Luận văn thạc sĩ triết học phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số thanh hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 15

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Con ngời là chủ thể sáng tạo ra nền văn hoá - văn minh nhân loại, là
động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ xã hội. Con ngời cũng là sản
phẩm kỳ diệu, là giá trị cao nhất của toàn bộ sự phát triển thế giới vật chất và
tinh thần, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên và xã hội. Con
ngời ở vị trí trung tâm của tiến trình lịch sử, chính vì vậy con ngời trong t duy
nhân loại không chỉ là vấn đề thực tiễn mà còn là vấn đề cốt lõi của toàn bộ
các lý luận xã hội và nhân văn, kinh tế và quản lý, kỹ thuật và công nghệ.
Trong một xã hội văn minh hiện đại, con ngời đợc thừa nhận là nguồn
lực của mọi nguồn lực và là tài nguyên to lớn của mỗi quốc gia.
Trong những thập kỷ vừa qua và hiện tại, cùng với việc biến khoa học,
kỹ thuật và công nghệ - những sản phẩm đã đợc vật thể hoá của trí tuệ con ng-
ời, thành lực lợng sản xuất trực tiếp, nền kinh tế thế giới, đồng thời diễn ra quá
trình chuyển đối tợng khai thác vào chính bản thân con ngời. Hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều có chơng trình mang tính chất chiến lợc về đầu t và
phát triển con ngời của riêng mình, hớng theo một nguyên tắc chung là: Đặt
con ngời vào trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thừa nhận vai trò
quan trọng và quyết định của nhân tố con ngời trong phát triển kinh tế - xã hội
vừa mang ý nghĩa bớc ngoặt của t duy nhân loại, vừa mở ra một triển vọng
mới cho tất cả các nớc. Sự thành bại của chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội ở
mỗi nớc đang tuỳ thuộc vào những bí quyết về đào tạo, sử dụng và phát huy
nhân tố con ngời.
Con ngời là nguồn động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển xã hội, thiếu
nguồn lực con ngời xã hội không thể phát triển đợc. Nhng sự phát triển của
kinh tế - xã hội sẽ không có ý nghĩa gì nếu nh không phải vì sự tồn tại và phát
triển của con ngời với tất cả nhu cầu, lợi ích thiết thật của nó.
Các nhà sáng tạo chủ nghĩa Mác xuất phát từ con ngời, đấu tranh vì tự
do, bình đẳng, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con ngời, lấy con ngời
làm trung tâm cho sự phát triển xã hội. Các ông đã chỉ rõ tiến trình phát triển
lịch sử nhân loại đợc quy định bởi sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội

ngời với thế giới xung quanh, giữa con ngời với xã hội. Học thuyết Mác -Lê
nin khẳng định: Bản chất của con ngời là tổng hoà của các mối quan hệ xã
hội, con ngời là thực thể thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội. Một mặt
con ngời là kết quả sự phát triển cao nhất của thế giới tự nhiên, mặt khác nó là
chủ thể tích cực sáng tạo ra lịch sử xã hội.
Đối với nớc ta vấn đề con ngời đợc nhiều nhà khoa học và lý luận quan
tâm nghiên cứu, đặc biệt trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên
cứu về ngời Việt Nam nói chung, con ngời Thanh Hoá nói riêng:
2
- Nguyễn Thế Nghĩa - Nguồn nhân lực, động lực của CNH - HĐH đất
nớc - Tạp chí triết học số 1-1996.
- Lê Khả Phiêu - Xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hoá tiếp tục
thực hiện chiến lợc xây dựng và phát huy nguồn lực con ngời Việt Nam - Tạp
chí phát triển giáo dục tháng 4/1998.
- Lu Ngọc Phải - Thanh Hoá - Tiềm năng và phát triển - Nhà báo và
công luận, chuyên san số 3/1998.
- Thực trạng nông nghiệp nông thôn Thanh Hoá - đề tài nghiên cứu
KX03 - 21B.
- Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm nớc
ta. NXB CTQG Hà Nội năm 1996
- Về phát triển văn hoá và xây dựng con ngời mới thời kỳ công nghiệp
hoá - hiện đại hoá NXB CTQG Hà Nội năm 2003.
- Nguyễn Thị Anh Thu, Thanh Hoá, tiềm năng con ngời và một số mặt
xã hội cho phát triển đến năm 2010. Viện nghiên cứu dự báo chiến lợc tổ
chiến lợc Thanh Hoá, Hà Nội 4/1995.
- Nghiên cứu văn hoá, con ngời, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI kỷ yếu
hội thảo quốc tế (2003) Hà Nội.
- Phan Thanh Phố - An Nh Hải: Phát triển nguồn nhân lực để công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, tạp chí kinh tế và phát triển số 3/1995.
- Bùi Sĩ Lợi - Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hoá đến năm 2010

