LUẬN VĂN: Phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Kon Tum - Pdf 15



LUẬN VĂN:
Phát triển nguồn nhân lực các dân tộc
thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Kon Tum

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam đã bước vào năm thứ 20 thực hiện đường lối đổi mới đất
nước với nhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức
nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 trong bối cảnh khoa

của những phong tục tập quán, lối sống còn những nét cỗ hủ, lạc hậu. Bên cạnh
đó, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc phát triển
nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số cũng chưa được cụ thể hoá một cách phù
hợp với điều kiện của từng vùng, từng dân tộc sống trên địa bàn tỉnh KonTum.
Do đó, nhiều tiềm năng to lớn, nhất là tiềm năng con người của đồng bào các
dân tộc thiểu số tỉnh KonTum vẫn chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả,
chưa chuyển hoá thành nội lực cho sự phát triển nhanh và bền vững, chưa đáp
ứng được yêu cầu thực tiễn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh.
Đây là một trong những nguyên nhân chính cản trở sự phát triển kinh tế- xã hội
của tỉnh Kon Tum.
Vì vậy, việc nghiên cứu khoa học nhằm “Phát triển nguồn nhân lực các dân
tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Kon Tum” là vấn
đề đang đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với tiến trình phát triển của tỉnh
Kon Tum trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là
vấn đề được đề cập nghiên cứu ở những mức độ và góc độ khác nhau. Nhiều công
trình đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề về nguồn nhân lực, về giáo dục
- đào tạo, về nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, đáng chú ý
là những công trình sau:
- "Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam" do TS. Đỗ Minh Cương -
PGS.TS Nguyễn Thị Loan chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách làm
rõ quan điểm, định hướng chiến lược và giải pháp chủ yếu cho việc phát triển năng lực giáo
dục bậc cao ở nước ta trong thời kỳ mới.
- "Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam" của tác giả TS. Bùi
Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Cuốn sách tập trung làm rõ trí
tuệ, nguồn lực trí tuệ, vai trò, đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển
của nguồn lực trí tuệ Việt Nam- bộ phận tinh hoa trong nguồn nhân lực Việt Nam
thời gian qua. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ

Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình, bài
viết về vấn đề nguồn nhân lực các DTTS và đã được đăng tải trên các Tạp chí như:
“Chính sách dân tộc đã thực sự đi vào cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở
Kon Tum” của Nguyễn Thanh Cao, tạp chí Tư tưởng Văn hoá 2004; “Chính sách cử
tuyển- một chủ trương đúng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về
phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số” của Nguyễn Thị
Mỹ Trang- Lại Thị Thu Hà, Tạp chí Dân tộc học 2005; “Dạy nghề, giải quyết việc
làm cho thanh niên dân tộc thiểu số tại Kon Tum” của Lê Văn Quyền, Tạp chí Lao

động và xã hội 2005; “Vấn đề dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số ở
nước ta” của Nguyễn Thế Huệ, Tạp chí Cộng sản 2004 Các bài viết này bước đầu
đề cập đến các vấn đề cấp bách hiện nay như giáo dục - đào tạo, việc làm cho đồng
bào dân tộc thiểu số Nhìn chung chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp
và có hệ thống về phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Kon Tum. Việc
nhận thức rõ hơn, đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số là cơ
sở thực tiễn quan trọng để tìm ra phương hướng, giải pháp phát triển và sử dụng có
hiệu quả nguồn nhân lực này phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH vẫn là một đề tài
cần được tiếp tục nghiên cứu, nhất là từ góc độ chính trị, xã hội và từ thực tiễn của
một tỉnh như Kon Tum.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
- Mục tiêu: Trên cơ sở làm rõ thực trạng và xu hướng phát triển nguồn nhân
lực các dân tộc thiểu số ở tỉnh Kon Tum, luận văn đề xuất những phương hướng cơ
bản và giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số của Kon
Tum trong tiến trình CNH, HĐH của tỉnh.
- Nhiệm vụ: Luận văn làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của nguồn nhân lực
các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp CNH, HĐH; phân tích những nhân tố tác động
đến sự phát triển của nguồn nhân lực này.
- Phân tích thực trạng của nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số, từ đó đưa ra
những dự báo khoa học về xu hướng phát triển của nó trong sự nghiệp CNH, HĐH
của tỉnh.

sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy một số vấn đề của chủ
nghĩa xã hội, như vấn đề nguồn nhân lực, vấn đề dân tộc v.v
- ý nghĩa thực tiễn:
Những kết quả đạt được của luận văn có thể là cơ sở thực tiễn đáng tin cậy
để các cấp lãnh đạo, các ngành của tỉnh tham khảo trong quá trình hoạch định chính
sách phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp CNH, HĐH của
Kon Tum
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết.

