Một số lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế - Pdf 81

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Chơng I
Một số vấn đề Lý luận chung về chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế và sự cần thiết phải
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
I. Một số vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế
1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế
1.1. Cơ cấu kinh tế
Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm
cơ cấu kinh tế. Các cách tiếp cận này thờng bắt đầu từ khái niệm "cơ cấu". Là
một phạm trù triết học, khái niệm cơ cấu đợc sử dụng để biểu thị cấu trúc bên
trong, tỷ lệ và mối quan hệ của các bộ phận hợp thành của một hệ thống. Cơ cấu
đợc hiểu nh là tập hợp các mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của
một hệ thống nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của hệ thống, do đó khi nghiên cứu
cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể
hiểu: cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền
kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tơng tác qua
lại cả về số lợng và chất lợng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã
hội cụ thể, chúng vận động hớng vào những mục tiêu nhất định. Cơ cấu kinh tế
bao gồm cơ cấu giữa các lĩnh vực sản xuất, trao đổi tiêu dùng; giữa các ngành
kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, thơng mại... Mỗi vùng, mỗi ngành lại có cơ
cấu kinh tế riêng của mình tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế xã
hội cụ thể.
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng:cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ
là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với
nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện kinh
tế xã hội nhất định, cả về số lợng và chất lợng phù hợp với các mục tiêu đợc xác
định của nền kinh tế.

của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội ngày càng ở trình độ cao
hơn, phạm vi ngày mở rộng hơn. Khi tiến bộ khoa học và kỹ thuật công nghệ tác
động làm cho lực lợng sản xuất và cấu trúc của nó có sự biến đổi về chất, khi đó
sẽ tạo điều kiện cho con ngời ý thức để thực hiện có hiệu quả chiến lợc phát triển
đồng bộ, hợp lý trong quá trình tái sản xuất xã hội ở từng giai đoạn lịch sử cụ
thể.
- Cơ cấu kinh tế vận động theo hớng ngày càng tăng cờng mở rộng sự hợp tác,
phân công lao động trong nớc và quốc tế. Trong nền kinh tế thị trờng, sự vận
động khách quan của cơ cấu kinh tế theo hớng mở rộng sự hợp tác và phân công
lao động diễn ra không chỉ trong phạm vi mỗi ngành, mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi
quỗc gia mà còn mở rộng ra các nớc trong khu vực và trên thế giới. Do đó, mỗi
quốc gia muốn phát triển nhành cần xác định đợc cơ cấu kinh tế trên cơ sở xác

2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

định đợc lợi thế của mình gắn với thị trờng trong nớc và quốc tế, nhằm tạo ra cơ
cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá nền kinh tế quốc dân.
Dựa trên sự nhìn nhận dới các khía cạnh khác nhau của quá trình phân
công lao động xã hội và tái sản xuất xã hội mà chúng ta có thể phân chia cơ cấu
kinh tế theo các loại khác nhau. Mỗi loại cơ cấu đều thể hiện tính chất cũng nh
đặc trng chủ yếu riêng có của nó, ở đây chúng ta có thể phân loại cơ cấu kinh tế
nh sau:
- Xét trên sự phân công lao động theo ngành kinh tế ta có cơ cấu ngành kinh
tế
- Xét sự phân công lao động theo vùng kinh tế ta có cơ cấu vùng kinh tế.
- Xét về quan hệ sở hữu ta có cơ cấu thành phần kinh tế
- Xét về trình độ kỹ thuật ta có cơ cấu kinh tế kỹ thuật
- Cơ cấu tái sản xuất
......