* Nhiệm vụ:
- Phân tích thực trạng việc sử dụng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu
số Thanh Hoá từ 1991 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm phát huy nguồn nhân
lực vùng dân tộc thiểu số Thanh Hoá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tợng nghiên cứu của đề tài:
Là những cơ sở lý luận và thực tiễn của quan niệm khoa học về nguồn
nhân lực và những biện pháp nhằm phát huy có hiệu quả nguồn nhân lực vùng
dân tộc thiểu số Thanh Hoá trong sự nghiệp đổi mới theo định hớng XHCN.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số Thanh Hoá (11 huyện miền núi)
trong đó tác giả tập trung lâý số liệu điều tra xã hội học tại 3 huyện: Ngọc Lặc
, Thạch Thành , Quan Sơn.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên nền tảng thế giới quan , phơng pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và t tởng Hồ Chí
4
Minh về con ngời, về con đờng giải phóng đa con ngời lên địa vị làm chủ tự
nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.
Luận văn vận dụng quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam về
vấn đề con ngời nh là cơ sở lý luận của sự nghiên cứu
- Luận văn có kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu về
con ngời và nguồn lực con ngời ở trong và ngoài nớc.
* Phơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phơng pháp logíc- lịch
sử , kết hợp chặt chẽ với phân tích tổng hợp, so sánh, khảo sát, điều tra xã hội
học để sử lý các số liệu, các dữ kiện thực tế, cũng nh vận dụng các luận

90 của thế kỷ XX trở lại đây, sự phát triển con ngời, sự phát triển nguồn
nhân lực đợc Liên hợp quốc thừa nhận là vấn đề trung tâm và là thớc đo để
đánh giá, xếp loại mức độ phát triển của mỗi quốc gia.
Từ xa đến nay, vấn đề con ngời luôn là vấn đề phức tạp, với nhiều
quan niệm khác nhau về con ngời. Thời xa xa, ngời ta hiểu con ngời nh một
tồn tại thần bí. Có lúc lại xem con ngời nh "cây sậy biết nói", sau đó hiểu
con ngời nh một tồn tại sinh vật đơn thuần - "con ngời bản năng". Khi xã
hội có thể chế xã hội thì ngời ta nói tới "con ngời xã hội', "con ngời chính
trị" rồi "con ngời kỹ thuật"
Quan điểm triết học Mác - Lênin đã khắc phục những quan niệm sai
lầm về bản chất con ngời: hoặc quá đề cao mặt tự nhiên sinh vật của con
ngời, hoặc tuyệt đối hóa mặt tinh thần, chính trị, xã hội mà coi nhẹ nhu cầu
tự nhiên - sinh học của nó. Con ngời đợc triết học Mác - Lênin xem xét nh
một thực thể thống nhất của các sinh vật và cái xã hội. Trong đó, nhân tố cơ
bản và chiếm vai trò quyết định là bản chất con ngời là mối quan hệ xã hội.
Trong luận cơng thứ 6 về Phoi ơ bắc, C.Mác đã khẳng định: "Trong tính
hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội".
Ngày nay, ngời ta xem xét con ngời là một "sinh vật văn hóa - xã hội".
Nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ ("chất xám") Những nguồn
lực này có thể đợc huy động một cách tối u để phát triển kinh tế - xã hội.
6
Nguồn nhân lực đợc nghiên cứu trên giác độ số lợng và chất lợng.
Số lợng nguồn nhân lực đợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc
độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết tới chỉ tiêu
quy mô và tốc độ tăng dân số.
Chất lợng nguồn nhân lực đợc nghiên cứu trên các khía cạnh về sức
khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phẩm chất
Theo nghĩa tơng đối hẹp: Nguồn nhân lực đợc hiểu là nguồn lao động.
Khái niệm nguồn lao động hiện nay cũng có những khác biệt giữa
các quốc gia. Chẳng hạn:

rộng và nâng cao chất lợng đội ngũ lao động luôn luôn đợc Đảng và Nhà n-
ớc ta quan tâm.
+ Vốn nhân lực: Đây là khái niệm tơng đối mới, là công cụ để phân
tích kinh tế - xã hội. Vốn nhân lực đợc hiểu là tiềm năng và khả năng phát
huy tiềm năng về sức khỏe, kiến thức của các cá nhân và là cái mang lại lợi
ích trong tơng lai cao hơn và lớn hơn những lợi ích hiện tại. Khái niệm
"vốn" đợc hiểu là giá trị mang lại lợi ích (kinh tế - xã hội), để chỉ ra tầm
quan trọng của việc đầu t vào phát triển con ngời thông qua giáo dục đào
tạo, chăm sóc sức khỏe nhằm tạo ra những ngời lao động có tri thức, có khả
năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp và có sức
khỏe đáp ứng đợc những đòi hỏi ngày càng cao của công việc. Nh vậy,
không phải bất cứ con ngời nào cũng có thể trở thành vốn nhân lực đợc. Bởi
lẽ, cũng giống nh các nguồn lực khác, để có thể đem lại lợi ích thì bản thân
nó phải có giá trị. Giá trị vốn nhân lực ở đây chính là giá trị sức lao động.
Giá trị này cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ và khả năng nghề nghiệp
của mỗi ngời. Nói một cách khác, để có thể trở thành vốn nhân lực, con ng-
ời phải đợc giáo dục, đợc đào tạo để có những kiến thức chuyên môn ngày
càng cao, có sức khỏe tốt.
+ Phát triển nguồn nhân lực: Cùng với sự phát triển của nhân loại,
khái niệm "phát triển nguồn nhân lực" ngày càng đợc phát triển. Cách tiếp
cận con ngời là mục tiêu của sự phát triển chứ không phải là một nhân tố
của sản xuất, các nhà kinh tế hiện đại đã có khái niệm phát triển con ngời là
sự mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con ngời
nhằm hởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững. Theo cách tiếp cận
này, phát triển con ngời không phải là sự gia tăng về thu nhập và của cải vật
chất (mặc dù rất quan trọng) mà là mở rộng các khả năng của con ngời, tạo
cho con ngời có cơ hội tiếp cận tới nền giáo dục tốt hơn, các dịch vụ y tế tốt
hơn, có chỗ ở tiện nghi hơn, có việc làm và có ý nghĩa hơn Phát triển con
ngời còn là tăng cờng năng lực, trớc hết là nâng cao kiến thức, kỹ năng,
kinh nghiệm làm việc của họ. Nói cách khác, năng lực là điều kiện cần thiết

nữ 15-55) vì ngời lao động phải ít nhất đủ 15 tuổi" [Bộ luật Lao động nớc
CHXHCN Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994] và đợc hởng
chế độ hu trí hàng năm khi có đủ điều kiện về tuổi đeời (nam 60, nữ 55) và
thời gian đóng bảo hiểm xã hội (20 năm trở lên) [ ], đây là lực lợng lao
động tiềm tàng của nền kinh tế - xã hội.
9
Luật Lao động đã quy định giới hạn của độ tuổi lao động đối với
nam là 60, nữ là 55. Việc quy định này xuất phát từ tính u việt của chế độ
xã hội nớc ta, u tiên phụ nữ đợc quyền nghỉ hu sớm hơn nam giới 5 tuổi do
phải sinh đẻ, nuôi dạy và chăm sóc trẻ em mà thể lực bị giảm sút (cũng nh
sự u tiên đối với ngời lao động trong một số ngành, vùng đặc biệt ) trong
điều kiện kinh tế cha phát triển mạnh. Sau hơn 50 năm thực hiện, đến nay
chính sách "u tiên" này đã bộc lộ một số nhợc điểm làm hạn chế điều kiện
phát triển và nâng cao năng lực, địa vị của ngời phụ nữ trong xã hội vì thời
gian về hu sớm hơn nhiều cơ quan, đơn vị đã ngừng việc đào tạo, bồi dỡng,
đề bạt d việc làm lao động nữ. Do đó số lợng và tỷ lệ phụ nữ đạt trình độ
cao trong đào tạo cũng nh trong các vị trí lãnh đạo bị hạn chế. Trong thực
tế, tuổi thọ của phụ nữ cao hơn nam giới, do sinh đẻ ít hơn ở độ tuổi sau 40
tuổi, khi con đã lớn, gia đình ổn định, ngời phụ nữ có điều kiện học tập,
nâng cao trình độ và làm việc tốt hơn. Nhiều kết quả nghiên cứu y học lao
động đã khẳng định, khả năng lao động cơ bắp của phụ nữ luôn luôn kém
hơn nam giới ở mọi lứa tuổi, nhng lao động trí tuệ thì không kém hơn
Nhờ tiến bộ kỹ thuật của thời đại, lao động trí tuệ ngày càng phát triển, lao
động cơ bắp ngày càng giảm xuống cùng với sự phát triển nhanh chóng của
ngành dịch vụ cho phép phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các
hoạt động sản xuất xã hội. Vì vậy nếu coi là một sự u tiên thì ngời viết hoàn
toàn đồng ý với ý kiến cho rằng nên quy định "phụ nữ đợc quyền nghỉ hu
sớm hơn nam giới 5 tuổi hi có nguyện vọng (không bắt buộc)".
Đây cũng là một biện pháp đảm bảo quyền bình đẳng và phát triển
vì sự tiến bộ của phụ nữ nói riêng và phát triển nguồn nhân lực nói chung.

