mối quan hệ qua lại giữa đầu tư và tăng trưởng phát triển kinh tế,liên hệ thực tiễn tại việt nam - Pdf 25

Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc
gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ khi giành được độc lập năm 1975 và đặc
biệt là từ sau năm 1986, khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhà
nước ta luôn đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên hàng đầu với định hướng đến năm
2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu
trên thì đầu tư là một yếu tố cực kỳ quan trọng vì đầu tư, nói rõ hơn là đầu tư phát
triển, không những làm gia tăng tài sản của cá nhân nhà đầu tư, mà còn trực tiếp
làm gia tăng tài sản vật chất cho nền kinh tế, có tác động rất mạnh mẽ đến phát triển
kinh tế.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh
tế tương đối cao, đặc biệt năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong lịch
sử: 8,5%, những năm 2008, 2009 mặc dù chịu ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế, song
tăng trưởng kinh tế vẫn ổn định ở mức ở mức 6.15% và 5.32%. Một vấn đề cấp thiết được
đặt ra là làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế ấy trong một thời gian
dài.
Từ thực trạng kinh tế Việt Nam trong những năm qua cần có một cái nhìn tổng quan
và đánh giá đúng đắn về mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển. Nhận
thức được tính chất quan trọng của vấn đề, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Mối quan hệ qua lại
giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế”, với mục đích làm rõ một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về tác động của đầu tư đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và ngược lại.
Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tối đa mối quan hệ này để phục vụ cho
sự nghiệp phát triển đất nước.
1
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI
QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
1. Đầu tư

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng ta tập trung chủ yếu vào hoạt
động đầu tư phát triển.
2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng
thời gian nhất định (thường là một năm). Sự tăng trưởng thể hiện ở quy mô và tốc
độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng
được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay
chậm giữa các thời kì. Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về
lượng của nền kinh tế.
Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá sự tăng trưởng kinh tế như: Tổng giá trị sản
xuất (GO- Gross Output); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic
Product); Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross National Income); Thu nhập quốc
dân (NI – National Income); Thu nhập quốc dân khả dụng (NDI – National
Disposable Income); thu nhập bình quân đầu người (GDP/người)…
2.2 Phát triển kinh tế
Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua thời gian,
khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất. Phát triển kinh tế được hiểu là
quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn
thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu như vậy, phát
triển phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết
định. Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:
Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu
nhập bình quân trên đầu người. Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng
của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và
thực hiện những mục tiêu khác của phát triển.
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế. Đây là tiêu thức
phản ánh sự biến đổi về chất kinh tế của một quốc gia. Để phân biệt các giai đoạn
phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau,
người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đó đạt

Hàm tổng cung- hàm số nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự
tăng lên của các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên và khoa học
công nghệ) của nền kinh tế được biểu diễn như sau:
Y= f (K, L, R, T)
Một dạng khác là hàm Cobb– Douglas có dạng:
Y = T. K
α
. L
β
. R
γ
. T
Ở đây α, β, γ là các số lũy thừa, phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào.
Ta thiết lập được mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số như sau:
g = t + αk + βl + γr
Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng của GDP
k, l, r lần lượt là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
4
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
t: phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ
Như vậy, có thể thấy 4 nhân tố của hàm sản lượng là K, L, R, T. Mối quan hệ
đầu tư tác động đến 4 nhân tố này thông qua đó làm tăng sản lượng (quan hệ tác
động thuận chiều) được cụ thể hóa bằng những phân tích lý luận dưới đây:
a. Đầu tư vào vốn
Vai trò của vốn đầu tư đến nền kinh tế còn được thể hiện ở những lý thuyết kinh
tế qua các thời đại. Có rất nhiều nhà kinh tế chứng minh vai trò của vốn đầu tư đến
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tiêu biểu là mô hình Harrod – Domar. Mô hình
thể hiện mối gia tăng vốn với tổng sản phẩm.
Mô hình Harrod - Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế
với yếu tố tiết kiệm và đầu tư vốn.