ợc nâng cao chất lợng và hiệu quả: Làm cho sản phẩm trở nên đa dạng về mẫu
mã, phong phú về khẩu vị, vận chuyển và dự trữ đợc thuận lợi. Ngợc lại, nông
nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, thực phẩm cho công
nhân lao động, cho mở rộng hoạt động sản xuất công nghiệp và nó còn là thị tr-
ờng lớn tiêu thụ sản phẩm công nghiệp.
Công nghiệp và nông nghiệp đợc gọi là các ngành sản xuất vật chất, thực
hiện chức năng sản xuất trong quá trình tái sản xuất. Để những sản phẩm của hai
ngành này đi vào tiêu dùng cho sản xuất hoặc tiêu dùng cho đời sống phải trải
qua phân phối và trao đổi. Những chức năng này do hoạt động dịch vụ đảm nhận.
Các hoạt động dịch vụ nh thơng mại, vận tải, thông tin, ngân hàng, bảo hiểm...
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất đợc liên tục. Không có sản phẩm hàng hoá thì
không có cơ sở cho các hoạt động dịch vụ tồn tại. Sản xuất hàng hoá càng phát
triển, đời sống nhân dân càng nâng cao thì nhu cầu dịch vụ càng lớn. Nh vậy, sự
tác động qua lại giữa các ngành tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế.
Mối quan hệ giữa các ngành không chỉ biểu hiện về mặt định tính mà còn
đợc tính toán thông qua tỉ lệ giữa các ngành, thờng đợc gọi là cơ cấu ngành. Nh
vậy, cơ cấu ngành là mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh tế,
mối quan hệ này bao gồm cả số lợng và chất lợng, chúng thờng xuyên biến động
và hớng vào những mục tiêu nhất định. Cơ cấu ngành là bộ phận rất quan trọng
trong cơ cấu kinh tế, sự biến động của nó có ý nghiã quyết định đến sự biến động
của nền kinh tế.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
2.1. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự thay đổi một cách có mục tiêu số
lợng ngành kinh tế quốc dân và mối quan hệ của các ngành đó với nhau trên cơ
sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn, cùng với việc áp dụng đồng bộ
các giải pháp cần thiết để chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng
thái kia hợp lý và có hiệu quả hơn.

4

vực thành thị gồm các hoạt động của các ngành công nghiệp, thơng mại và các
ngành dịch vụ khác. Hai khu vực này có mối quan hệ khăng khít với nhau, trong
quá trình sản xuất và giao lu buôn bán hai khu vực có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau, cùng hỗ trợ nhau phát triển.
- Số lợng dân c và mật độ dân c. Các phơng hớng chuyển dịch đa ra nhằm
khắc phục tình trạng di dân từ khu vực nông thôn thành thị ngày càng gia tăng

5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

nhng đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế và mối quan hệ phát triển giữa hai
khu vực.
- Năng suất lao động trong nông nghiệp đợc nâng cao đủ để cung cấp
những sản phẩm thiết yếu cho cả những ngời lao động trong nông nghiệp cũng
nh ngời lao động thuộc các ngành nghề sản xuất khác.
Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp truyền
thống chi phối các hoạt động kinh tế nhng sự phát triển của nông nghiệp truyền
thống này cha đủ sức mạnh để thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, trong
xã hội cha có sự chuyển biến lớn. Nhng đến giai đoạn phát triển tiếp theo của
nền kinh tế có sự chuyển dịch từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế
công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ. Sự phát triển của ngành công nghiệp thúc
đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Sự phát
triển của ngành nông nghiệp và công nghiệp tất yếu dẫn đến sự phát triển của
ngành dịch vụ. Do nông nghiệp phát triển cho nên mc sống của ngời dân ở
khuvực nông thôn luôn đợc cải thiện theo hớng đi lên. Vì vậy, tình trạng di dân
từ nông thôn ra thành thị ngày càng có xu hớng giảm. Sự phát triển của ngành
công nghiệp và ngành dịch vụ không ngừng ảnh hởng tới việc nâng cao năng
suất lao động trong nông nghiệp, do vậy sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là
động lực thúc đẩy sự tăng trởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Lý thuyết về các giai đoan phát triển của Rostow

công nghiệp mới đợc hình thành cho nên cần nhiều lao động dẫn đến sự di
chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Khoa học và
kỹ thuật kết hợp với lao động thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp, công
nghiệp phát triển tạo tiền đề cho nông nghiệp phát triển. Nền kinh tế có sự
chuyển dịch từ thời kỳ nông nghiệp thuần tuý sang thời kỳ công - nông nghiệp
phát triển.
Lý thuyết cân đối liên ngành
Theo lý thuyết này, tất cả các ngành kinh tế có liên quan chặt chẽ đến
nhau trong chu trình "đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia". Do vậy,
muốn phát triển nền kinh tế phải phát triển cân đối các ngành.
Lý thuyết cơ cấu ngành không cân đối hay "cực tăng tr ởng"
Lý thuyết này cho rằng nên duy trì một cơ cấu không cân đối vì nó phát
huy đợc các nguồn lực, khai thác đợc các ngành có khả năng làm đầu tàu cho
mục tiêu tăng trởng kinh tế và có sức lan toả rộng khắp cho các ngành khác. Mặt
khác, nó khắc phục đợc tình trạng khan hiếm nguồn lực khi chỉ phải tập trung
nguồn lực cho một số ngành nhất định.
2.3. Các nhân tố ảnh hởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chịu tác động thờng xuyên
của nhiều yếu tố khác nhau. Những yếu tố này đợc phân chia thành ba nhóm yếu
tố cơ bản: Nhóm các yếu tố tự nhiên, nhóm các yếu tố xã hội, nhóm các yêú tố
chính trị. Việc nghiên cứu tác động của các nhóm yếu tố này đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm xác định đúng hớng chuyển dịch thích
hợp cho các ngành kinh tế trong quá trình tăng trởng và phát triển.
* Nhóm các yếu tố tự nhiên

