Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2006-2010 và cũng đề xuất một số biện pháp - Pdf 26

Lời mở đầu
Vận động là điều kiện tất yếu cho sự phát triển. Một nền kinh tế cũng thế
muốn phát triển cũng cần vận động. Một trong những biểu hiện của sự vận
động này chính là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó quan trọng nhất là
chuyển dịch ngành kinh tế . Khi Việt Nam càng hội nhập vào nền kinh tế
chung của thế giới thì nền kinh tế đó trở thành một bộ phận trong nền kinh tế
chung. Hơn nữa nền kinh tế thế giới luôn luôn biến động không ngừng, và
bản thân nền kinh tế Việt Nam cũng luôn biến động và tất yếu những biến
động này sẽ tạo nên những thời cơ cũng như những thách thức mới cho mỗi
nền kinh tế trong một giai đoạn cụ thể. Chính vì thế, việc định hướng phát
triển các ngành trong nền kinh tế chung, tức là sự chuyển dịch cơ cấu
ngànhm, phù hợp với những điều kiện thực tiễn mới là điều kiện sống còn
cho sự phát triển chung cho nền kinh tế đó.
Tiểu luận này nhằm mục đích nghiên cứu, thực hiện tốt Bkế hoạch chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2006-2010. Một kế hoạch phát triển hợp lý
phải là một kế hoạch được xây dựng phù hợp với tình hình trong nước và
trên thế giới, do đó bên cạnh việc phân tích những thành tựu cũng như
những hạn chế của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế kế hoạch 5 gần đây
nhất (năm 2001-2005), tôi cũng tập trung phân tích tình hình phát triển
chung của nền kinh tế thế giới. Qua những phân tích này, tôi đã mạnh dạn
đưa ra những nhận định về Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
thời kỳ 2006-2010 và cũng đề xuất một số biện pháp.
Trong quá trình hoàn thành tiểu luận tôi đã nhận được rất nhiều những góp ý
và bổ sung từ thầy cô và bạn bè, trong đó tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn chân
1
thành đến GS.TS. Vũ Thị Ngọc Phùng đã giúp đỡ tôi rất nhiều không chỉ về
tài liệu mà còn những lời góp ý, hướng dẫn tận tình.
Dù rất cố gắng chỉnh sửa xong tiểu luận này không thể tránh được những
thiếu xót. Kính mong nhận được sự thông cảm và góp ý của thầy cô và bạn
bè.
2

trước kế hoạch là tiền đề khoa học đảm bảo tính khả thi của kế hoạch, còn
dự báo sau kế hoạch giúp cho quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch đạt hiệu
quả cao nhất.
2. Chiến lược phát triển
2.1. Khái niệm
Về cơ bản, chiến lược phát triển là hệ thống các phân tích, đánh giá và
lựa chọn về quan điểm, mục tiêu tổng quát định hướng phát triển các lĩnh
vực chủ yếu của đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản trong đó bao gồm
các chính sách về cơ cấu, cơ chế vận hành hệ thống kinh tế-xã hội nhằm mục
tiêu đặt ra trong một khoảng thời gian dài.
Như vậy, mục tiêu xây dựng các chiến lược phát triển là đạt tới mục
tiêu phát triển kinh tế-xã hội nhất định và tìm ra hướng đi tối ưu cho quá
trình phát triển. Xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển là một yêu
cầu bức thiết đăt ra và có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi quốc gia trong
nền kinh tế thị trường với không gian kinh tế được mở rộng đến mức không
phân biệt biên giới. Điều này xuất phát từ:
Thứ nhất, xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển sẽ giúp
cho các nhà lãnh đạo phải xem xét và xác định đất nước sẽ đi theo hướng
nào và khi nào thì đạt tới một điểm cụ thể nhất định.
4
Thư hai, trong điều kiện nền thị trường kinh tế mở, môi trường mà
các quốc gia gặp phải luôn biến đổi nhanh chóng, những biến đổi này
thường tạo ra các cơ hội trong tương lai, tận dụng các cơ hội đó và giảm bớt
các nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường.
Thứ ba, có xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển, các nhà
lãnh đạo và quản lý mới đưa ra các quyết định tác nghiệp phù hợp.
2.2. Chức năng
Chức năng chủ yếu của chiến lược là đinh hướng, vạch ra các
đường nét chủ yếu cho sự phát triển của đất nước trong thời gian dài, vì vậy
chiến lược sẽ mang tính chất định tính là chủ yếu (như các quan điểm,