- Bản chất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (khóa VII) đã
khẳng định nghĩa khái quát về quá trình CNH, HĐH:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là qua strình chuyển đổi căn
bản, toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động
thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại
tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đối với nớc ta, đó là một
quá trình thực hiện chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội nông
nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình
thành từng bớc quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy
đủ hơn bản chất u việt của chế độ mới [ , tr.4].
Định nghĩa trên phản ánh đợc phạm vi rộng lớn của quá trình CNH,
HĐH, gắn đợc công nghiệp hóa với hiện đại hóa, xác định đợc vai trò của
công nghiệp và khoa học - công nghệ. CNH, HĐH không phải là hai nội
dung tách biệt, không phải đơn thuần là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản
11
xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế - xã hội gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho
sự tăng trởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
Về thực chất, CNH, HĐH là quá trình xây dựng một lực lợng sản
xuất hiện đại. Trong đó, con ngời là lực lợng sản xuất hàng đầu. CNH,
HĐH ở nớc ta khác thời kỳ trớc là, ngoài việc phát triển có kế hoạch theo
định hớng xã hội chủ nghĩa, còn lấy nhân tố thị trờng để điều tiết nền kinh
tế. Muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, yếu tố quyết định
khả năng cạnh tranh là chính con ngời. Con ngời là chủ thể tạo ra động lực
phát triển của lực lợng sản xuất. Nh vậy, chính con ngời cùng với những
công cụ do họ chế tạo ra sẽ quyết định thay đổi bộ mặt xã hội, quyết định
thành công của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH. Xuất phát từ khái niệm

phát triển riêng tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và các đặc tr ng về chính trị,
kinh tế - xã hội, văn hóa của từng nớc.
Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của quá trình
CNH, HĐH là:
Đa nớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển tạo nền tảng để
đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo
hớng hiện đại. Nguồn lực con ngời, năng lực khoa học công nghệ,
kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đợc tăng c-
ờng; thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN đợc hình thành về
cơ bản; vị thế nớc ta trên trờng quốc tế đợc nâng cao [ ].
Nh vậy, nội dung và tính chất của quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam
hiện nay có sự khác biệt cơ bản với quá trình và đặc trng công nghiệp hóa ở
các nớc Tây Âu trong thế kỷ XVIII - XIX nh Anh, Pháp, Đức với đặc trng
cơ bản là chú trọng nâng cao trình độ phát triển của lực lợng sản xuất công
nghiệp (chủ yếu là máy móc, thiết bị); tích luỹ t bản trên cơ sở bóc lột giá
trị thặng d, bần cùng hóa ngời lao động, khai thác bừa bãi tài nguyên thiên
nhiên Đồng thời cũng không hoàn toàn dập khuôn theo mô hình CNH,
HĐH của các nớc công nghiệp mới NIC nh Hàn Quốc, Hồng Công,
Singapo, Đài Loan trong những thập niên 60-80 của thế kỷ XX, với đặc tr ng
cơ bản là dựa chính vào nguồn đầu t t bản nớc ngoài phát triển tuần tự từ
công nghiệp hóa sang giai đoạn hiện đại hóa, tập trung phát triển nguồn
nhân lực lao động kỹ thuật có năng lực thừa hành, cha chú ý phát triển năng
lực nội sinh của nền kinh tế trong nớc
Quá trình CNH, HĐH ở nớc ta đợc thực hiện trên cơ sở đảm bảo sự
kết hợp hài hòa giữa tăng trởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hớng phát
triển bền vững trong đó nhân tố con ngời là trung tâm, kết hợp chặt chẽ
giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa với những bớc đi thích hợp cho từng
ngành kinh tế, khu vực sản xuất - dịch vụ xã hội và các vùng địa lý - kinh
13
tế khác nhau. Trong các nguồn lực phát triển CNH, HĐH cùng với các

