1
Luận văn:
“Kinh nghiệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá
tại một số nước trong khu vực và vận dụng
vào Việt Nam”
2
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta xây dựng đất nước đi theo con đường Chủ nghĩa Xã hội từ
một xuất phát điểm thấp: nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh
tàn phá nặng nề. Vấn đềđặt ra cho chúng ta là làm thế nào để xây dựng lại đất
nước bắt kịp với nền kinh tế thế giới, tránh tụt hậu xa hơn về mọi mặt đặc biệt
là về kinh tế. Chúng ta không còn con đường nào khác là phải tiến hành công
nghiệp hoá- hiện đại hoá nhằm đưa nền kinh tế - xã hội nước ta có những
bước tiến nhanh, bắt kịp và hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Qua hơn 15 năm cải cách mở cửa nền kinh tế, chúng ta đãđạt được
những thành tựu to lớn. Nền kinh tếđã ra khỏi cuộc khủng hoảng của những
năm 80 và luôn ở mức tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tếđã có sự chuyển
dịch đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới, bộ mặt đất nước có những
đổi thay đáng ghi nhận, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã cải
nước công nghiệp có cơ sở vật chất hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời
sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, nâng cao khả
năng mở rộng quan hệ kinh tếđối ngoại, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là mục tiêu dài hạn, mục tiêu cuối cùng
của công nghiệp hoá, hiện đại hoáở nước ta.
II. Tính tất yếu khách quan và tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá
1. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Mỗi phương thức sản xuất chỉ có thểđược xác lập một cách vững chắc
trên một cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng với nó. Cơ sở vật chất - kỹ thuật
của một phương thức sản xuất là toàn bộ yếu tố vật chất của lực lượng sản
xuất ở trình độ phát triển nhất định của kỹ thuật - công nghệ, cùng với kết cấu
xã hội của lực lượng sản xuất .
CNXH chỉ có thểđược xác lập vững chắc khi có nền kinh tế phát triển
cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chếđộ công hưũ về những tư liệu 4
sản xuất chủ yếu. Trong lịch sử, sự thay thế các phương thức sản xuất bao giờ
phương thức sản xuất sau cũng kế thừa cơ sở vật chất - kỹ thuật của phương
thức sản xuất trước nó và trên cơ sở cải tạo, phát triển thành cơ sở vật chất -
kỹ thuật của bản thân mình. Vì thế cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, một
mặt , kế thừa những thành quảđãđạt được về vật chất - kỹ thuật trước đó, mặt
khác, quan trọng hơn, nóđược phát triển và hoàn thiện trên cơ sở những thành
tựu mới nhất của khoa học và công nghệ. Cơ sở vật chất - kỹ thuật ấy đảm
bảo tạo ra năng suất lao động cao hơn CNTB vì chỉ có như vậy mới chiến
thắng được hoàn toàn và triệt đểđối với CNTB.
Nước ta quáđộ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lực lượng
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần giải quyết
đồng thời nhiều quá trình, nhiều mức độ khoa học - công nghệ mà các nước đi
trước đã giải quyết ở những thời điểm khác nhau, phải biết thích nghi với
công nghệ cao, kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, đi
nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định
b. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả.
Cơ cấu kinh tếđược xây dựng phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Phản ánh đúng đắn yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, trước
hết là yêu cầu của quy luật kinh tế.
- Phù hợp với xu htế phát triển khoa học - công nghệ trên thế giới hiện
nay
- Phù hợp với sự phân công và hợp tác quốc tếđang ngày càng phát
triển cả về mặt chiều rộng lẫn về chiều sâu. Do đó cơ cấu kinh tếđó phải là cơ
cấu kinh tế mở và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Cơ cấu kinh tếđó
cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực của đất nước, tạo nên sự tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững của toàn bộ nền kinh tế.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu kinh tế có sự
chuyển dịch: chuyển dịch từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả sang cơ cấu
kinh tế hợp lý, tiến bộ, hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp -
dịch vụ. 6
IV. Những tiền đềđể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1. Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả
Vốn để công nghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm các nguồn vốn trong
nước và vốn vay cũng như viện trợ của nước ngoài. Trong đó vốn trong nước
giữ vai trò quyết định, còn vốn bên ngoài có tầm quan trọng trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh; phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học xã hội và
nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ làm chỗ dựa khoa học cho việc
triển khai cương lĩnh, đường lối của Đảng, xác định phương hướng, bước đi
của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các chính sách, kế hoạch và chương trình
phát triển kinh tế - xã hội.
- Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên
và công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
quản lý và quốc phòng an ninh.
- Nghiên cứu, đánh giá chính xác các nguồn tài nguyên để xác định
chiến lược đúng đắn và khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường,
hạn chế hậu quả thiên tai.
4. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tếđối ngoại
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, việc mở rộng kinh tếđối ngoại là một
tất yếu đối với nước ta. Chỉ có như vậy mới thu được các nguồn vốn bên
ngoài, tiếp thu được kỹ thuât, công nghệ hiện đại.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là khả năng, để biến khả năng thành hiện thực,
cần cóđường lối đối ngoại đúng đắn, kết hợp được sức mạnh của dân tộc với
sức mạnh của thời đại, giữ vững được độc lập chủ quyền và bảo vệđược lợi
ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tếđối ngoại.
5. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước
Đây là tiền đề quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoáở nước ta. Công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước là một quá trình 8
phức tạp, lâu dài để tạo ra những tiền đề vật chất đảm bảo sự thắng lợi của
CNXH. Nó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quáđộ, là sự nghiệp của
toàn dân, do đó phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà
nhằm dùng công nghiệp hoá làm động lực phát triển toàn bộ nền kinh tế.
Trong suốt những năm 60 qua 2 kế hoạch 5 năm (1961-1966), kế hoạch
(1967-1971) Thái Lan nhấn mạnh vào việc phát triển công nghiệp thay thế
nhập khẩu, với đặc trưng chủ yếu hướng vào thị trường trong nước. Nhà nước
đã có những chính sách bảo hộ công nghiệp trong nước, khuyến khích các
ngành công nghiệp sử dụng nhiều nguyên liệu và lao động trong nước. Do
vậy, công nghiệp trong nước đã có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu ở
các lĩnh vực: dệt, hoá chất, chế biến thực phẩm… Trong suốt thập kỷ 60, tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 10%. Tuy vậy, chính sách công
nghiệp hoá hướng nội ở Thái Lan cũng đã bộc lộ những hạn chế. Thứ nhất, do
công nghệ hạn chế, Thái Lan vẫn phải nhập máy móc thiết bị, công nghệ sản
xuất và nguyên liệu thô. Điều này có nghĩa là chính sách thay thế nhập khẩu
không đạt được mục đích đề ra mà chỉ làm thay đổi cơ cấu nhập khẩu. Thứ
hai, chính sách thay thế nhập khẩu còn tác động đến việc sử dụng lãng phí các
nguồn tài nguyên trong nước do kỹ thuật lạc hậu và trình độ quản lý kinh tế
yếu kém, chi phí lao động cao, năng suất thấp. Thứ ba, thực hiện chiến lược
này, nhà nước đã can thiệp quá sâu vào hoạt động của nền kinh tế và chính
sách thay thế nhập khẩu làm cho công nghiệp trong nước phát triển chậm
chạp, trì trệ do thiếu động lực cạnh tranh.
Để khắc phục những hạn chế của chiến lược hướng nội, Thái Lan đã
hoạch định lại chính sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Từ 1972 Thái Lan
đã chuyển sang chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Các kế
hoạch 5 năm 1972-1976, 1977-1981, 1982-1986, 1987-1990, 1991-1995 đã
thực hiện điều chỉnh sự phát triển của công nghiệp nhằm tranh thủ các nhân tố
thuận lợi bên ngoài kết hợp với việc sử dụng các lợi thế trong nước đểđa dạng
hoá trong sản xuất kinh doanh đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Nhà nước đã
có những chính sách và biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy tiến trình công 10
Sau hơn ba thập kỷ phát triển nhanh chóng, kinh tế Thái Lan đã bộc lộ
những hạn chế. Đó là sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài
và công nghệ nhập khẩu. Trong phát triển, có tình trạng mất cân đối nghiêm
trọng giữa quy môđầu tư và khả năng tài chính. Tình trạng quá nóng của nền
kinh tế, đặc biệt từ giữa thập kỷ 90, khiến nợ nước ngoài của Thái Lan gia
tăng (chủ yếu là nợ ngắn hạn và trung hạn): chiếm tới 50% so với GDP
(1997). Trong hoàn cảnh ấy, vai tròđiều tiết, kiểm soát của hệ thống tài chính-
ngân hàng trong đầu tư và cung ứng tiền tệ bộc lộ nhiều yếu kém. Đó chính là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệở Thái Lan
và lan rộng sang các nước Đông NamÁ vàĐông Á vừa qua. Đối phó với tình
hình ấy, Thái Lan buộc phải thực hiện điều chỉnh chiến lược công nghiệp hoá.
