Phân tích nội dung và những chủ ý giàu tính nhân văn của tác giả trong đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt - Pdf 26

class="bi x0 y0 w0 h1"
Bài làm
M.Gorki từng nói: “Nhà văn không biết đến văn học dân gian là một nhà
văn tồi”. Lưu Quang Vũ đã dựa vào một câu chuyện dân gian mà làm nên
vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, từng làm say mê bao khán giả và độc
giả lâu nay. Đó là một tiếp thu đầy sáng tạo.
Trước hết phải thấy rằng câu chuyện dân gian này của người Việt Nam
có ý vị riêng ở chiều sâu triết lí. Đó là mối quan hệ giữa xác và hồn theo
quan niệm dân gian xưa.
Trong đoạn trích, nhân vật chính là hồn Trương Ba đã nhập vào xác anh
hàng thịt. Hồn Trương Ba đối thoại với các nhân vật như: xác hàng thịt,
những người thân trong gia đình Trương Ba, với Đế Thích và với chính
mình. Tuy hồn Trương Ba đối thoại với nhiều nhân vật, nhưng có thể khái
quát thành ba cuộc đối thoại, mỗi cuộc có sắc thái ý nghĩa khác nhau mặc
dù vẫn xoay quanh trục chính là xác và hồn. Cuộc đối thoại thứ nhất là
giữa hồn Trương Ba với xác anh hàng thịt; thứ hai là đối thoại với người
thân trong gia đình; và thứ ba là đối thoại với Đế Thích (chưa kể những
đoạn độc thoại). Tất cả đối thoại này diễn ra tại nhà Trương Ba thuộc cảnh
VII của vở kịch.
Thực ra ngay trong truyện dân gian mà ta vừa nói đã ẩn chứa một sáng
tạo rất thú vị của người bình dân. Đó là đặt phần hồn rất “nguyên vẹn, trong
sạch, thẳng thắn” của Trương Ba – một người nông dân trung thực, đáng
quý trọng vào xác của một anh hàng thịt. Tuy anh không xấu nhưng tạo ra
độ “lệch pha” rất lớn giữa hồn xác. Đây là cơ sở phát minh mâu thuẫn, xung
đột, tạo cho Lưu Quang Vũ một cái “thế” để làm nên vở kịch.
Hồn Trương Ba lương thiện, trong sạch, nhưng được gắn vào xác thịt của
một người đồ tể. Cháu của Trương Ba nhận xét: “Bàn tay giết lợn… làm
gãy tiệt cái chồi non, chân ông to bè như cái xẻng, giẫm lên nát cả cây sâm
quý mới ươm! Ông nội đời nào thô lỗ phũ phàng như vậy!”. Dân gian đã đặt
hồn Trương Ba vào một nơi thật lầm chỗ và đây là cơ sở tạo ra xung đột dữ
dội giữa hồn và xác.