hơn nhiều so với các sản phẩm vật chất khác, tạo ra giá trị mới ngày càng
chiếm tỷ trọng lớn hơn trong GDP. Trong nền kinh tế tri thức, khả năng
sáng tạo là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của mỗi quốc gia, mỗi khu
14
vực. Để có đợc nền kinh tế tri thức cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở vững
chắc để phát triển khoa học công nghệ, đồng thời phải đầu t cho phát triển
giáo dục và đào tạo. Hay nói cách khác, phải đầu t cho phát triển nguồn
nhân lực. Suy cho cùng tri thức là hệ quả, là tất yếu của sự phát triển nguồn
nhân lực. Các nớc muốn phát triển kinh tế tri thức cần phải đầu t cho phát
triển con ngời mà cốt lõi là đầu t phát triển giáo dục, đào tạo, đặc biệt là
đầu t phát triển nhân tài. Nhờ có sự đầu t cho phát triển nguồn nhân lực mà
nhiều nớc chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nớc công
nghiệp phát triển. Sự đóng góp của trí thức đã ngày càng chiếm tỷ trọng cao
trong GDP của các nớc (chẳng hạn Mỹ gần 50%, Anh 45,8%, Pháp
45,1% ).
Việc xây dựng một dân tộc hiện đại phụ thuộc vào sự phát triển của
con ngời và tổ chức hoạt động của họ. Các nguồn lực tài chính, tự nhiên,
viện trợ nớc ngoài cũng nh thơng mại quốc tế đều đóng vai trò quan trọng
đối với tăng trởng kinh tế, song không có nguồn lực nào quan trọng hơn
nguồn lực con ngời. Hầu hết các quốc gia ngày nay đều quan tâm đến phát
triển nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng về kiến thức, kỹ năng
và cả năng lực của tất cả mọi nguòi trong xã hội. Dới góc độ kinh tế, quá
trình này đợc mô tả nh sự tích luỹ vốn con ngời và sự đầu t vốn đó một cách
hiệu quả vào sự phát triển nền kinh tế. Dới góc độ chính trị, phát triển
nguồn nhân lực là nhằm chuẩn bị cho con ngời tham gia chín chắn vào quá
trình chính trị nh là công dân của một nền dân chủ. Các nhà xã hội học và
văn hóa cho rằng, phát triển nguồn nhân lực góp phần giúp mọi ngời biết
sống một cuộc sống trọn vẹn và phong phú hơn.
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí

hạn, quá trình công nghiệp hóa (thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc) của
Anh là từ 1785-1860, của Pháp từ 1840-1920, của Đức từ 1869-1960; của
Mỹ từ 1843-1900; của Hàn Quốc từ 1962-1975, của Đài Loan từ 1952-
1970; của Nhật Bản từ 1886-1960 Tuy vậy, chúng ta có lợi thế là đúc rút
đợc kinh nghiệm của các nớc đi trớc, có thể nắm bắt đợc những tri thức,
những thành tựu của thế giới để rút ngắn thời gian CNH, HĐH đất nớc.
Điều quan trọng hơn cả trong cuộc "bứt phá" này là chúng ta đang rất hạn
chế về chất lợng nguồn nhân lực. Hạn chế này làm cho Việt Nam đang tụt
hậu khá xa về mặt tri thức so với nhân loại. Đây là điều thách thức vô cùng
lớn lao khi chỉ trong vòng 20 năm tới nhân lợi sẽ bớc vào nền kinh tế tri
thức với những đổi thay vĩ đại về kinh tế và xã hội (cũng trong khoảng thời
gian đó, theo chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng lần thứ
VIII đề ra là nớc ta về cơ bản trở thành một nớc công nghiệp). Để đáp ứng
đợc đòi hỏi này, Đảng ta đã khẳng định chúng ta phải đi tắt, đón đầu, nếu
16
không chúng ta sẽ tụt hậu càng xa. Điều này chỉ có thể làm đợc khi chúng
ta có chiến lợc đầu t phát triển nguồn nhân lực một cách đúng đắn và phù
hợp.
Vậy thực trạng nguồn nhân lực ở nớc ta ra sao?
Có thể khẳng định rằng song song với những thành tựu về y tế, chăm
sóc sức khỏe và nâng cao mức sống dân c, nền giáo dục - đào tạo của nớc ta
(cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực) đã đạt đợc những thành tựu to lớn.
Hệ thống giáo dục quốc dân đã đợc xây dựng một cách tơng đối hoàn
chỉnh gồm các cấp từ mầm non cho đến đại học với các hình thức và loại hình
học đa dạng (chính quy, phi chính quy, công lập và ngoài công lập).
Tính đến cuối năm 1999 đã có gần 94% dân số từ 15 tuổi trở lên
biết chữ; 57/61 tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và
phổ cập tiểu học. Số sinh viên thuộc mọi loại hình đào tạo đạt 117 ngời trên
một vạn dân; số năm đi học trung bình của dân c là 7,3 năm.
Đến năm 2000 đã đào tạo đợc lực lợng lao động có trình độ chuyên

đại học - trung học - công nhân ở nớc ta hiện nay là: 1-1,5-3,5 trong khi cơ
cấu đó ở các nớc là 1-4-10.
Lực lợng khoa học và công nghệ cao vừa thiếu lại vừa không đồng
bộ; phân bổ cha hợp lý. Số cán bộ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên
phần lớn tập trung ở vùng đô thị. Việc phân công, sử dụng đội ngũ này còn
cứng nhắc, cha phát huy đợc năng lực và sở trờng của họ. Mặt khác, lực l-
ợng lao động có trình độ cao đang có sự hẫng hụt giữa các thế hệ. Số đông
trí thức có trình độ cao đã lớn tuổi, trong khi đó đội ngũ kế cận còn rất
thiếu
Với thực trạng nguồn nhân lực nh vậy và với trình độ kinh tế còn
thấp kém, chúng ta chỉ có thể thực hiện CNH, HĐH bằng cách đi riêng với
những nỗ lực của mình. Để giải quyết bài toán nêu trên, song song với việc
chăm lo cải thiện mức sống dân c, nâng cao thể chất của ngời dân nói
chung và của ngời lao động nói riêng, không có cách nào khác, chúng ta
phải đầu t cho giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao chất lợng nguồn nhân lực.
Trong chiến lợc phát triển giáo dục và chiến lợc phát triển nguồn nhân lực ở
Việt Nam đã nêu các mục tiêu cơ bản là: nâng cao chất lợng toàn diện con
ngời Việt Nam về chính trị, đạo đức, ý chí, tri thức, tay nghề, sức khỏe, thể
lực. Sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động hiện có, nhất là số lao động đã
qua đào tạo. Nâng tỷ lệ lao động đợc đào tạo lên gấp 2 lần hiện nay. Hình
thành đội ngũ lao động chất lợng cao có cơ cấu và trình độ đáp ứng yêu cầu
từng bớc đi của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian từ nay
đến năm 2010, chuẩn bị tiền đề về nhân lực cho giai đoạn phát triển tiếp
theo.
Phát triển nguồn nhân lực:
18
Phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lợng và chất lợng
nguồn nhân lực biểu hiện qua các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và
tinh thần cần thiết cho công việc, nhờ vậy mà phát triển đợc năng lực của
họ, ổn định đợc công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế và xã hội của họ