7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, dân số và tài nguyên. Nhóm yếu tố
này quyết định lợi thế nguồn lực tự nhiên của từng địa phơng, chúng có mối

- Nhân tố khoa học- công nghệ: Tác động mạnh tới quá trình hình thành
và phát triển của cơ cấu ngảnh kinh tế. Chính sự phát triển của khoa học công
nghệ đã hình thành nên các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, không

8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chỉ dừng lại ở đó,khoa học công nghệ là điều kiện thúc đẩy sự phát triển các
ngành kinh tế theo chiều sâu, các hình thức đa dạng hoá và chuyên môn hoá
trong sản xuất.
- Nhân tố sức lao động: Là một trong những nhân tô tác động tới quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói riêng và cơ cấu kinh tế nói chung. Hiện
nay, do đặc điểm của các nớc cũng nh của Thanh Hoá là: dân số trẻ, đông, nguồn
lao động dồi dào và sản xuất chủ yếu là nông nghiệp mang tính thời vụ, Do đó,
giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và Thanh Hoá
nói riêng phải tranh thủ lợi thế về lao động, giá nhân công rẻ để phát triển các
ngành có khả năng thu hút nhiều lao động nh: ngành dệt may, da giầy... tạo tiền
đề cho sự phát triển trong thời kỳ tới.
- Cơ sở hạ tầng: đây là nhân tố thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế nếu nh có đợc một cơ sở hạ tầng vững chắc, thuận tiện, có khả năng thu hút đ-
ợc vốn đầu t t bên ngoài. Nhng sẽ là ngợc lại, nó sẽ kìm hãm sự chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế nếu nh tỉnh không có đợc một cơ sở hạ tầng nh vậy.
* Nhóm các yếu tố chính trị
Các yếu tố này chủ yếu nh định hớng mục tiêu phát triển của đất nớc, các
chính sách quản lý kinh tế- xã hội của đất nớc, các chính sách, giải pháp thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tê của tỉnh. Các nhân tố này ảnh hởng trực tiếp đến
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh.
Các định hớng mục tiêu phát triển cũng nh các chính sách quản lý vĩ mô
nền kinh tế quốc dân của Nhà nớc có vai trò quan trọng đến việc hình thành cơ
cấu ngành kinh tế. Nếu nh các mục tiêu phát triển và các chính sách quản lý đề

minh. Mô hình này chỉ đạt tới khi nền kinh tế tạo ra đợc thu nhập quốc dân và
tích luỹ lớn trên cơ sở sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có đợc thu nhập
thuần lớn và lợi nhuận cao. Chỉ trên cơ sở đó mới có khả năng tăng trởng và phát
triển kinh tế, mới có khả năng đáp ứng các yêu cầu về xã hội và sự phát triển văn
minh con ngời.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải đảm bảo nền kinh tế hoạt động
với hiệu quả cao nhất. Để giải quyết tốt vấn đề này,điều quan trọng là cần phải
giải quyết tôt ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế đó là sản xuất cái gì? Sản xuất
nh thế nào? sản xuất cho ai?
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải đảm bảo phát triển quy mô sản
xuất hợp lý và từng bớc áp dụng phơng pháp công nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân.
Phát triển sản xuất kinh doanh với quy mô hợp lý sẽ đem lại hiệu quả kinh
tế cao. Tính hợp lý của quy mô sản xuất kinh doanh thể hiện ở việc kết hợp chặt
chẽ giữa quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ. Trong đó lấy quy mô vừa và
nhỏ làm chính. Lựa chọn quy mô theo hớng đó sẽ cho phép khai thác tối đa khả
năng của các thành phần kinh tế trong từng ngành kinh tế nhất định. Nhng vấn
đề cốt yếu là cần phải lựa chọn một cách hợp lý quy mô nào thuộc khu vực nào
quản lý, có nh vậy sự phát triển của nền kinh tế mới trở nên đồng bộ và nhịp
nhàng.