1.2. Công nghiệp hoá, hiện đại ởĐài Loan
Công nghiệp hoáởĐài Loan được tiến hành trong điều kiện rất khó khăn
cả vềđiều kiện trong nước và ngoài nước, không chỉ do nguồn tài nguyên hạn
hẹp, trình độ kinh tế nói chung còn thấp kém, mà còn do ảnh hưởng của bối
cảnh chính trịđặc biệt của hòn đảo này. Vềđối ngoại, Đài Loan không được sự
công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế. Thêm vào đó, Đài Loan luôn đứng
trước khả năng phải đương đầu với cuộc chiến tranh giải phóng Đài Loan,
thống nhất đất nước của chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Điều đó
càng làm cho tình hình Đài Loan bất ổn định, lòng dân không yên, công
nghiệp hoá gặp thêm nhiều trở ngại. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoáởĐài Loan có thể chia làm 3 giai đoạn [36]:
a) Giai đoạn thứ nhất (1953-1964)
Giai đoạn này tương ứng với 3 kế hoạch 4 năm phát triển kinh tế của
Đài Loan: 1953 - 1956, 1957-1960 và 1961-1964, thực hiện chiến lược hướng
nội.
Mục tiêu chiến lược của Đài Loan giai đoạn này là phát triển công
nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của nhân dân nhưăn, mặc, ở, đi lại, học
13
Nhờáp dụng các biện pháp tích cực nêu trên và huy động mọi nỗ lực
của toàn xã hội, đến cuối năm 1952, nền kinh tếĐài Loan đãđược khôi phục,
đạt mức cao nhất trước chiến tranh. Những kết quả nói trên tạo thuận lợi
đểĐài Loan bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chiến lược
công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu với các biện pháp tích cực đãđem lại cho
Đài Loan một số kết quả nhất định: giá trị sản lượng công nghiệp từ 1953 đến
1962 tăng trung bình 11,7%/năm. Công nghiệp được mở rộng đã thu hút thêm
một lượng lớn lao động, từ 17% trong toàn bộ lao động đang làm việc năm
1951 tăng đến 25% năm 1964 [59]. Bước ngoặt đánh dấu sự phát triển công
nghiệp của Đài Loan là giá trị sản xuất công nghiệp từ năm 1956 đã bắt đầu
vượt giá trị sản xuất nông nghiệp trong GDP.
Về mặt kinh tế - xã hội, chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
cũng có tác động tích cực đến phát triển nông nghiệp vàđời sống nông thôn.
Ngoài việc cung cấp các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, các ngành công
nghiệp còn thu hút một lượng không nhỏ lao động dư thừa ở nông thôn, giải
quyết một phần tình trạng thất nghiệp, thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các
tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên, chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu kể từđầu
thập kỷ 60 cũng đã bộc lộ các mặt hạn chế của nó, sản phẩm công nghiệp của
Đài Loan không có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, còn lại thị
trường trong nước, sức mua của người dân rất hạn chế do thu nhập còn thấp.
Trong khi đó, việc nhập khẩu các nguyên liệu, thiết bị cần thiết cho CNH vẫn
tiếp tục tăng lên khiến thâm hụt mậu dịch, thâm hụt ngoại tệ vẫn tiếp tục tăng.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tốc
độ tăng trưởng của công nghiệp bắt đầu giảm dần từ cuối thập kỷ 50, từ 20%
năm 1955 xuống còn 8,9% năm 1961. Riêng tốc độ tăng trưởng của công
nghiệp chế biến - một thế mạnh của Đài Loan thập kỷ 50 cũng giảm từ 14,4%
năm 1960 xuống còn 8,1% năm1962. Để thoát khỏi tình thế bất lợi này và tìm
15
- Nâng cấp, cải tiến các trang thiết bịở các ngành công nghiệp nhẹ nhằm
nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, giảm nguyên liệu, hạ
giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Tăng cường đầu tư ra nước ngoài, đồng thời chuyển giao công nghệ,
dùng nhiều lao động sang một số nước đang phát triển khác ở khu vực châu
Á- Thái Bình Dương.