ICO
Ys
Y
Y
g :
R
*
=

=
Cuối cùng ta có:
RICO
s
g =
Như vậy, theo Harrod - Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh
tế. Muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỷ lệ tích luỹ để đầu tư trong
GDP là s với hệ số ICOR không đổi. Mô hình thể hiện tiết kiệm S là nguồn vốn của
đầu tư I, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất (

K), gia tăng vốn sản xuất sẽ trực tiếp
gia tăng

Y. Cũng lưu ý rằng, do nghiên cứu ở các nước tiên tiến, nhằm xem xét
vấn đề: để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế 1% thì đầu tư phải tăng bao nhiêu, nên
những kết luận của mô hình cẩn được kiểm nghiệm kỹ khi nghiên cứu đối với các
nước đang phát triển như ở nước ta. Ở những nước đang phát triển, vấn đề không
đơn thuần chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế như cũ mà quan trọng là phải
tăng với tốc độ cao hơn. Đồng thời do thiếu vốn, thừa lao động, họ thường sử dụng
nhiều nhân tố khác phục vụ tăng trưởng.
Cụ thể hơn vai trò của vốn đầu tư đối với nền kinh tế được thể hiện như sau:

động trực tiếp mà còn có sự tác động gián tiếp thông qua việc đầu tư vốn vào nhân
tố lao động (một yếu tố đầu vào hữu hình khác) và vào các yếu tố vô hình như nâng
cao trình độ quản lý, cải thiện môi trường thể chế … Đầu tư nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trực tiếp làm tăng năng suất lao động và ảnh hưởng nhất định đến
năng suất nhân tố tổng hợp do nâng cao trình độ tay nghề, hợp lý hóa quá trình sản
xuất, tổ chức lao động… Từ đó có tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế. Có
thể nói, TFP chỉ có thể tăng nhanh khi chất lượng nguồn nhân lực gia tăng.
Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH-HĐH
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, liên hệ chặt chẽ, tác
động qua lại với nhau trong không gian và thời gian, trong những điều kiện kinh tế
xã hội nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, phù hợp với mục
tiêu đã xác định của nền kinh tế. Sử dụng vốn đầu tư hợp lý, hiệu quả theo cách đầu
tư trọng tâm trọng điểm trên cơ sở qui hoạch, kế hoạch đầu tư, xây dựng một cơ chế
đầu tư hợp lý có tác dụng quan trọng trong việc chuyển dịnh, đổi mới cơ cấu kinh tế
ngành, cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ, cơ cấu theo các thành phần kinh tế, cơ cấu
kinh tế thành thị nông thôn… đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.
Nói cách khác, kết quả của hoạt động sử dụng vốn đầu hợp lý là sự thay đổi cơ cấu
7
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, phát triển toàn diện hơn và theo hướng
CNH, HĐH. Điều này đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Vốn đầu tư giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế được đánh giá qua
năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp và nền kinh tế tạo ra.
Sử dụng vốn đầu tư bất hợp lý, không hiệu quả, công tác qui hoạch, kế hoạch đầu tư
còn nhiều yếu kém dẫn đến chất lượng thấp, giá thành sản phẩm cao và năng lực
cạnh tranh thấp. Trên góc độ đầu tư, để nâng cao năng lực cạnh tranh, một trong các
yếu tố then chốt có tính đột phá là thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn và tăng