10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải đi đôi với việc khai thác và phát
huy sức mạnh tổng hợp cuả các thành phần kinh tế trong từng ngành kinh tế nhất
định.
Kinh tế nhà nớc có vai trò gơng mẫu trong việc thực hiện các chính sách
của Chính phủ, giúp Chính phủ trong quá trình thi hành chức năng quản lý vĩ mô
đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kinh tế nhà nớc có nhiệm vụ đảm bảo

11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

* Hớng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế có thể xét thấy trên nhiều góc độ. Với việc xem xét
các yếu tố đầu vào là cơ cấu lao động, cơ câu kỹ thuật. Thông thờng cơ cấu đầu
ra tính theo giá trị sản xuất đợc sử dụng để phản ánh cơ cấu ngành. Sự chuyển
dịch cơ cấu này mang tính quy luật, đó là khi thu nhập đầu ngời tăng lên thì tỷ
trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm sẽ giảm xuống, còn tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ sẽ tăng lên. Khi đạt đến trình độ nhất định, tỷ trọng của dịch vụ sẽ
tăng nhanh hơn tỷ trọng của công nghiệp.
Xu hớng chuyển dịch cơ cấu ngành đã đợc hai nhà kinh tế học là E. Engel
và A. Fisher nghiên cứu khi đề cập đến sự thay đổi về nhu cầu chi tiêu và sự thay
đổi cơ cấu lao động. Ngay từ cuối thế kỷ 19, E.Engel đã nhận thấy rằng, khi thu
nhập của các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho lơng thực, thực phẩm giảm đi
nên tất yếu dẫn đến tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi
khi thu nhập tăng lên. Quy luật E.Engel đợc nghiên cứu cho sự tiêu dùng lơng
thực, thực phẩm, nhng có ý nghĩa quan trọng trong việc định hớng nghiên cứu
tiêu dùng cho các loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế gọi lơng thực, thực phẩm
là sản phẩm thiết yếu, hàng công nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền và việc
cung cấp dịch vụ là hàng tiêu dùng cao cấp. Thực tế phát triển của các nớc đã chỉ
ra xu hớng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng
lâu bền tăng phù hợp với tỗc độ tăng thu nhập, còn chi tiêu cho hàng tiêu dùng
cao cấp có tốc độ tăng nhanh hơn.
Cùng với quy luật tiêu thụ sản phẩm E.Engel, quy luật tăng năng suất lao
động của A.Fisher cũng làm rõ xu hớng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế qua
việc phân bố lao động. Trong quá trình phát triển, việc tăng cờng sử dụng máy
móc và các phơng thức canh tác mới đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao
động. Kết quả là, để đảm bảo lơng thực, thực phẩm cho xã hội sẽ không cần đến
lực lợng lao động nh cũ, có nghĩa là tỷ lệ lao động trong nông nghiệp sẽ giảm.

Chỉ tiêu này cho biết vốn đầu t vào mỗi ngành chiếm bao nhiêu % trong
tổng số vốn đầu t ban đầu.
Cả 3 chỉ tiêu trên nếu có xu hớng đều tăng đối với ngành i là ngành công
nghiệp và dịch vụ thì đó là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hớng tích cực.
II.Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh
Thanh Hoá.
1. Những đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hoá
ảnh hởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
1.1. Điều kiện tự nhiên.
Tỉnh Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 11.168,3 km, chiếm 3,3% tổng
diện tích tự nhiên cả nớc. Dân số toàn tỉnh 3,54 triệu ngời, chiếm tỷ lệ 4,54%
tổng dân số cả nớc, có các dân tộc Kinh, Mờng, Thái, Tày, H'Mông, Dao, Thổ.
Mật độ dân số 310 ngời/km . Về tổ chức hành chính, toàn tỉnh có 27 huyện, thị,
thành phố bao gồm: 24 huuyện, 1 thành phố cấp 3 là thành phố Thanh Hoá, 2 thị
xã Bỉm Sơn và Sầm Sơn.