- Tập trung nghiên cứu, triển khai và nhập khẩu những dây chuyền công
nghệ mới, đầu tư cho những ngành công nghiệp mới có triển vọng sáng sủa
hơn, trong đó có các ngành tiêu biểu cho cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật
hiện đại như vi điện tử, máy tính, bán dẫn…
- Đẩy mạnh xây dựng các công trình công cộng và xí nghiệp công
nghiệp có quy mô lớn.
Nhờ sự chuyển hướng kịp thời, trong các kế hoạch 4 năm ở giai đoạn
này: kế hoạch 4 năm lần thứ 6 (1973-1976), lần thứ 7 (1977-1980), lần thứ 8
(1981-1984), kế hoạch 6 năm (1985-1990) và kế hoạch 6 năm (1991-1996)
kinh tếĐài Loan không những giữđược tốc độ tăng trưởng cao, công nghiệp
phát triển theo hướng hiện đại hoá với các sản phẩm có hàm lượng khoa học
cao. Trong vòng 17 năm (1973-1990), sản xuất công nghiệp của Đài Loan vẫn
tăng trung bình là 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến tăng gần 9%. Tỷ
trọng hàng xuất khẩu có hàm lượng khoa học cao ngày càng tăng. Nếu năm
1976 loại hàng hoá này mới chỉ chiếm gần 11% tổng kim ngạch xuất khẩu thì
có bước thay đổi căn bản. Trong giai đoạn 1991-1996, tăng trưởng công
nghiệp Đài Loan đạt 9,9%/năm [85], công nghệ thông tin với những sản phẩm
xuất khẩu năm 1994 xếp thứ 4 sau Mỹ, Nhật, Đức; công nghiệp đóng tàu vận
tải đứng thứ 5 thế giới…
Nhìn chung, sau gần 5 thập kỷ kể từ năm 1953, Đài Loan đã khôi phục
kinh tế sau chiến tranh và quá trình CNH đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu
đặt ra. Quá trình CNH thành công tạo điều kiện cho Đài Loan giải quyết tốt
nghiệp và nông nghiệp hầu như không có quan hệ tác động qua lại. Hoạt động 17
xuất khẩu của Malaysia đóng vai trò chủđạo của nền kinh tế nhưng lại lệ
thuộc vào tư bản nước ngoài, mà chủ yếu là tư bản Anh. Nguồn cao su và
thiếc chiếm 80% giá trị xuất khẩu của nước này. Đứng trước thực trạng kinh
tế khó khăn, Malaysia lựa chọn con đường công nghiệp hoáđưa đất nước thoát
khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáở
Malaysia trải qua 3 giai đoạn chủ yếu sau:
a) Giai đoạn thay thế nhập khẩu và lấy nông nghiệp là ngành phát
triển chủđạo (1961-1970)
Khác với một số nước đang phát triển tiến hành công nghiệp hoá lấy
công nghiệp làm trọng tâm, sau khi giành độc lập Malaysia tiến hành công
nghiệp hoá lấy nông nghiệp là ngành chủđạo. Thời kỳ này Malaysia thực hiện
các kế hoạch 5 năm (1961-1965) và (1966-1970). Mục tiêu công nghiệp hoá
giai đoạn này là tăng nhanh sản lượng lương thực vàđa dạng hoá các mặt hàng
nông sản xuất khẩu, đồng thời nâng cao trình độ của ngành chế biến nguyên
liệu xuất khẩu và xây dựng các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu. Do
vậy, nhà nước đã giành 50% ngân sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp,
đồng thời đầu tư cho một số dựán phát triển công nghiệp, chú trọng phát triển
cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn và xây dựng các doanh nghiệp cong
nghiệp quốc doanh để sơ chế nông phẩm. Chương trình tập trung đầu tư cho
nông nghiệp đã mang lại nhiều thành công, mức tăng trưởng hàng năm của
nông nghiệp là 5,5% cao nhất ở châu Á trong thập niên 60. Đến năm 1970,
Malaysia đã tự túc được 81% nhu cầu lương thực trong nước [53].