tăng làm cho thu nhập có thể sử dụng của người lao động cũng tăng do đó khả năng
chi tiêu của người lao động tăng . Ở các nước đang phát triển, mức tiền công của
người lao động nói chung là thấp do đó ở những nước này lao động chưa phải là
động lực mạnh cho sự cho sự phát triển. Để nâng cao vai trò của người lao động
trong phát triển kinh tế cần thiết có các chính sách nhằm giảm bớt lượng cung lao
động, đồng thời tạo ra các nguồn lực một cách đồng bộ.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận của đầu tư phát triển, nó là
việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm nâng cao và
khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức, thể lực của người lao động, để đáp ứng
tốt hơn cho nhu cầu sản xuất.
Đầu tư phát triển bao gồm : đầu tư những tài sản vật chất và đầu tư phát triển
những tài sản vô hình. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội
dung của đầu tư những tài sản vô hình. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm
những nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt động đào tạo lực lượng lao động, đầu tư
cho công tác chăm sóc sức khỏe y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm
việc của người lao động …
c. Đầu tư vào tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là tất cả các nguồn lực của tự nhiên; bao gồm đất đai,
không khí, nước, các loại năng lượng và những khoáng sản nằm trong lòng đất…
Con người có thể khai thác và sử dụng những ích lợi do tài nguyên thiên nhiên ban
tặng để thoả mãn những nhu cầu đa dạng của mình.
Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng
Có thể nói tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong giai đoạn đầu phát triển, các nước đang
phát triển thường quan tâm nhiều đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản
phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa
qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế. Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để
phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, các ngành công
nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thủy tinh, sành sứ… Tài
nguyên thiên nhiên chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và

mở rộng khả năng phát hiện khai thác và đưa vào sử dụng các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, kể cả tài nguyên tái sinh và không tái sinh làm biến đổi chất lượng
nguồn lực lao động nhờ đó nâng cao năng suất lao động mở rộng khả năng huy
động, phân bổ và sử dụng các nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả. Khả năng đó
được thể hiện thông qua quá trình hiện đại hóa các tổ chức trung gian tài chính, các
hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải.
Khoa học công nghệ tạo điều kiện chuyển từ phát triển kinh tế theo chiều rộng
sang phát triển kinh tế theo chiều sâu.Với vai trò này, khoa học và công nghệ là
phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và
nền kinh tế tri thức. Trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ cao sử dụng
nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật.
10
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
Trước đây trong suốt một thời gian dài, quan điểm sự tăng trưởng kinh tế phụ
thuộc nhiều vào các yếu tố vốn, tài nguyên, lao động. Nhưng cách mạng khoa học
kĩ thuật đã chứng minh ngoài các yếu tố trên còn có các yếu tố khác ngày càng giữ
vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế đó là đổi mới công nghệ, đổi mới tổ
chức quản lý… Đặc biệt khi đứng trước những vấn đề về môi trường, sự cạn kiệt
nguồn tài nguyên thì yếu tố khoa học công nghệ càng trở nên quan trọng. Sự đóng
góp của yếu tố này khó được xác định một cách trực tiếp nhưng được thể hiện qua
việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố khác như tăng năng suất lao động, tăng hiệu
quả sử dụng vốn, nâng cao công suất sử dụng máy móc th iết bị.
Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ không chỉ đẩy nhanh tốc độ
phát triển của các ngành, mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở
nên sâu sắc và đưa đến phân chia các ngành thành nhiều phân ngành nhỏ. Xuất
hiện nhiều ngành nhiều lĩnh vực kinh tế mới. Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo
hướng tích cực. Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng
ngày càng mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng kĩ thuật công
nghệ cao.

xuất hoặc nếu không sẽ bị phá sản. Chính những điều này dẫn đến hiện tượng thất
nghiệp xảy ra, tệ nạn xã hội bùng phát. Theo Keynes, sự sụt giảm đầu tư chính là
nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế xã hội ở các nước tư bản vào những năm 30.
Cũng theo Keynes tổng cầu tăng sẽ kích thích tổng cung tăng và tạo ra nền kinh
tế đạt tới một sự cân bằng mới ở mức sản lượng cao hơn mức sản lượng cũ từ đó
kinh tế sẽ tăng trưởng.
b. Quan điểm của Keynes về đầu tư với tổng cầu:
Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng. Nó thấy sản
lượng tăng bao nhiêu khi đầu tư tăng một đơn vị.
Công thức
I
Y
k