13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Vị trí địa lý.
Thanh Hoá nằm trong khu vực ảnh hởng của những tác động từ khu vực
trọng điểm Bắc Bộ và những tác động từ vùng trọng điểm Trung Bộ và Nam Bộ.
Phía Tây của tỉnh giáp phần Đông - Bắc Lào, đây là vùng đất hoang sơ cha đợc
khai thác. Đặc biệt phía Đông là dải bờ biển dai 102 km có nhiều tiềm năng để
phát triển kinh tế biển. Đặc biệt có cảng nớc sâu Nghi Sơn cho phép tàu trên 10
vạn tấn vào.
Địa hình
Địa hình Thanh Hoá tơng đối phức tạp, thấp dần từ Đông sang Tây, chia
thành 3 khu vực rõ rệt:
- Vùng núi, trung du: Gắn liền với hệ núi cao Tây Bắc và hệ núi Trờng Sơn

-Nhóm đất đỏ vàng: diện tích 647.768 ha, chiếm 58% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh, thích hợp cho phát triển cây công nghiệ dài ngày, cây ăn quả và cây
lâm nghiệp.
- Nhóm đất phù sa bồi tụ: phân bố chủ yếu ở các huyện vùng đồng bằng.
Diện tích 144.729 ha, thích hợp cho trồng lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày.
- Nhóm đất mặn và đất cát: phân bố tập trung ở các vùng ven biển
Ngoài ra còn có các loại nhóm đất khác nh đất đỏ vàng trên núi, đất bạc
màu, đất xói mòn... Hiện taị đã sử dụng vào sản xuất nông nghiệp đạt 22%, diện
tích có rừng đạt 30% đất tự nhiên toàn tỉnh. Ngoài ra còn có các loại bãi bồi đã
ổn định diện tích, bãi bồi đang lấn biển...
Tóm lại, tài nguyên đất của Thanh Hoá đất đa dạng thuận lợi cho việc phát
triển nông nghiệp toàn diện, đa dạng hoá sinh học cả nông lâm ng nghiệp.
Tài nguyên rừng
Đến nay rừng Thanh Hoắ có 405.715 ha trong đó rừng tự nhiên chiếm
322.003 ha, rừng trồng chiếm 830710 ha.
Rừng thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng, có hệ thực vật phong phú đa
dạng về họ loài, nh lát, pmu, luồng nứa, vầu... Động vật rừng có các loài nh voi,
bò tót, nai, hoẵng... các loài bò sát nh trăn, rắn, rùa, tê tê...
Nhìn chung rừng giàu và trung bình hiện nay còn phân bố trên các dãy núi
cao ở biên giới Việt Lào ở độ cao trên 700-1200m. Các vùng rừng ở độ cao dới
700m gần trục đờng giao thông và khu dân c thờng là rừng nghèo vì bị khai thác
quá mức. Đáng chú ý là vùng tre nứa phân bố ở các huyện miền núi thấp là
nguồn nguyên liệu giấy, bao bì, các tông...cần đợc khai thác sử dụng.
Trữ lợng rừng còn khá lớn, song điều kiện khai thác ngày càng khó khăn,
kết hợp với chủ trơng đóng cửa rừng của Nhà nớc nên khả năng khai thác trong
những năm tới sẽ bị hạn chế, chủ yếu là rừng trồng (khoảng 100.000m gỗ
tròn/năm).
Tài nguyên nớc
Thanh Hoá có hệ thống sông suối dày đặc với 4 hệ thống sông chính là
sông Mã, sông Bạng, sông Yên và sông Hoạt với tổng lợng nớc trữ trung bình

Khoáng sản Thanh Hoá rất đa dạng, có tởi 42 loại, nhiều loại có trữ lợng
lớn so với cả nớc nh đá vôi làm xi măng, đá ốp lát, sét, crôm...
Là tỉnh giàu về nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và nguyên liệu làm
gốm sứ, thuỷ tinh, nh đá vôi làm xi măng370 triệu tấn, sét làm xi măng 80 triệu
tấn, đá ốp lát 2-3 tỷ m , cao lanh 1 triệu m ...
Khoáng sản kim loại: bao gồm cả kim loại đen và kim loại màu, quý. Kim
loại đen có quặng sắt mangan, quặng ti tan trữ lợng khoảng 80 nghìn tấn. Quặng
crôm trữ lợng 21,898 triệu tấn và là duy nhất của cả nớc. Kim loại màu có các
loại nh thiếc, đồng, vàng sa khoáng, vàng gốc trữ lợng trên 10 tấn nhng cha đợc
khảo sát tìm kiếm đúng mức.