Trong lĩnh vực công nghiệp, Malaysia đã tạo ra hàng loạt doanh nghiệp
sản xuất thay thế nhập khẩu như dệt, may, chế biến gỗ và một số loại máy
móc. Từ năm 1961-1970, sản lượng công nghiệp đã tăng 2 lần bình quân hàng
năm tăng 13,5%. Cũng trong thời kỳ này, tỷ trọng của sản phẩm gỗ, dầu cọ
áp dụng.
- Khuyến khích giáo dục đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ khoa
học kỹ thuật để phát huy tối đa những lợi thế của đất nước; 19
Từ kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1986-1990), Malaysia đã tập trung ưu
tiên phát triển cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp nặng, nhất là những
ngành sử dụng nguyên liệu trong nước sẵn có như xi mang, sắt thép… Các
ngành công nghiệp quan trọng khác nhưđiện, cơ khí chế tạo cũng được chú
trọng đầu tư phát triển với việc áp dụng công nghệ mới. 50 nhóm sản phẩm
trong các ngành sử dụng nhiều lao động, sử dụng nguyên liệu tại chỗ như cao
su, dầu cọ, gỗ, thực phẩm, khai khoáng, điện tử, dệt may… được ưu tiên phát
triển sản xuất, đặc biệt phục vụ xuất khẩu. Trong sự phát triển công nghiệp,
chính phủ Malaysia đặc biệt chú trọng đầu tư vào khu vực tư nhân, coi khu
vực này là chủđạo của nền kinh tế. Chính phủđã chi một lượng vốn lớn cho
hoạt động nghiên cứu triển khai, khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường
tiến hành nghiên cứu ứng dụng vào sản xuất.
Nhờ tích cực thực hiện các chính sách phát triển trên, nền kinh tế
Malaysia đã tăng trưởng với tốc độ cao: 1987 là 5,2%; 1988 là 8,7%; 1990 là
9,4% và 1995 đạt 8,5%; trong đó ngành công nghiệp chế tạo tăng trưởng với
tốc độ cao hơn (năm cao nhất là 1989 đạt 25,1%) [114]. Trên cơ sởđó, xuất
khẩu của Malaysia đã có sự tăng nhanh với xu hướng giảm dần xuất khẩu
nguyên liệu, tăng dần các sản phẩm công nghiệp chế tạo (điện tử) và nông sản
chế biến như cao su, ca cao, dầu cọ, hạt tiêu,… Năm xuất khẩu cao nhất
(1989) đạt 67,8 tỷ USD bằng 71,5 GNP. Theo các nhà phân tích kinh tế thì
Malaysia đã bước đầu chuyển từ nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp và các
ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu sang nền công nghiệp có hàm lượng
khoa học cao hướng về xuất khẩu.
Bên cạnh những thành tựu kinh tếđạt được, theo Viện nghiên cứu kinh
bộc lộ những hạn chế. Do vậy, việc chọn thời điểm đểđiều chỉnh chiến lược
phát triển cóý nghĩa rất quan trọng. Nóđặt sự phát triển kinh tế của đất nước
không chỉ phù hợp với hoàn cảnh trong nước mà cả quốc tế. Thực tế việc
chuyển sang chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu khi quá trình
toàn cầu hoá, khu vực hoá dưới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật 21
làsự cần thiết. Chính việc lựa chọn thời điểm chuyển hướng chiến lược mới
có thể tạo nên sự thích ứng trong chiến lược phát triển kinh tế. Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá với sựđa dạng hoá trong sản xuất kinh doanh để mở rộng
xuất khẩu và vươn mạnh ra thị trường thế giới dãđem lại tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao liên tục trong hơn ba thập kỷ cho Đài Loan, Thái Lan vàMalaysia.
