Website: Email : Tel : 0918.775.368
lời nói đầu
Một đất nớc muốn phát triển đuổi kịp và trở thành nớc tiên tiến trên thế
giới thì không chỉ dựa vào một ngành nghề nào cả mà phải phát triển đồng đều
tất cả các ngành nhng phải biết lấy những ngành mà nớc mình có lợi thế so
sánh để phát triển làm mũi nhọn hay nói cách khác đất nớc phải có một cơ cấu
ngành phù hợp với từng giai đoạn phát triển của mình. Việt Nam ta là nớc
đang phát triển và đang từng bớc hoà nhập với nền kinh tế thế giới để đuổi kịp
với nền kinh tế của những nớc phát triển trên thế giới. Việc chính phủ Mỹ
chính thức quan hệ ngoại giao với nớc ta ( 1995), mới đây là việc nớc ta
gia nhập AFTA (2003) đặc biệt là chúng ta đang hớng tới năm 2006 sẽ xoá bỏ
hàng rào thuế quan đối với các nớc ASEAN và xa hơn nữa là giai nhập tổ chức
thơng mại thế giới WTO điều đó tạo cho nền kinh tế nớc ta nhiều cơ hội nhng
cũng không ít thách thức không nhỏ. Vậy nền kinh tế, cơ cấu kinh tế của
chúng ta phải thay đổi thế nào cho phù hợp với tình hình mới để đa nớc ta đến
năm 2020 trở thành nớc công nghiệp nh đại hội IX của Đảng đề ra. Đó là lý
do em chọn đề tài "Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một
số nớc trong khu vực và vận dụng vào Việt Nam".
Nội dung của đề tài gồm 4 phần:
Phần I: Một số lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân
Phần II: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Phần III: Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số n-
ớc trong khu vực
Phần IV: Các giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nớc ta theo
hớng hội nhập với nền kinh tế khu vực thế giới.
Trong quá trình làm không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong có
đợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn. Em xin chân thành
cảm ơn.
Phần I
một số lý luận về chuyển dịch cơ cấu
của cơ cấu kinh tế đó là các vấn đề:
- Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của
một quốc gia.
- Số lợng, tỷ trọng của các nhóm ngành và của các yếu tố cấu thành hệ
thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nơcs.
- Các mối quan hệ tơng tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố
hớng vào các mục tiêu đã xác định.
- Sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian luôn bao hàm
trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng nh sự thay đổi của các kiểu
cơ cấu. Cho nên dù xem xét dới bất kỳ góc độ nào cũng có thể thấy rằng. Cơ
cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về chất lợng, số l-
ợng giữa các bộ phận cơ cấu thành đó trong mộtthời gian và trong những điều
kiện kinh tế - xã hội nhất định.
1.3. Phân loại cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế còn là một phạm trù trừu tợng, muốn nắm vững bản chất
của cơ cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể củanền kinh tế quốc
dân. Mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trng của các bộ phận và các
cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc
dân. Nền kinh tế quốc dân dới giác độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại cơ
cấu khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá trình phát triển
kinh tế. Những loại cơcấu kinh tế cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển
của nền kinh tế quốc dân bao gồm:
a. Cơ cấu ngành kinh tế:
Là tổ hợp các ngành hợp thành các tơng quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên
hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản ánh
phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ
3
phát triển của lực lợng sản xuất. Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia
ngời ta thờng phân tích theo 3 nhóm ngành chính:
nớc, kinh tế tập thể, kinh tế t nhân, kinh tế hỗn hợp. Tỷ lệ giữa các thành phần
kinh tế này thờng không giống nhau. Điều này tạo ra tính đặc thù trong chiến
lợc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng nh trong mỗi giai đoạn phát triển
của từng quốc gia.
Trên đây là ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế trong đó cơ cấu
ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả cơ cấu ngành và thành phần kinh tế
chỉ có thể đợc chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên
phạm vi cả nớc. Mặt khác việc phân bố không gian vùng một cách hợp lý có ý
nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên
vùng, lãnh thổ kinh tế.