16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Khoáng sản dùng làm nguyên liệu cho phân bón, trợ dung, hoá chất và các
nguyên liệu khác nh: phốtphorit trữ lợng 1 triệu tấn, chất lợng trung bình.
Secpentin, trữ lợng 15 triệu tấn, chất lợng khá tốt. Đôlômit trữ lợng 4,7 triệu tấn.
Khoáng sản than: trữ lợng than đá thấp, chỉ phát triển đợc những mỏ nhỏ,
chất lợng thấp, non. Trữ lợng than bùn lớn, có trên 2 triệu tấn phân bố rãi rác
trong tỉnh, tơng lai là nguyên liệu chính sản xuất phân bón vi sinh.
Tài nguyên du lịch.
Khá phong phú và đa dạng, có thể đáp ứng nhu cầu cho khách du lịch trên
nhiều mặt: thiên nhiên kỳ thú, nhiều danh lam thắng cảnh có từ miền núi đến
đồng bằng, ven biển và hải đảo. Đó là những bảo tàng thiên nhiên ít nơi có đợc
nh vờn quốc gia Bến En, sân chim Tiến Nông, Sầm Sơn...
Về lịch sử, đây là miền đất có nền văn hoá Đông Sơn, có nhiều danh nhân
văn hoá đã để lại nhiều dấu ấn và di tích. Có di tích đã đợc Chính Phủ phê duyệt
cho trùng tu tôn tạo ở quy mô cấp quốc gia nh khu di tích Lam kinh, Hàm rồng-
Nam Ngạn...
Sự gắn bó giữa thiên nhiên kỳ thú với các địa danh và di tích lịch sử, các

của tỉnh.
Trình độ phát triển kinh tế
Cùng với nhịp độ phát triển chung cả nớc, từ nam 1990 đến nay Thanh
Hoá đã có những thay đổi đáng kể trên các lĩnh vc phát triển kinh tế. Nhìn nhận
chung cho thấy: Giai đoạn 1986-1990 tốc độ tăng trởng kinh tế chậm, sản xuất
không ổn định, có năm giảm sút. Giai đoạn 1991-1995 có tốc độ tăng trởng khá,
tăng trởng GDP bình quân năm đạt 7%. Từ năm 1996 đến nay mặc dù gặp không
ít khó khăn nhng tốc độ tăng trởng bình quân vẫn đạt mức 7,3%. Các ngành dịch
vụ tăng nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất. Kinh tế quốc doanh tăng chủ yếu
ở các doanh nghiệp có quy mô lớn. Quốc doanh địa phơng phát triển không vững
chắc, nhiều cơ sở sản xuất không ổn định. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
quy mô nhỏ bé, cơ sở vật chất nghèo nàn, sản phẩm làm ra chất lợng thấp kém,
không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trờng truy đợc khuyến khích nhng còn
chậm. Đây là vấn đề chủ yếu sự tăng trởng kinh tế cao của Thanh Hoá.
Kết cấu hạ tầng
Mạng lới giao thông: Thanh Hoá là tỉnh có hệ thống giao thông tơng đối
đa dạng, bao gồm: giao thông đờng bộ, đờng sắt, đờng thuỷ.
- Đờng bộ: toàn tỉnh có 7725 km đờng bộ bao gồm đờng quốc lộ và đờng
tỉnh lộ, đờng lên liên xã, mật độ đờng bộ là 69km/100 km và2,21 km/1000 dân.
Mật độ phân bố không đồng đều, cha đáp ứng đợc nhu cầu cho phát triển.
- Đờng thuỷ: mạng lới giao thông đờng thuỷ rất thuận tiện cho việc vận
chuyển giao lu hàng hoá. Toàn tỉnh có 4 hệ thống sông với chiều dài 1.768km, 6
cửa lạch lớn nhỏ và 102 km đờng bờ biển. Hiện tại Thanh Hoá cha có cảng lớn
chỉ có 1 cảng sông 300.000 tấn/năm.
Ngoài ra Thanh Hoá còn có 82 km đờng sắt và quốc lộ 1A dài 98 km
xuyên suốt chiều dài của tỉnh là điều kiện thuận lợi cho giao thông buôn bán.
Mạng lới điện: đã phát triển khá, trên địa bàn có 1 trạm 220kv Ba Chè với
công suất 125MVA, 4trạm 110 kv đang vận hành với tổng công suất 160 MVA,

18

là nguồn động lực cho sự phát triển.
- Thanh Hoá là một trong số ít tỉnh trong cả nớc đạt sản lợng lơng thực
trên 1 triệu tấn/năm. Căn bản tự túc lơng thực bớc đầu có lơng thực hàng hoá là
điều kiện thuận lợi để tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát huy hiệu quả trong kinh tế thị trờng.
Những khó khăn và thách thức