=
(1)
Trong đó: ∆Y là mức gia tăng sản lượng
∆I là mức gia tăng đầu tư
k là số nhân đầu tư
Từ công thức (1) ta có: ∆Y= k. ∆I
Như vậy, việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuyếch đại sản lượng lên số
nhân lần. Trong công thức trên k là số dương lớn hơn 1.
Vì I = S có thể biến đổi công thức (1) thành:
MPCMPSS
Y
I
Y
k
−∆

tích cực của cơ cấu kinh tế. Như Rostow, kinh tế xã hội trải qua các giai đoạn cơ
cấu kinh tế từ nông nghiệp thuần túy, sang nông- công nghiệp trong giai đoạn chuẩn
bị cất cánh, đến cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ ở giai đoạn cất cánh, là
cơ cấu công nghiêp – dịch vụ - nông nghiệp trong giai đoạn trưởng thành, và cuối
cùng xã hội đạt tiêu dùng cao thì cơ cấu kinh tế có dạng dịch vụ - công nghiệp.
Sự thay đổi cơ cấu ngành này được giải thích do xã hội luôn phải tồn tại cơ cấu
đầu tư khác nhau giữa các ngành. Ðể phát triển được, cần phải tập trung đầu tư vào
một số ngành nhất định, tạo ra một "cú hích" thúc đẩy và có tác dụng lôi kéo đầu tư
trong các ngành khác theo kiểu lý thuyết số nhân, từ đó kéo theo sự phát triển của
nền kinh tế. Trong mỗi giai đoạn phát triển, vai trò "cực tăng trưởng" của các ngành
trong nền kinh tế là không giống nhau. Vì vậy, cần tập trung những nguồn lực (vốn
khan hiếm) cho một số lĩnh vực cụ thể trong một thời điểm nhất định. Mặt khác, do
trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, các nước đang phát triển rất thiếu
các nguồn lực sản xuất và không có khả năng phát triển cùng một lúc đồng bộ tất cả
các ngành hiện đại. Vì thế, tập trung phát triển các ngành trọng điểm gần như là một
sự lựa chọn bắt buộc.
13
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
Tóm lại: phát triển kinh tế gắn với một cơ cấu kinh tế phù hợp cho từng giai
đoạn. Đầu tư là giải pháp định hướng cho cơ cấu kinh tế theo kế hoạch. Vậy đầu tư
có vai trò là nhân tố quyết định trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
1.2.2 Lý luận về vai trò của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a. Đối với cơ cấu ngành kinh tế:
Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sử
dụng như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngành
nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Cụ thể, đầu tư sẽ góp phần tăng cường
vật chất kĩ thuật, nâng cao hàm lượng công nghệ qua đó nâng cao năng suất lao
động của ngành. Nhờ đó sẽ tạo ra sản lượng cao hơn với giá thành thấp hơn. Mặt
khác, đầu tư là tiền đề tập trung các nguồn lực khác của nền kinh tế (lao động, tài
nguyên, vốn dư thừa…) cho mục tiêu phát triển ngành. Chính đầu tư chứ không