Nh vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình biến đổi nhằm
phát huy, khơi dậy những khả năng con ngời, là phát triển toàn bộ nhân
cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực vật
chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả
về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lợng này
lên trình độ chất lợng khác cao hơn, hoàn thiện hơn.
Khái niệm trên cho ta thấy, phát triển nguồn nhân lực bao gồm cả ba
nội dung cơ bản, đó là: phát triển quy mô và cơ cấu dân số thích hợp; đào
tạo nâng cao chất lợng nguồn nhân lực đáp ứng với yêu cầu CNH, HĐH
quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực.
20
Chơng 2
Thực trạng nguồn nhân lực
các dân tộc thiểu số Thanh Hóa trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.1. Những yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội ảnh hởng đến
nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số Thanh Hóa
2.1.1. Vài nét về lịch sử hình thành tộc ngời thiểu số ở Thanh Hóa
Việt Nam nằm trên ngã ba đờng giao lu tộc ngời và kinh tế - văn hóa
thời cổ đại. Do vị trí đặc biệt đó, từ xa xa trên địa bàn nớc ta đã diễn ra
nhiều làn sóng di c từ bắc xuống, từ nam lên, từ tây sang nhng chủ yếu là từ
bắc xuống. Những đợt di c để tìm không gian sinh tồn ấy kéo dài mãi cho
đến trớc Cách mạng Tháng Tám 1945, thậm chí có bộ phận c dân còn di c
vào nớc ta ngay cả sau 1945. Tình hình này làm cho bản đồ phân bố dân c
của nớc ta rất phức tạp, các tộc ngời bị xé lẻ, phân bố phân tán ở các nơi.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là chính sách dân tộc
"chia để trị" cổ truyền của phong kiến, đặc biệt là của thực dân, đế quốc.
Thực dân Pháp từ khi đặt chân xâm lợc nớc ta đã tìm đủ mọi cách để ngăn
cản xu hớng hợp nhất dân tộc, hòng làm suy yếu lực lợng cách mạng nớc ta.
Chúng dùng đủ mọi thủ đoạn trắng trợn và tinh vi để gây chia rẽ, kỳ thị dân

Phần lớn ngời Thái sinh cơ lập nghiệp ở các huyện Quan Hóa, Bá Thớc,
Long Chánh, Thờng Xuân. Ngời Thái Thanh Hóa có mối quan hệ gần gũi,
gắn bó với ngời Thái Tây Bắc và Lào. Họ đều chung nhau một quan niệm:
Mờng Then là đất tổ của mình. Buổi đầu vào miền núi Thanh Hóa, ngời
Thái sống thành từng Mờng theo các dòng họ.
Dân tộc H'mông c sống trên địa bàn biên giới vùng cao huyện Quan
Hóa cũ. Ngời H'mông di c từ các tỉnh Sơn La, Lai Châu và Lào đến vùng
núi Thanh Hóa cách đây khoảng 200 năm. Ngời Mông vốn không thích
sống xen ghép với dân tộc khác, lại ở núi cao đi lại khó khăn nên ít va chạm
với xã hội.
Dân tộc Thổ c trú hầu hết ở huyện Nh Xuân, hiện nay có hơn 8000
nhân khẩu, chiếm gần 8% dân tộc thiểu số trong tỉnh. Ngời Thổ sống chủ
yếu bằng nghề ruộng, nơng lại gần các trục đờng giao thông thuận lợi nên
cuộc sống cả vật chất và tinh thần có nét khá hơn.
Dân tộc Dao ở miền núi Thanh Hóa có nguồn gốc từ Tuyên Quang,
Vĩnh Phú, Quảng Ninh, chuyển về. Cho đến nay, tổng số ngời Dao có
khaỏng 4.500 nhân khẩu.
Dân tộc Khơ mú là dân tộc thiểu số có ít ngời nhất, so với các dân tộc
thiểu số ở miền núi Thanh Hóa. Ngời Khơ mú hiện nay vẫn sống theo kiểu
khép kín quanh chòm, bản, không muốn tiếp xúc với dân tộc anh em khác.
22
2.1.2 Những yếu tố văn hóa - xã hội ảnh hởng đến việc phát
triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa
Cũng giống nh vùng đồng bào miền núi cả nớc, đơn vị xã hội nhỏ
nhất là chòm bản. Có chòm bản chỉ vài ba nóc nhà nhng cũng có chòm vài
chục gia đình. Thôn bản thờng gắn liền với dòng họ, dòng tộc và là tổ chức
chặt chẽ, đoàn tụ vững chắc đủ khả năng chống trả với thú dữ, với thiên
nhiên cũng nh đối với ngoại bang.
Các hình thức thể hiện quyền lực xã hội của các dân tộc thiểu số tr-
ớc cách mạng nhìn chung đều thể hiện rõ nét tính chất đẳng cấp, tính chất