19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, song mức độ còn thấp. Nền
kinh tế của tỉnh còn nặng tính "thuần nông". Trong khi tỷ trọng nông nghiệp
trong GDP của cả nớc năm 2000 là 24,3% thì Thanh Hoá là 39,9%, dân số nông
thôn theo số liệu điều tra dân số ngày 1/4/1999 cả nớc chiếm 76,5% còn Thanh
Hoá là 90,8%.
- Điểm xuất phát kinh tế thấp, thể hiện ở mức bình quân GDPđầu ngời đến
năm 2000 mới đạt 292 USD trong khi bình quân chung của cả nớc là 390USD.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm,
cha có tích luỹ đáng kể từ nội bộ kinh tế. Tổng thu mới đáp ứng đợc trên 50%
chi, còn lại trung ơng hỗ trợ.
- Là tỉnh có dân số đông, tốc độ tăng tự nhiên còn cao đang là áp lực lớn
trong khi nền kinh tế phát triển chậm. Đội ngũ lao động có tay nghề cao còn quá
ít, lao động thiều và không có việc làm ngày càng cao, đời sống nhân dân tuy có
bớc cải thiện song số hộ nghèo, đói vẫn còn cao trong tỉnh.
- Kết cấu hạ tầng xã hội thấp kém, đặc biệt là vùng miền núi phức tạp,
chia cắt mạnh, hệ thống điện đờng trờng trạm còn gặp nhiều khó khăn, đến nay
vẫn còn 2 huyện miền núi cha có điện quốc gia.
- Nằm tiếp giáp với vùng trọng điểm Bắc bộ là thách thức lớn đối với
Thanh Hoá về khả năng cạnh tranh, gọi vốn đầu t, tìm kiếm thị trờng. Yếu tố
thông tin kinh tế còn hạn chế so với các trung tâm kinh tế lớn nh Hà Nội, Hải

Ngành dịch vụ có sự phát triển, chiếm tỷ trọng 33,2% năm 2002 trong
tổng sản phẩm quốc dân trong tỉnh. Nhng chủ yếu vẫn là buôn bán thơng mại
(trao đổi hàng hoá dịch vụ), các dịch vụ sản xuất thực hiện vai trò thúc đẩy các
ngành khác cha phát triển, các dịch vụ thơng mại khác đều cha phát triển mạnh,
du lịch đã hình thành các khu nghỉ dỡng nhng cha thật sự thu hút đợc nhiều
khách tham quan.
Trớc những thực trạng đó đặt ra yêu cầu là thúc đẩy hơn nữa quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Thanh Hoá theo hớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá thì mới có thể phát triển đợc, thoát khỏi vòng nghèo nàn lạc hậu,
tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các tỉnh khác và so với cả nớc, và đặc biệt
là đối với tiềm năng phong phú, Thanh Hoá cũng cần phải xác định cho mình
một cơ cấu ngành hợp lý để khai thác tối đa và hiệu quả các tiềm năng, tài
nguyên thiên nhiên của tỉnh.
III. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số
địa phơng.
Chuyển dịch cơ cấu ngành theo hớng tích cực có ý nghĩa to lớn đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế của một quốc gia nói chung và của từng địa phơng nói
riêng. Từ những năm đổi mới nền kinh tế, Đảng và Nhà nớc ta đã đề cao vấn đề
này. Trong những năm qua từng địa phơng cùng với cả nớc ra sức thực hiện, từng
địa phơng đã đạt đợc kết quả nhất định, nhng bên cạnh đó vẫn còn những yếu
kém cùng song song và tồn tại đây là một điều không thể tránh khỏi đối với một
quốc gia nào, hay địa phơng nào. Để từ đó rút ra đợc kinh nghiệm cho mình và
cho các tỉnh bạn.

21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Với số lợng tài liệu có hạn, đề tài xin nêu ra một số kinh nghiệm từ việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của 2 tỉnh đó là tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Nam,
đây là 2 tỉnh mà có điều kiện tự nhiên gần với tỉnh Thanh Hoá nhất.