đến phức tạp, là sự vận động của xã hội loài người từ hình thái kinh tế xã hội này
đến hình thái kinh tế xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn về cơ sở hạ tầng kinh tế
lẫn kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và các hình thức xã hội. Lịch sử xã
hội loài người nói chung bao giờ cũng vận động theo hướng tiến bộ mà mỗi hình
thái kinh tế xã hội là một nấc thang của tiến bộ xã hội. Tiến bộ xã hội mà trung tâm
của nó là vấn đề phát triển con người được xem là tiêu thức đánh giá mục tiêu cuối
cùng của phát triển. Nó được đánh giá qua các khía cạnh chính gồm: một số chỉ
tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người và chỉ tiêu về nghèo đói, bất bình đẳng
Lý luận về tác động của đầu tư tới tiến bộ xã hội:
Đầu tư với vai trò là một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định trực tiếp tới
tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời là một nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng một
xã hội tiến bộ. Tất cả những hoạt động đầu tư hợp lý và đúng trọng điểm góp phần
mang lại một nền kinh tế tăng trưởng nhanh thông qua đó nâng cao một số chỉ tiêu
phản ánh nhu cầu của con người, đó là những nhu cầu về mức sống vật chất, nhu
cầu giáo dục, y tế- chăm sóc sức khỏe, nhu cầu về việc làm. Hoạt động đầu tư tác
động tới tăng trưởng kinh tế từ đó nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện mức
sống vật chất sau đó là tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tế, giáo dục.
Hoạt động đầu tư cũng trực tiếp cung cấp tạo công ăn việc làm cho người dân, góp
phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
1.4 Đầu tư tác động tới môi trường
Đầu tư trong vai trò là nhân tố thực hiện đối với tăng trưởng và phát triển kinh
tế đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc tác động tới môi trường từ nhiều góc
độ.
Ở góc độ tích cực chúng ta có thể nhận thấy thông qua các mục tiêu, kế hoạch
đặt ra trong công tác huy động vốn, nguồn lực vào các vùng kinh tế, các khu vực
kinh tế có môi trường bị ô nhiễm để khắc phục và giảm bớt sự ô nhiễm, phân bổ hài
hòa, cân bằng lại môi trường sinh thái. Những hình thức đầu tư phát triển sản xuất
sử dụng nguyên liệu tái chế, tận dụng, tiết kiệm.
Ở góc độ tiêu cực, vấn đê ô nhiễm môi trường là một thực tế không thể tránh
khỏi. Đầu tư đã tác động một cách trực tiếp và lâu dài, gây ra hậu quả nghiêm trọng

Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm cho nền kinh tế có nội lực lớn hơn,
quy mô vốn của toàn bộ nên kinh tế ngày một phát triển. Ngân sách chính phủ ngày
một nhiều tạo điều kiện cho việc đầu tư thêm cho cơ sở hạ tầng ngày một tốt hơn.
Đường xá, cầu cống được xây dựng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn. Điện, nước, dich
vụ viễn thông công nghệ thông tin ngày càng phát triển. Đây chính là những điều
kiện không thể tốt hơn của một môi trường đầu tư để kêu gọi các nhà đầu tư tham
gia đầu tư tìm kiếm lợi nhuận.
Để có thể đảm bảo nguồn vốn cho đầu tư phát triển nền kinh tế phải huy
động vốn thông qua các kênh huy động vốn khác ngoài ngân sách nhà nước. Một
16
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
trong số đó là ODA, FDI, cá nhân, tổ chức,… là những nguồn vốn quan trọng bậc
nhất trong đầu tư phát triển. Để huy động được nhiều hơn những nguồn lực đó nhà
nước chính phủ phải hoàn thiện hơn nữa thể chế chính sách nhằm kêu gọi đầu tư.
Đảm bảo đặt lợi ích của nhà đầu tư lên hàng đầu. Nền kinh tế càng phát triển vốn
đầu tư càng nhiều, yêu cầu hoàn thiện cơ chế chính sách đầu tư càng tăng đi cùng
với nó là môi trường đầu tư ngày một thông thoáng hơn hứa hẹn đem lại nhiều lợi
nhuận hơn cho nhà đầu tư. Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm hoàn thiện hơn
môi trường đầu tư thông qua việc hoàn thiện cơ chế chính sách.
2.2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm tăng tỷ lệ tích luỹ, cung cấp
thêm vốn cho đầu tư:
Vấn đề tăng trưởng ở đây được nhìn nhận như một yếu tố tạo sự hấp dẫn
ngày càng lớn đối với vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài. Vấn đề này liên
quan đến một nguyên tắc mang tính chủ đạo trong việc thu hút vốn đầu tư: Vốn
được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút vốn càng lớn. Thực chất của mối
quan hệ này nằm trong mối quan hệ nhân quả của các sự vật.
Thứ nhất với năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích lũy của nền
kinh tế có khả năng gia tăng. Khi đó quy mô nguồn vốn trong nước có thể huy động
sẽ được cải thiện.
Thứ hai triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng là tín hiệu tốt thu