Thứ ba, trong công nghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước này, nhà nước
đóng vai trò vô cùng quan trọng với việc lựa chọn chiến lược, việc tạo lập môi
trường kinh tế vĩ mô, chiến lược tạo vốn, nâng cao hiệu quảđầu tư, có chính
sách phát huy nguồn lực con người, mở rộng quan hệ kinh tếđối ngoại. Do
vậy, nhà nước không chỉ phát huy được nội lực mà còn khai thác tốt các yếu
tố ngoại lực tạo nên tăng trưởng kinh tế cao. Nhà nước đã thành công trong
việc điều chỉnh chiến lược gắn với các chương trình cải cách tự do hoá một
cách khéo léo linh hoạt. Đó chính là viết biết khai thác những động lực của
kinh tế thị trường, biết nắm bắt và tận dụng những thành tựu của cách mạng
khoa học kỹ thuật, những cơ hội mà kinh tếđối ngoại đặc biệt là ngoại thương
mang lại nhằm phát huy lợi thế trong trật tự phân công lao động quốc tế.
Thứ tư, công nghiệp hoá, hiện đại hoá - con đường tất yếu để thoát khỏi
nghèo nàn lạc hậu của các nước đang phát triển. Mục tiêu trong công nghiệp
hoá, hiện đại hoáđể hướng tới tăng trưởng trong phát triển. Theo đuổi tăng
trưởng kinh tếđã trở thành khát vọng của các nước đang phát triển. Tuy vậy,
kinh nghiệm ở Thái Lan, Malaysia, chiến lược trong công nghiệp hoá, hiện
đại hoá cần phải gắn liền với sựổn định của môi trường kinh tế vĩ mô, có sự
thông và luật đầu tư nước ngoài đã phát huy tác dụng.
Bảng : Cơ cấu vốn đầu tư xã hội 1991 - 2000 (%)
Năm
Từ ngân sách
Nhà nước (*)
Doanh nghiệp
nhà nước
Tư nhân và
dân cư
Vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
29,8
35,3
38,5
24,1
25,6
28,2
31,7
36,9
24,0
24,5
Nguồn: Bộ Kế hoạch vàđầu tư; (*) Đầu tư từ ngân sách Nhà nước tính
cả ODA và tín dụng nhà nước.
Quá trình công nghiệp hóa trong thời kỳđổi mới ở nước ta đãđem lại
những biến đổi quan trọng trong sự phát triển kinh tếđất nước, tạo đà cho 24
công cuộc đổi mới tiếp tục đi vào chiều sâu vàđẩy nhanh tốc độ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nền kinh tế. Do vậy, vào những năm 90, kết quả về tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt mức cao hơn so với nhiều nước trên thế
giới và khu vực. Tính chung cả giai đoạn 1991 - 2000, Việt Nam đạt tốc độ
tăng trưởng kinh tế bình quân 7,45%.
Bảng : Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn (%)
1986 - 1990 1991- 1995 1996 - 2000 1991 - 2000
GDP
Công nghiệp
Nông nghiệp
Dịch vụ
3,9
6,0
3,6
6,1
8,2
12,7
25
công nghiệp đãđạt tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục góp phần quan trọng
vào việc khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế, xã hội đồng thời tạo tiền
đề phát triển cho những năm sau.
Thời gian qua, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của công nghiệp, tỷ trọng nông
nghiệp trong nền kinh tế giảm. Năm 1986, nông nghiệm chiếm 34,7%, công
nghiệp chiếm 26,8% và dịch vụ chiếm 38,5% trong GDP; năm 2000 nông
nghiệp giảm xuống chiếm 24,2%, công nghiệp tăng lên 36,9% và dịch vụ là
38,9% trong GDP. Như vậy, cơ cấu kinh tế mới đã hình thành vàđộng tái
chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh xu hướng tích cực của các nước vốn có
nền kinh tếởđiểm xuất phát thấp đang vươn lên trong công nghiệp hoá.
Bảng : Cơ cấu ngành trong GDP (%)
1986 1990 2000
Nông nghiệp 34,7 32,0 24,2
Công nghiệp 26,8 25,2 36,9
Dịch vụ 38,5 42,8 38,9
Nguồn: Trần Văn Thọ, Kinh tế Việt Nam 1955 - 2000, tr. 298 và Tổng
cục Thống kê.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu hàng năm cũng tăng nhanh, năm 1991 là 2.087 triệu
USD, năm 2000 là 14,308 triệu USD [28]. Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của
xuất khẩu hàng năm cao hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế và ngoại
thương thực sựđã trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thu được một số thành tựu
cơ bản. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Sản xuất đã cơ bản
đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và giành một phần tích lũy. Năm 1986, tiêu