22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

trong nền kinh tế. Cùng với đó là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã có sự
tiến bộ đáng kể.
Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm tơng đối trong giai đoạn 1995- 2000 từ
52,645 xuống còn 40,3%. Tuy nhiên với tỷ trọng này thì nông nghiệp vẫn chiếm
tỷ trọng khá cao, gây cản trở cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tỷ trọng ngành công nghiệp mới chỉ chiếm 24,3% vào năm 2000. Nổi bật
lên trong công nghiệp là sự tăng nhanh của công nghiệp chế biến lơng thực, thực
phẩm, công nghiệp vật liệu xây dựng.
Tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 35,4%. Tuy nhiên sự thay đổi của ngành
này trong giai đoạn vừa qua là không đáng kể nhng không có nghĩa là ngành này
không tăng trởng mà nó còn tăng trởng mạnh qua các năm nhất là các hoạt động
thơng mại và các dịch vụ vận tải, bu chính viễn thông, khách sạn nhà hàng...
Trong những năm qua các tỉnh đều có sự chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế một cách hiệu quả, đạt đợc kết quả nh vậy là do các tỉnh đã xác
định đợc các hớng đi cho các ngành kinh tế:
- Đối với nông nghiệp: phát triển nông nghiệp trong khả năng cho phép
đảm bảo an toàn lơng thực và tạo cơ sở cho ngành công nghiệp chế biến, phát
triển nông nghiệp theo hớng sản xuất hàng hóa.
- Đối với công nghiệp: đầu t vào những ngành nghề có hiệu quả kinh tế
cao, tạo giá trị lớn, có thị trờng tiêu thụ và đặc biệt là thị trờng xuất khẩu. Ưu
tiên những ngành nghề khai thác đợc tiềm năng tài nguyên, tạo nguyên liệu và
sản phẩm phong phú, giải quyết đợc nhiều việc làm cho dân.
- Đối với dịch vụ: phát triển mạnh ngành thơng mại, đẩy nhanh hoạt động
xuất khẩu của tỉnh, phát triển du lịch trên cơ sở khai thác đồng thời phát triển các
loại hình dịch vụ khác nh tài chính ngân hàng, thông tin viễn thông, giao thông
vận tải...

về số lợng xí nghiệp và quy mô chỉ chiếm 29,8% GDP, còn dịch vụ chiếm 33,2%
so với tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh.
Trong những năm qua, tốc độ tăng trởng bình quân về nông nghiệp và
công nghiệp của tỉnh Thanh Hoá đã từng bớc đuổi kịp mức trung bình của cả n-

24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

ớc, nhng cha đạt tốc độ cao và đồng bộ. Do vậy nó hạn chế đến sự phát triển
nhanh của ngành dịch vụ. Cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có bớc chuyển dịch theo xu
hớng chung của cả nớc là giảm tỷ trọng GDP nông lâm ng, tăng tỷ trọng GDP
công nghiệp, xây dựng và dịch vụ song tốc độ chuyển đổi còn chậm, cơ cấu cha
thật hợp lý.
3. Đầu t phát triển.
Tổng vốn đầu t trên địa bàn tỉnh thời kỳ 1996-2000 là 14.620 tỉ đồng. Đến
năm 2002 tổng đầu t trên địa bàn là 35.000 tỷ đồng. Cơ cấu huy động vốn đầu t
có những thay đổi đáng kể, tỷ lệ huy động đầu t ngoài ngân sách ngày một tăng.
Cùng với sự thay đổi của cơ cấu huy động vốn là sự thay đổi của cơ cấu
vốn đầu t. Trớc kia, khi mới bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đầu t chủ yếu
tập trung cho các công trình sản xuất chiếm 75%; tập trung cho cơ sơ hạ tầng
chiếm 74% tổng vốn đầu t; thời kỳ 1996-2000 tập trung cho sản xuất công
nghiệp chiếm tỉ lệ 61%, đầu t một tỷ lệ thoả đáng cho cơ sở hạ tầng.Cơ cấu đầu
t chuyển dịch theo hớng tích cực, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội, tạo thêm năng lực sản xuất mới đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống của
nhân dân. Sự thay đổi cơ cấu vốn đầu t đã bớc đầu góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, đa kinh tế của tỉnh Thanh Hóa dần dần hoà nhập với xu thế
chung của cả nớc và các tỉnh . Công tác đầu t nhìn chung đúng hớng, nhiều công
trình đã phát huy đợc hiệu quả, thu hồi đợc vốnvà đã có đóng góp cho ngân sách.
Tuy vậy bên cạnh đó còn những tồn tại yếu kém: tổng vốn đầu t cha đạt với mục
tiêu đề ra, tiến độ thi công các công trình còn chậm nên hiệu quả cha cao, một số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status