẫn đạt 64,011 tỉ USD.
19
Giải ngân vốn ODA được 2,2 tỉ USD, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn
mức năm 2007 (2,176 tỉ USD).
1.2 Những hạn chế chủ yếu của quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế
a. Sự chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế quốc dân theo chiến lược CNH-HĐH
và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực còn rất chậm, cả về tỷ trọng
lần chất lượng.
Theo quy luật chuyển đổi cơ cấu ngành trong tiến trình CNH-HĐH thì tỷ
trọng trong GDP của công nghiệp và dịch vụ phải tăng lên, nông nghiệp giảm
xuống. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê thì trong giai đoạn 2000-2008, Việt
Nam đã có sự chuyển đổi ngược trong ngành dịch vụ với tốc độ giảm bình quân
mỗi năm là 0,1%. Tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp tăng và nông
nghiệp giảm là phù hợp, nhưng tốc độ chuyển dịch còn chậm.
Bên cạnh đó, chất lượng chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế cũng như
trong nội bộ các ngành chưa cao. Yếu tố hiện đại trong toàn ngành công nghiệp
chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệ vẫn ở mức trung
bình. Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao như
dịch vụ tài chính - tín dụng, dịch vụ tư vấn chậm phát triển. Quá trình chuyển
đổi cơ cấu ngành cũng chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ giữa các ngành công,
nông nghiệp và dịch vụ, và giữa các phân nhánh ngành của nội bộ các ngành đó.
b. Xu hướng cơ cấu ngành nghiêng về hướng nội thay thế nhập khẩu, chưa
triệt để tuân theo chiến lược tăng trưởng hướng vào xuất khẩu.
20
Trong cơ cấu công nghiệp, phát triển các ngành nghiêng về hướng nội, sử
dụng nhiều vốn, ít lao động, không tạo điều kiện nhảy vọt cơ cấu và thực hiện
CNH-HĐH. Các ngành mũi nhọn phát triển, có hàm lượng công nghệ - kỹ thuật
và lao động cao như điện tử và một số ngành chế tạo ô tô, xe máy thì còn non
trẻ, vẫn còn ở trình độ lắp ráp, chưa đủ sức cạnh tranh quốc tế.
Trong cơ cấu nông nghiệp, tuy đã có nhiều sản phẩm hướng vào xuất khẩu
và thực hiện chưa nghiêm ngặt.
Trên thực tế chuyển dịch cơ cấu ngành ở Việt Nam vẫn bị định hướng bởi
quy hoạch mang tính cục bộ, từng ngành, địa phương nhằm phục vụ lợi ích cục
bộ và ngắn hạn, bỏ qua lợi ích quốc gia dài hạn. Kế hoạch tổng thể vì thế mà
thường xuyên bị điều chỉnh, thậm chí là phá vỡ. Kết quả là dù khẩu hiệu đưa ra
là đẩy mạnh chiến lược phát triển hướng về xuất khẩu nhưng tăng trưởng vẫn có
xu hướng nghiêng về phát triển các ngành hướng nội. Việc chậm trễ đưa ra danh
mục sản phẩm mũi nhọn, then chốt của đất nước kéo theo chậm trễ trong việc
lựa chọn các ngành mũi nhọn, hệ quả là sự lúng túng trong việc phân bổ các
nguồn lực, xác định cơ cấu lao động, vốn và lên kế hoạch thu hút vốn đầu tư.
22
2.2 Cơ cấu ngành được nhấn mạnh chuyển đổi mặt lượng, chưa chú trọng
đúng mức chuyển đổi mặt chất.
Dù đã đạt được một số thành tựu nhất định nhưng cơ cấu ngành vẫn thiên
về chuyển đổi theo chiều rộng, thay đổi tỷ trọng trên cơ sở mở rộng vốn đầu tư
và tiêu dùng chứ chưa chú trọng nhiều đến chuyển đổi chiều sâu dựa vào tăng
năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và đổi mới công nghệ. Năng suất lao
động chưa cao, chi phí đầu tư lớn kết hợp với việc tiêu hao nhiều vật chất đầu
vào đã làm giảm đi đáng kể lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với các nước khác
trên thế giới.
Trong khi cơ cấu ngành đạt được những bước tiến nhất định thì phân công
lao động xã hội lại chậm thay đổi. Công nghiệp mở rộng, đầu tư và tăng trưởng
kĩ thuật cao nhưng thu hút lao động không tăng tương ứng, chất lượng lao động
cũng chưa theo kịp tiến bộ công nghệ. Sự mất cân đối này dẫn đến giảm hiệu
quả đầu tư, xa hơn là giảm hiệu quả chuyển đổi cơ cấu ngành
2.3 Chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa chuyển đổi cơ cấu ngành với chuyển đổi
cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế.
Đầu tư, thu hút FDI theo “phong trào” ở các tỉnh thành, địa phương khiến
cho cơ cấu ngành bị phân tán, không đáp ứng được yêu cầu phát triển dài hạn,
mang tầm tổng thể quốc gia.
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2001-2010
1. Phương hướng chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta giai đoạn
2001-2010
Tiếp tục thực hiện tốt những mục tiêu đã đề ra trong giai đoạn 2001-2010,
mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm 2010 – 2020 là phát triển đất nước để
đến 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, nâng cao chất lượng đời
sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, ổn định chính trị - xã hội, an ninh
quốc phòng. Để đạt được những mục tiêu trên, một trong những yêu cầu cấp
thiết là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tiến bộ, phù hợp với tiến
trình phát triển của lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới,
một số phương hướng chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta trong giai đoạn
2001-2010 đã được đề ra như sau:
1.1. Một là, chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế phải đảm bảo ổn định chính trị -
xã hội và phát triển bền vững
Chuyển đổi cơ cấu ngành hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế bền vững,
tức là chuyển đổi cơ cấu ngành phải góp phần gắn kết tăng trưởng kinh tế nhanh
với tiến bộ công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định
chính trị xã hội, đảm bảo an ninh xã hội. Mặt khác, phát triển bền vững và ổn
định chính trị- xã hội sẽ thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành hiệu quả hơn.
25