Bản thân rừng núi là nơi gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, diện
tích canh tác ít, nhiều nơi chỉ gieo trồng đợc 1 vụ, hệ thống sử dụng đất
thấp. Công tác quản lý đất rừng cha tốt và do tập quán canh tác đốt nơng
làm rẫy của đồng bào nên rừng tự nhiên trong nhiều năm qua bị tàn phá, đất
bị xói mòn và lũ lụt thờng xẩy ra do vậy đồng bào các dân tộc gặp nhiều
khó khăn về đời sống, ảnh hởng đến chất lợng của nguồn nhân lực.
Kết cấu hạ tầng của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Thanh Hóa,
mặc dù đã đợc Đảng, nhà nớc chú ý đầu t về giao thông, điện lới, thông tin
liên lạc nhng cũng mới chỉ là chắp vá và còn nhiều thiếu thốn.
Thêm vào đó là mật độ dân c rất thấp. Nhân dân sống rải rác ở các
bản làng, mỗi bản thờng có vài chục hộ sống cách xa nhau, do vậy sự giao
lu của đồng bào miền núi với nhau và với các địa phơng khác gặp nhiều khó
khăn. Sự nghiệp giáo dục, văn hóa, bảo vệ môi trờng và sức khỏe, nâng cao
dân trí gặp nhiều trở ngại. Điều này là một trong những nguyên nhân quan
trọng dẫn đến trình độ dân trí nói chung, chất lợng nguồn nhân lực nói
riêng còn rất thấp.
Tuy vậy, điều đáng mừng là các dân tộc thiểu số sống đan xen nhau
trong một quần c, nhng rất hòa thuận. Xung đột sắc tộc hầu nh không có.
Mỗi dân tộc có tiếng nói và bản sắc văn hóa riêng của mình nên đã tạo ra sự
phong phú và đa dạng trong bản sắc văn hóa của tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số
Thanh Hóa
Trong khuôn khổ có hạn của hệ thống dữ liệu và mục đích cung cấp
thông tin làm căn cứ thực tiễn cho việc đi sâu nghiên cứu các giải pháp cơ
bản nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH của vùng
đồng bào các dân tộc thiểu số Thanh Hóa, mục này chúng tôi tập trung
phân tích diễn biến thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số Thanh
Hóa trong 10 năm, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XXI.
2.2.1. Cơ cấu dân số và nguồn lao động
24

Tỷ lệ % trên TS 42.63 32.80 21.31 0.96 1.41 0.51 0.07 0.31 100.00
(Nguồn Ban DTMN tính theo tỷ lệ tăng dân số bình quân của Tổng Cục
Thống kê)
Dân số các dân tộc thiểu số Thanh Hóa vẫn đang ngày càng tăng
đang là một cản trở lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó ảnh
hởng trực tiếp đến sự phát triển của nguồn nhân lực. Theo kết quả điều tra
dân số thời điểm 1/4/1999, dân số các dân tộc thiểu số Thanh Hóa (bao
gồm 220 xã đồng bào dân tộc) khoảng 850.160 ngời.
Giai đoạn từ 1999-2003, về kinh tế - xã hội, công tác kế hoạch hóa
gia đình vùng dân tộc thiểu số Thanh Hóa đã vợt qua nhiều khó khăn trở
ngại về tâm lý xã hội, về tập tục lạc hậu tồn tại qua nhiều thế hệ và vợt qua
nhiều khó khăn mang tính đặc thù của địa phơng để đạt đợc quy mô dân số
giảm nhanh (tốc độ tăng tự nhiên dân số bình quân thời kỳ 1999 - 2003 là
1,7%). Nh vậy, sau 5 năm, dân số các dân tộc thiểu số tăng 173.743 ngời,
25

Trích đoạn Khôi phục nghề truyền thống, xây dựng các làng nghề Khuyến nghị đối với cơ quan dân tộc miềnnúi của Chính phủ Khuyến nghị đối với tỉnh Thanh Hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status