Ngoài ba cơ cấu cơ bản trên còn có các cơ cấu sau:
d. Cơ cấu xuất nhập khẩu:
Đó là loại cơ cấu phản ánh mối quan hệ về số lợng và chất lợng giữa
xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của nền kinh tế. Ngày nay xu hớng
hội nhập để phát triển, không còn tồn tại nền kinh tế tự cung tự cấp trong
phạm vi một quốc gia mà mọi nền kinh tế đều có sự trao đổi lẫn nhau để phát
huy cao nhất lợi thế so sánh, cũng nh khắc phục những điểm yếu trong quá
trình phát triển. Bởi vậy cơ cấu xuất nhập khẩu đợc xem nh là tất yếu khách
quan của mọi nền kinh tế. Theo tiến trình chung có tính quy luật mà mỗi nớc
phải trải qua trong quá trình chuyển đổi loại cơ cấu này là đi từ nhập khẩu
chiếm tỷ trọng cao, tiếp theo sản xuất thay thế nhập khẩu, cuối cùng là phát
triển nền kinh tế theo định lợng xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao.
e. Cơ cấu công nghệ sản xuất:
Phản ánh số lợng và tỷ lệ các loại công nghệ đang và sẽ sử dụng trong
nền kinh tế. Một nền kinh tế thờng sử dụng những loại công nghệ khác nhau:
công nghệ kém hiện đại, công nghệ hiện đại, công nghệ tiên tiến, công nghệ
sử dụng nhiều lao động, sử dụng ít lao động, công nghệ sạch, công nghệ gây ô
nhiễm. Vai trò, vị trí quan hệ tơng hỗ và tỷ lệ giữa các loại công nghệ nói trên
5
trong quá trình phát triển nền kinh tế tạo thành cơ cấu công nghệ của nền kinh
cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trờng
phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây không phải đơn thuần là
sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về chất và lợng trong nội bộ cơ cấu.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên nền tảng cơ sở một cơ cấu hiện
có do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu
hoặc cha phù hợp hơn. Nh vậy, chuyển dịch cơ cấu thực chất là sự điều chỉnh
cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu kinh tế, đó là cơ cấu ngành, cơ cấu
thành phần kinh tế, cơ cấu vùng - lãnh thổ kinh tế. Nhằm hớng sự phát triển
của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho
từng thời kỳ phát triển.
2.2. Một số mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nh chúng ta biết chuyển đổi cơ cấu là một đặt trng vốn có của quá trình
phát triển kinh tế dài hạn. Việc lựa chọn mô hình chuyển dịch cơ cấu quyết
định sự thành công hay thất bại của sự phát triển kinh tế. Sau đây chúng ta sẽ
đi vào xem xét một số mô hình chuyển dịch cơ cấu trên thế giới.
a. Chuyển dịch cơ cấu theo hớng kết hợ khai thác nguồn lực trong nớc
với mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài.
Mô hình chung nhất của hầu hết các nớc trên thế giới là một nền kinh tế
năng động công nghiệp hoá cùng với sự phát triển cân đối giã các ngành; phát
triển hệ thống tài chính tăng cờng các mối quan hệ tài chính nhằm khuyến
khích đạt tỷ lệ đầu t cao. Vai trò quan trọng của chính phủ trong việc hoạch
định chính sách điều chỉnh, có khả năng đối phó với những biến động bất th-
ờng của trong nớc cũng nh ngời nớc.
* Thứ nhất: Công nghiệp hoá cùng với sự phát triển cân đối các ngành:
Đây là loại yếu tố có lợi đặc biệt so với phơng chuyên môn hoá trong
sản xuất nông nghịêp. Mô hình này không ủng hộ chiến lợc phát triển một
ngành duy nhất. Nó khẳng định đầu t là yếu tố quan trọng quyết định phát
triển. Nó có khả năng ứng phó linh hoạt với những biến động bất thờng và dễ
hoà nhập với quốc tế.