thấy ở đây phát triển sẽ làm cho khoa học phát triển. Solow cũng đã chỉ ra sự tiến
bộ về khoa học kĩ thuật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để tạo ra
lượng sản phẩm nhiều hơn, chất lượng tốt hơn làm cho cuộc sống con người ngày
một sung túc đầy đủ hơn. Đó chính là một trong những điều kiện để phát triển kinh
tế. Chính vậy tăng cường phát triển khoa học kĩ thuật công nghệ là một trong những
vấn đề sống còn trong phát triển kinh tế. Nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho
đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật công nghệ ngày một nhiều hơn. Phát triển kinh tế
càng cao yêu cầu đối với chất lượng và mẫu mã sản phẩm cũng khắt khe hơn. Điều
đó bắt buộc các doanh nghiệp nghiên cứu cải tiên công nghệ để không bị các doanh
nghiệp khác đẩy ra khỏi thị trường. Cùng với việc phát triển kinh tế đó là trình độ
dân trí ngày một nâng cao. Tạo điều kiện tiếp thu và phát triển khoa học kĩ thuật
mới cho sản xuất và sinh hoạt.
Chính phủ sẽ có các chính sách nhằm khuyến khích tiến bộ công nghệ như
bao gồm miễn thuế cho hoạt động nghiên cứu và triển khai, có thể chính phủ sẽ trực
tiếp cung cấp vốn cho các nghiên cứu cơ bản. Ngoài ra còn hoàn thiện cơ chế bảo
vệ bản quyền sáng chế đối với các phát minh. Không chỉ vậy kinh tế ngày càng phát
triển cũng làm gia tăng quy mô ngân sách nhà nước. Qua đó cũng làm cho nguồn
vốn đầu tư cho khoa học kĩ thuật tư ngân sách nhà nước ngày một tăng. Đây chính
là tiền đề để nâng cao năng lực khoa học kĩ thuật và công nghệ.
18
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ
VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
I. ĐẦU TƯ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.Đầu tư tác động tăng trưởng kinh tế.
1.1 Đầu tư tác động đến tổng cung nền kinh tế
1.1.1 Đầu tư vào vốn
a. Nguồn vốn đầu tư trong nước
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Năm 1995 vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là 13575 tỷ đồng, năm 2000 đã là