người ta có lúc sống không đúng như cái bên trong, cũng là do một sự trói
buộc của hoàn cảnh mà thôi. Sau đó người ta lại trở về với chính mình: hoặc
đạo mạo nghiêm túc, hoặc tự nhiên vui nhộn, hoặc hung dữ, thô bạo hoặc
nhân từ, nhã nhặn… Cuộc sống không loại trừ con người ta lắm khi sống
phải “đóng kịch”. Tuy vậy, đó chỉ là tạm thời. Có lúc ta vừa hành động vừa
giấu đi một nụ cười về việc làm của mình, cũng vì khi đó, ta đang biết mình
giả dối một cách bất đắc dĩ. Cuối cùng vẫn quay về với sự hòa hợp giữa xác
và hồn. Phá vỡ quan hệ nội tại này sẽ làm cho người ta rơi vào bi kịch như
trường hợp của Trương Ba. Sự thống nhất cao độ giữa linh hồn và thể xác
còn là vấn đề triết lí: vật chất và tinh thần, cái vật chất ấy phải được đi với
tinh thần ấy.
Hê-ghen đã từng viết: “Mỗi một người là một chỉnh thể, bản thân là một
thế giới, mỗi con người là một nguồn trọn vẹn có sức sống chứ không phải
là thứ vật phẩm trừu tượng theo kiểu ngụ ngôn của một đặc điểm tính cách
cô lập nào đó”.
Chính vì vậy, phần xác và phần hồn trong con người thống nhất một cách
sinh động. Hồn Trương Ba không thể hòa hợp với xác hàng thịt được. Càng
ngày mâu thuẫn đó càng tăng dần. Có lúc hồn Trương Ba như rã rời khi đấu
lí với xác hàng thịt như dù thế nào chăng nữa vẫn không thể chấp nhận được
sự gắn kết “vô duyên” này”.
Cuộc đối thoại tiếp theo là giữa hồn Trương Ba với đứa cháu, người vợ
và chị em dâu. Họ than phiền về việc Trương Ba không giống như ngày xưa
nữa mà gây phiền toái cho người xung quanh hiểu. Hồn Trương Ba càng
đau khổ khi thấy ai cũng chối từ mình, xa lánh mình với những câu nói nặng
nề, xúc phạm. Tình huống kịch đến đây càng trở nên phức tạp, rắc rối, đầy
“nghịch cảnh”. Hồn Trương Ba xót xa khi nghe đứa cháu nói: “Tôi không
phải cháu của ông”. Vì ông không giống như ông nội ngày trước. Hồn nghĩ
một đằng, xác làm một nẻo. Hãy lắng nghe chị con dâu nhận xét: “Chỉ tại nó
nghĩ thầy không giống ông nội của nó. Mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất
mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con

trẻ! Ông hãy giúp tôi lần cuối cùng. Tôi sẽ không bao giờ làm phiền ông
nữa, không đòi ông điều gì nữa!”. Trong trang sách và trên sân khấu những
lời lẽ kia làm xúc động thiêng liêng lòng người. Đó là nhân tâm cao cả, là
đức độ vọng lên từ một tấm lòng bao dung. Hồn Trương Ba cho rằng đó là
việc làm duy nhất đúng, duy nhất tốt. Như vậy hồn Trương Ba cho rằng đó
là việc làm duy nhất đúng, duy nhất tốt. Như vậy hồn Trương Ba lúc này
không bận tâm nhiều về chuyện của mình mà là chuyện sự sống của cu Tị.
Câu nói của ông trở về đúng tâm tính và bản chất của Trương Ba, có thể nói,
nhà viết kịch Lưu Quang Vũ sáng tạo thêm đoạn này làm cho câu chuyện
dân gian mang ý nghĩa khác hẳn, nâng lên một tầm cao tư tưởng. Mọi diễn
biến của vở kịch phải chăng là để đọng lại cho được cái giọt mật nhân tâm
này. Cao cả và đẹp đẽ biết mấy! Cùng một lúc, nhà viết kịch giải quyết được
cả hai vấn đề: thoát ra “nghịch cảnh” cho hồn Trương Ba và thắp lên nguồn
sáng trong đời.
Trong vở kịch, khi nghe hồn Trương Ba đề xuất như vậy, Đế Thích đồng
ý. Hồn Trương Ba nói: “Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định
này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại
thanh thản, trong sáng như xưa”. Thanh thản vì không phải sống trong
“nghịch cảnh” nữa và vì vừa làm được một việc rất tốt. Hồn Trương Ba đã
ra đi mãi mãi, đi để trở về sự sống. Chi tiết ấy gây ấn tượng tốt cho người
đọc, người xem kịch. Đó là mọt ứng xử tuyệt vời, lấp lánh mãi ánh sáng
nhân văn cao cả.
Lưu Quang Vũ đã cho chúng ta thấy cuộc vận lộn dai dẳng và quyết liệt
giữa xác và hồn để đòi lại một sự thống nhất là lấy lại chính mình. Điều mà
Lưu Quang Vũ muốn nói với chúng ta là: “Hãy đừng sống bằng những thân
xác mượn!”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status