hiện các chương trình quốc gia giải quyết các vấn đề bức xúc về kinh tế-xã
hội là một phương pháp kế hoạch hoá được áp dụng ở nhiều nước trên thế
giới. Ở Việt Nam cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, phương
pháp kế hoạch hoá quản lý theo các chương trình quốc gia cũng được áp
dụng rộng rãi từ năm 1992.
Kế hoạch hoá và quản lý theo các chương trình phát triển là đưa ra các
chương trình mục tiêu để xử lý những vấn đề nổi cộm về kinh tế-xã hội của
đất nước. Đây là một phương pháp quản lý vừa mang tính đặc biệt lại vừa
mang tính nghệ thuật cao. Tính đặc biệt thể hiện ở chỗ nó vưa khác hẳn các
phương pháp khác về cơ chế, chính sách, cách điều hành, kiểm tra, đánh giá
kết quả, đối tượng hưởng thụ… Còn tính nghệ thuật là phải làm sao chọn
6
đúng đối tượng các vấn đề cần xử lý bằng các chương trình. Tính nghệ thuật
này còn được thể hiện trong khả năng lồng ghép các chương trình trong tổ
chức chỉ đạo.
4.2.Chức năng
Cụ thể hoá kế hoạch, đưa nhiệm vụ kế hoạch vào thực tiễn cuộc sống.
Có thể gọi đây là một phương pháp tiến hành của kế hoạch. Với chức năng
này, một chương trình quốc gia phải đảm bảo các mục tiêu cụ thể, các chỉ
tiêu biện pháp và các giải pháp thực hiện.
Xử lý các vấn đề gay cấn nhất về kinh tế-xã hội của một quốc gia. Các
vấn đề cần phải xây dựng và quản lý bằng chương trình quốc gia là các vấn
đề bức xúc, các khâu đột phá, các mắt xích quan trọng của nền kinh tế.
Hiện nay theo xu hướng đổi mới kế hoạch hoá, các chương trình dự án
phát triển lại được xem như là cơ sở để thực hiện phân bố nguồn lực như:
Vốn đầu tư, ngân sách… thay cho hình thức phân bổ theo đối tượng như
trước kia.
5. Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội
5.1.Vị trí trung tâm của KH 5 năm
Nghị quyết đại hội 9 Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “xây dựng

5.2. Phương pháp xây dựng kế hoạch 5 năm
Phương pháp xây dựng kế hoạch 5 năm áp dụng ở Việt Nam và các
nước đang phát triển là xây dựng kế hoạch 5 năm theo giai đoạn cố định, ví
8
dụ như kế hoạch 5 năm 1996-2000; kế hoạch 5 năm 2001-2005… Các chỉ
tiêu kế hoạch được tính cho cả thời kỳ 5 năm, bình quân năm hoặc con số
năm cuối. Đây là phương pháp truyền thống dễ xây dựng, dễ quản lý, dễ
đánh giá. Hiện nay, các nước như Cộng hoà Pháp, Nhật Bản hay Đức đã áp
dụng thành công phương pháp xây dựng kế hoạch 5 năm theo hình thái
“cuốn chiếu”. Kế hoạch 5 năm sẽ xác định các mục tiêu tổng thể, bao gồm
kế hoạch chính thức 1 năm đầu, kế hoạch thực hiện dự tính cho năm chính
thức 1 năm đầu, kế hoạch thực hiện dự tính cho năm kế thứ hai và dự báo
cho các năm tiếp theo. Mức độ chi tiết, cụ thể và chính xác của nội dung kế
hoạch của nhưng năm sau phụ thuộc vào số lượng và độ tin cậy của thông
tin có được. Kế hoạch 5 năm sẽ được xem xét vào thời gian cuối mỗi năm.
Khi cơ quan kế hoạch Quốc gia hoàn tất năm đầu kế hoạch, họ bổ sung cho
những dự trù, những mục tiêu, những dự án cho năm tiếp theo. Ví dụ, kế
hoạch 2001-2005 sẽ được xem xét vào cuối năm 2001 và đề ra kế hoạch mới
cho thời kỳ 2002-2006, trên thực tế kế hoạch được đổi mới vào thời gian
cuối mỗi năm nhưng số năm vẫn giữ nguyên. Kế hoạch 5 năm được xây
dựng theo phương pháp cuốn chiếu sẽ khắc phục được tính nhất thời, tuỳ
tiện và thậm chí trái ngược nhau trong các mục tiêu cũng như trong các
chính sách kinh tế. Phương pháp này đã được đưa ra trong nhiều đề án đổi
mới kế hoạch hoá ở Việt Nam.
II. Sự cần thiết phải thực hiện kế hoạch 5 năm chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế
1. Nhiệm vụ của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.1.Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố
có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không