Tuy nhiên trong những năm gần đây, khi thị trường chứng khoán của Việt
Nam bắt đầu sôi động khi 2 sàn giao dịch chứng khoán được xây dựng và đưa vào
sử dụng tại T.P Hồ Chí Minh và Hà Nội, tiền tiết kiệm của dân chúng đổ vào kênh
vốn này đã làm giảm đi tỷ lệ tiền gửi ngân hàng.
Báo cáo mới đây của Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho biết, trong 3 tháng đầu năm
năm 2008, điểm đáng chú ý nhất trên lĩnh vực huy động vốn và cho vay của nền
kinh tế là tiền gửi VND của dân cư tăng rất thấp, chỉ tăng 6,6% so với mức tăng
13,2% của cùng kỳ năm 2007. Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, nguyên nhân của tình
trạng này do thời gian qua nhiều doanh nghiệp đã phát hành cổ phiếu, trái phiếu để
tăng vốn và rất nhiều người dân đã dùng tiền đầu tư vào chứng khoán thay vì gửi
vào ngân hàng.
Tuy nhiên, việc giảm tiền gửi vào dân cư không ảnh hưởng nhiều đến tổng
huy động vốn của các ngân hàng. Đơn giản là khi các tổ chức phát hành cổ phiếu và
trái phiếu thu hút lượng vốn lớn lại chuyển vào ngân hàng để gửi. Như vậy cũng có
nghĩa là kênh dẫn vốn cho đầu tư qua ngân hàng vẫn vận hành tốt trong thời gian
vừa qua.
b. Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA (Official Development
Assistance)
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tổng giá trị vốn ODA giải ngân tính đến
20/11/2009 ước đạt 1, 990 tỷ USD, so với kế hoạch dự kiến cả năm 2009 vượt
khoảng 5%. Điều này là nhờ sự điều hành sát sao của Chính phủ; nỗ lực to lớn của
các ngành, các cấp và các nhà tài trợ trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải
ngân nguồn vốn ODA theo chủ trương kích cầu đầu tư của Chính phủ. Cùng với đó
là sự phối hợp thực hiện nhiều sáng kiến nhằm hài hòa quy trình thủ tục và nâng cao
hiệu quả viện trợ theo tinh thần của Tuyên bố Paris, Cam kết Hà Nội và Chương
trình hành động Accra
Các dự án ODA thời gian này tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng với
trên 22%, tiếp đến là Đông Nam Bộ gần 21%, Bắc Trung Bộ khoảng 16% và Đồng
bằng Cửu Long trên 13%.

theo xu hướng đổi mới và mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn này,
có 7 Quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng
400 triệu USD.
-Giai đoạn 2 (1998 – 2002): là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài chính
- tiền tệ châu Á khiến các dòng vốn đổ vào châu Á bị chững lại và Việt Nam cũng
chịu ảnh hưởng chung của xu hướng này với việc giảm sút và thu hẹp đáng kể quy
mô thu hút của cả FDI và FPI. Trong số 7 Quỹ đầu tư kể trên có 5 Quỹ rút khỏi Việt
Nam, 1 Quỹ thu hẹp trên 90% quy mô quỹ, chỉ còn duy nhất Quỹ Vietnam
Enterprise Investment Fund được thành lập tháng 7-1995 với quy mô vốn 35 triệu
USD (nhỏ nhất trong số 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay
- Giai đoạn 3 (từ 2003 - nay): là thời kỳ phục hồi trở lại của dòng vốn FPI vào
Việt Nam cùng với xu hướng tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, phát triển các
21
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
định chế thị trường tài chính, sàn giao dịch chứng khoán hoạt động sôi nổi, đặc biệt
là chủ trương và quyết tâm của Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hóa và nới lỏng tỷ lệ
nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước
lớn được cổ phần hóa (từ 30% lên 49%)… Tổng cộng đến nay, FPI mà Việt Nam
thu hút được bằng khoảng 2-3% so với tổng vốn FDI đã thu hút được trong cùng
thời kỳ (so với tỷ lệ trung bình 30-40% của các nước khu vực thì đây là tỷ lệ khiêm
tốn…).
Các nguồn vốn khác từ nước ngoài
Bên cạnh nguồn thu từ FDI, xuất khẩu và viện trợ, nguồn kiều hối cũng là một
nguồn lực quan trọng không kém. Việt kiều là một bộ phận không tách rời của dân
tộc. Nguồn lực của Cộng đồng người Việt ở nước ngoài còn rất to lớn. Điều đó thể
hiện rất rõ qua số lượng kiều hối được gửi về hàng năm và số doanh nghiệp do Việt
Kiều đầu tư về nước. Từ 1991-2004, kiều hối tăng bình quân trên 10%/năm. Năm
1991, kiều hối chuyển về mới đạt 31 triệu đô-la, đến năm 1995 đạt gần 300 triệu,
năm 1999 đạt hơn 1 tỷ đô-la, năm 2003 đã lên tới 2,6 tỷ và năm 2004 ước đạt 3 tỷ
đô-la. Dự đoán với đà tăng trưởng này, đến năm 2010 lượng kiều hối sẽ là gần 5 tỷ.