7
8
- Kiềm chế sự chuyên quyền độc đoán của Nhà nớc trong hành động và
bài trừ tham nhũng. Nhà nớc muốn làm việc có hiệu quả cao thì cần phải thiết
lập nuôi dỡng những cơ chế mang lại cho cơ quan nhà nớc sự mềm dẻo và sự
hoạt động vì lợi ích chung, kiềm chế hành vi độc đoán tham nhũng trong
những cách c xử với doanh nghiệp và ngời dân.
- Đa nhà nớc tới gần dân hơn. Tạo điều kiện dễ dàng cho các hoạt động
tập thể quốc tế nhằm phát triển nhu cầu hợp tác quốc tế, mở rộng thị trờng, thu
hút đầu t đa nền kinh tế phát triển.
- Nhà nớc trong mô hình này phải có chiến lợc của chính sách điều
chỉnh. Trớc hết là sự lựa chọn chính sách quyết định sự cân đối giữa chính
sách đóng cửa và mở cửa tạo ra sự thay đổi rõ rệt đối với chính quá trình
chuyển đổi về cơ cấu. Tiếp theo là sự xem xét môi trờng và chính sách, thể
hiện vai trò quan trọng của nhà nớc trong quá trình thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu
kinh tế.
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình hớng ngoại.
Mô hình hớng ngoại là mô hình với chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh
tế phát triển theo hớng phát triển nhiều hơn, có thể thúc đẩy thơng mại và các
luồng t bản đổ vào khuyến khích lợi nhuận giữa việc sản xuất cho thị trờng
trong nớc hay thị trong ngoài nớc tạo ra khả năng sinh lãi cao hơn trong việc
sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Có hai loại hình của chiến lợc kinh tế mở cửa đó
là:
* Thứ nhất: Tạo ra các khuyến khíc về giá cả một cách tích cực theo
hớng có lợi cho xuất khẩu.
* Thứ hai: Tạo ra sự trung lập thích hợp về giá cả giữa sản xuất cho thị
trờng trong nớc và ngoài nớc. Tức là chuyển các khuyến khích theo hớng có
lợi cho sự mở cửa.
Đặc điểm của chính sách hớng ngoại ban đầu ở các nớc đang phát triển
là hớng vào xuất khẩu những hàng nông sản truyền thống và thực hiện chính
sách thuế nhập khẩu vừa phải để tăng nguồn thu cho chính phủ, nhằm nâng
tính tự lực quốc gia, đặc biệt là tăng cờng sản xuất lơng thực, các nông sản,
khoáng sản mà chúng không đợc nhập khẩu. Các biểu thuế nhập khẩu, quốc tế
10
nhập khẩu lơng thực đợc thực hiện, chính phủ cũng đánh thuế vào hàng xuất
khẩu nhằm nâng cao nguồn thu.
Các chính trên sẽ đem tới sự mở rộng cho các ngành nông nghiệp nhỏ
với sự trợ cấp thích hợp, dần dần khuyến khích nền công nghiệp hoá thay thế
nhập khẩu. Bên cạnh chính sách hỗ trợ chung họ còn thực hiện hỗ trợ có lựa
chọn cho nền công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu.
Mô hình này thựcc hiện núp sau bức tờng bảo hộ mậu dịch do đó tạo ra
sức ép về cạnh tranh hơn, làm cho cơ cấu sản xuất ít nhạy bén hơn, gây sự trì
trệ cho phát triển kinh tế, tăng trởng GDP.
2.3. Những quan niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Nh chúng ta đã nêu phần trên về cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế chúng ta thấy sức ép và nhu cầu của thị trơngf, yêu cầu phát
triển kinh tế đòi hỏi phải thay thế, thay đổi cơ cấu ngành của nền kinh tế gọi là
chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác, hợp lý hơn và
hiệu quả hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành phải đợc coi là điểm trọng yếu một nội
dung cơ bản lâu dài trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nếu xác
định phơng hớng, giải pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế xã
hội cao trong sự phát triển. Ngợc lại sẽ phải trả giá đặt cho những sự phát triển
về sau.