phạm vi cả nước. Đồng thời, việc phân bổ sản xuất trên pham vi vùng lãnh
thổ một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển
các ngành và các thành phần kinh tế trên vùng lãnh thổ.
1.2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế lại có thể xét thấy trên nhiều góc độ. Với việc
xem xét các các yếu tố đầu vào là cơ cấu lao động, cơ cấu kỹ thuật. Thông
thường cơ cấu đầu ra tính theo giá trị sản xuất được sử dụng để phản ánh cơ
cấu ngành. Sự chuyển dịch cơ cấu này mang tính quy luật, đó là khi thu nhập
đầu người tăng lên thì tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm sẽ giảm
xuống, còn tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn tỷ trọng của
công nghiệp.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành đã được hai nhà kinh tế học là E.
Engel và A. Fisher ngiên cứu khi đề cập đến sự thay đổi về nhu cầu chỉ tiêu
và sự thay đổi cơ cấu lao động. Ngay từ cuối thế kỷ 19, E. Engel đã nhận
thấy rằng, khi thu nhập các gia đình tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho lương thực,
thực phẩm giảm đi nên tất yếu dẫn đến tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ
nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên. Quy luật E.Engel được nghiên
cứu cho sự tiêu dùng lương thực, thực phẩm, nhưng có ý nghĩa quan trọng
trong việc nghiên cứu tiêu dùng cho các loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế
gọi lương thực, thực phẩm là sản phẩm thiết yếu, hàng công nghiệp là sản
phẩm tiêu dùng lâu bền và việc cung cấp dịch vụ là hàng tiêu dùng cao cấp.
Thực tế phát triển của các nước đã chỉ ra xu hướng chung là khi thu nhập
11
tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với tốc độ
tăng thu nhập, còn chi tiêu cho hàng tiêu dùng cao cấp có tốc độ tăng nhanh
hơn.
Cùng với quy luật tiêu thụ sản phẩm E.Engel, quy luật tăng năng suất
lao động của A.Fisher cũng làm rõ xu hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
qua việc phân bố lao động. Trong quá trình phát triển, việc tăng cường sử
dụng máy móc và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện nâng cao

Để xác định cơ cấu ngành trong kỳ kế hoạch, phương pháp được sử dụng
phổ biến là dựa vào mô hình Vào-Ra. Mô hình này nghiên cứu những mối
liên hệ tỉ lệ cân đối đặc trưng cho việc phân phối sản phẩm giữa các ngành
và mối quan hệ giữa khối lượng sản phẩm và chi phí để sản xuất ra những
sản phẩm này.
Việc phân phối sản phẩm trong nền kinh tế được đặc trưng bằng quan hệ
tỉ lệ:
Xi = Xi1 +Xi2 +...+Xin + Yi (i = 1,2,...,n) (1)
trong đó:
Xi: tổng sản phẩm của ngành i
Xij: khối lượng sản phẩm ngành i tiêu dùng cho sản phẩm ngành j với tư
cách là chi phí trung gian.
Yi: khối lượng sản phẩm cuối cùng của ngành i.
13
Tổng số ij phản ánh khối lượng sản phẩm ngành i sẽ tiếp tục chế biến
trong các ngành sản xuất, lượng sản phẩm này được gọi là sản phẩm trung
gian. Sản phẩm cuối cùng (Yi) là những sản phẩm được đưa ra khỏi sản xuất
hàng năm được dùng để bù đắp hao mòn, sử dụng cho tiêu dùng, tích luỹ và
khối lượng chênh lệch xuất-nhập khẩu.
Khi xây dựng mô hình Vào-Ra người ta thường giả thiết rằng khối lượng
sản phẩm của ngành i tiêu dùng cho ngành j tỉ lệ thuận với khối lượng sản
phẩm của ngành j:
Xị = aij Xj (i,j = 1,2,...,n) (2)
trong đó aij là hao phí trực tiếp sản phẩm ngành i để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm ngành j - được gọi là hệ số hao phí trực tiếp. Hợp nhất phương
trình (1) và (2) sẽ có:
Xi = aij Xj + Yi (i=1,2,...,n)
Như vậy, để xác định cơ cấu ngành của nền kinh tế người ta thường dựa
vào kế hoạch của sản phẩm cuối cùng của các ngành với hệ số hao phí trực
tiếp phù hợp với trình độ kỹ thuật của từng ngành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status