Qua bảng chỉ số ICOR chúng ta thấy rằng hiệu quả đầu tư của chúng ta càng ngày
càng thấp khi chỉ số ICOR ngày một gia tăng.
1.1.2 Đầu tư vào nguồn nhân lực
Đầu tư vào dân số-kế hoạch hóa, y tế, giáo dục-đào tạo.
Xác định rõ nguồn nhân lực tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng phát triển kinh tế
nên đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực luôn được nhà Nước ta quan tâm đúng
mức, điều đó được thể hiện rất rõ trong khoản chi cho dân số kế hoạch hóa, y tế,
giáo dục- đào tạo
23
Nhóm 3- Kinh tế đầu tư 49 B
Chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Đơn vị: Tỷ đồng
Chi
NSNN
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
DS-KHH 559 434 841 666 397 483 489 612
Y tế 3453 4211 4656 5372 6009 7608 11528 16426
GD-ĐT 12677 15432 17844 22881 25343 28611 37332 53774
(nguồn: tổng cục thống kê)
Đầu tư tạo việc làm cho lao động
Nhà nước tạo việc làm cho lao động thông qua các chương trình mục tiêu quốc
gia về việc làm. Trong những năm qua đã có sự lồng ghép hiệu quả với chương
trình phát triển kinh tế xã hội khác, thực hiện các dự án về tín dụng việc làm với lãi
suất ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm, góp phần thúc đẩy chuyển dich cơ cấu lao
động, gắn dạy nghề với tạo việc làm, thúc đẩy thị trường lao động phát triển, tạo và
tự tạo việc làm cho từ 300-350 nghìn lao động trên năm. Quỹ quốc gia giải quyết
việc làm có mục tiêu hỗ trợ những người lao động tự tạo việc làm, tính đến năm
2007 tổng nguồn vốn cho vay lên trên 2.900 tỷ, tạo ra 25-30% việc làm được giải
quyết mỗi năm. Tuy nhiên ngân sách đầu tư cho phát triển tạo việc làm còn quá ít so
với nhu cầu hàng năm, bình quân mỗi năm chưa tới 300 tỷ, chỉ đáp ứng được 35-

mức lương này sẽ được thống nhất theo cam kết của Việt Nam gia nhập WTO.
Bảng: Mức lương tối thiểu chung áp dụng từ 1/1/2008
Đơn vị :đồng/tháng
Tỉnh, thành phố
Doanh nghiệp
Hà Nội, TP HCM
Hải Phòng,
Quảng Ninh,
Đồng Nai, Vũng
Tàu (*)
Địa bàn khác
Doanh nghiệp trong
nước
620.000 580.000 540.000
Doanh nghiệp nước
ngoài
1.000.000 900.000 800.000
(*) Các huyện thuộc TP Hải Phòng; TP Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh; TP
Biên Hòa, thị xã Long Khánh, các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu,
Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Thủ Dầu Một, các huyện: Thuận An, Dĩ An,
Bến Cát, Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương; TP Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu
Hiện nay, thị trường lao động trong khu vực nhà nước có một số vấn đề cần giải
quyết: sự bảo hộ về cạnh tranh, sự thiếu ràng buộc về ngân sách, và việc đảm bảo
việc làm vĩnh viễn đã dẫn đến tình trạng tuyển quá nhiều lao động so với mức cần
thiết, nhiều doanh nghiệp quốc doanh trả lương cho công nhân rất hậu và thường
cao hơn nhiều so với hiệu quả công việc của họ. Tiền lương có xu hướng bình quân
hơn: trả lương quá cao cho lao động không có trình độ chuyên môn cao, đối với lao
động có trình độ chuyên môn cao lại trả lương thấp hơn khu vực ngoài quốc doanh.
Điều này dẫn đến hiện tượng “chảy máu chất xám” đối với các lao động có trình độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status