Trong sự phát triển thời đại ngày nay, sự thay đổi nhanh chóng của nhu
cầu thị trờng và tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ ở các nớc đều đặt ra vấn
đề chuyển dịch cơ cấu ngành. Riêng ở các nớc đang phát triển, chuyển dịch cơ
cấu ngành phải luôn luôn gắn liền với công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tạo lập
cơ cấu ngành phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Yêu
cầu đặt ra là phải định vị đợc một cơ cấu các ngành kinh tế, xác định hợp lý
các ngành mũi nhọn, trong điểm cho phù hợp với mỗi giai đoạn công nghiệp
b. Những định hớng chiến lợc và vai trò quản lý kinh tế vĩ mô của nhà
nớc cũng có vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu ngành. Trong
trờng hợp phó mặc cho sự tác động của thị trờng thì sự hình thành cơ cấu
ngành mong muốn sẽ quá chậm, nhất là những ngành bao gồm các doanh
12
nghiệp hoạt động không vì mục đích lợi nhuận hoặc mức lãi thấp. Ngợc lại,
những định hớng thiếu cơ sở khách quan hoặc sự can thiệp quá sâu của nhà n-
ớc trong quá trình thực hiện đều dẫn tới chỗ hình thành cơ cấu ngành kém
hiệu quả.
c. Tác động của tiến bộ khoa học nghệ có ảnh hởng nhiều mặt đến cơ
cấu ngành của nền kinh tế. ở nớc ta, yếu tố này đã thúc đẩy sự ra đời và phát
triển một số ngành nh dầu khí, điện tử, làm thay đổi quy mô, tốc độ phát triển
của các ngành chế biến, dịch vụ.
d. Các nguồnn lựcc và lợi thế so sánh của đất nớc là cơ sở để hình thành
và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế một cách bền vững, có hiệu quả.
13
Phần II
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hớng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
1. Những vấn đề chung về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1. Quan niệm về công nghiệp hoá
Để thủ tiêu tình trạng nghèo nàn lạc hậu, khai thác tối u các nguồn lực
và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trởng nhanh, ổn định, giải quyết cơ bản các
vấn đề kinh tế xã hội bức bách, mỗi quốc gia phải xác định đợc cơ cấu kinh tế
hợp lý, trang bị kỹ thuật hiện đại và ứng dụng rộng rãi các phơng pháp sản
xuất tiên tiến cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Quá trình ấy gắn với quá
trình công nghiệp hoá, sự gắn bó ở đây là gắn bó hữu cơ, chặt chẽ.
Trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù công nghiệp
hoá. Ta có thể rút ra nhận xét về công nghiệp hoá nh sau:
- Quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu chứ
- Xây dựng cơ cấu đa ngành. Sự cân đối giữa các ngành, các vùng đợc
xem xét trong điều kiện kinh tế mở để phát huy lợi thế mỗi nớc.
- Phân công lao động xã hội lại theo ngành và theo vùng.
* Thứ t: Công nghiệp hoá là một quá trình mang tính quy luật gắn liền
với quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Để đánh dấu sự kết thúc của quá
trình rộng lớn phức tạp lâu dài này cần có những tiêu chuẩn nhất định.
* Thứ năm: Công nghiệp hoá cũng chính là hiện đại hoá. Để thực hiện
những mục tiêu và nội dung cơ bản ở trên cần có những bớc đi điều kiện, giải
pháp thích ứng.
1.3. Cơ sở khoa học việc thực hiện công nghiệp hoá
Ngày nay có nhiều học thuyết khác nhau về thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, muốn hoạch định chính sách, chiến lợc chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế theo hớng CNH, HĐH cần nghiên cứu vận dụng nhiều học
thuyết kinh tế khác nhau. Có thể các học thuyết tiêu biểu là:
15