Chương 1
Nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trước yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở tỉnh Kon Tum
1.1. Nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số
1. 1.1.Những quan niệm chung
* Quan niệm về nguồn nhân lực:
Ngày nay, trong quá trình đổi mới và phát triển, vấn đề nguồn lực phát triển
của một quốc gia, dân tộc đang được đặc biệt chú ý nghiên cứu. Xác định được các
nguồn lực là điều hết sức quan trọng, đảm bảo khả năng thực thi của chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội. Dựa vào các tiêu chí khác nhau người ta phân loại các nguồn
lực như: Nguồn lực con người, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ
thuật, nguồn vốn, nguồn lực bên ngoài (sự hợp tác quốc tế) .v.v Các nguồn lực này
có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội,
nhưng mức độ tác động và vai trò của chúng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã
hội không giống nhau. Trong tất cả các nguồn lực thì nguồn lực con người là quan
trọng nhất, vì nó tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, bởi vì phải thông qua hoạt động của con người thì các nguồn
lực khác mới có thể phát huy được tác dụng, mới có thể biến tiềm năng thành hiện
thực. Chính con người phát hiện và sáng tạo ra những nguồn lực mới phát triển và


phương diện khách thể của con người, coi con người như một nguồn tài nguyên, một
loại của cải quý giá cần được khai thác triệt để, hợp lý có hiệu quả, nhất là nguồn
tiềm năng trí tuệ.
Từ một số cách tiếp cận và những nội dung trên có thể hiểu nguồn nhân lực
là phạm trù dùng để chỉ số dân, cơ cấu dân số, đặc biệt là chất lượng người với tất cả
những tiềm năng, năng lực và phẩm chất làm nên sức mạnh của nó trong sự phát triển
xã hội.
* Quan niệm về nguồn nhân lực các DTTS:
Dân tộc thiểu số:
Trong từ điển bách khoa Việt Nam và nhiều từ điển tiếng Việt khác đã nêu
rõ khái niệm này:
Dân tộc thiểu số: dân tộc có số dân ít (có thể là hàng trăm, hàng
ngàn và cho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có
nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dân đông, trong các quốc
gia có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ý
thức về tổ quốc chung và ý thức về dân tộc mình. Những DTTS có thể
cư trú tập trung hoặc rải rác xen kẽ, thường ở những vùng ngoại vi, vùng
hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn khó khăn. Vì vậy,
các Nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc,
nhằm xóa bỏ dần những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế - xã hội
giữa dân tộc đông người và các dân tộc thiểu số [33, tr.655].

Như vậy, quan niệm trên đã nói lên nét đặc thù của các DTTS đó là: có số dân ít,
cư trú trong một quốc gia thống nhất; trong quốc gia đó có thể có hai, ba, bốn, thậm chí
vài chục DTTS như ở Việt Nam, Trung Quốc, Nga [34, tr.239].
DTTS dù dân số ít song có tiếng nói riêng và có thể có chữ viết riêng, những
phong tục tập quán, những truyền thống văn hóa bản địa có nhiều nét độc đáo riêng.
ở một số nước thuộc địa, phụ thuộc do bị chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản thực
hiện chính sách đồng hóa cưỡng bức và chính sách ngu dân, nên một số dân tộc thiểu

đoàn kết các dân tộc, cùng nhau xây dựng đất nước, góp phần tăng cường khối đại
đoàn kết các dân tộc
+ Các DTTS có nền văn hoá rất đa dạng và phong phú mang đậm bản sắc
của dân tộc mình, cho dù có sự phát triển giao thoa giữa các nền văn hoá, giữa các
dân tộc với nhau.Tuy nhiên, do nhiều dân tộc cư trú ở những địa bàn xa xôi, hiểm trở,
tách biệt, không thuận lợi cho phát triển nên việc bảo lưu, giữ gìn bản sắc văn hoá của
các dân tộc, việc loại bỏ những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu và việc tiếp thu những
giá trị mới, tiến bộ cũng gặp nhiều khó khăn.
+ Chất lượng nguồn nhân lực các DTTS nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng
được yêu cầu của quá trình CNH, HĐH. Mặc dù trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước ta đã quan tâm đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển nguồn
nhân lực này, nhưng hiện nay so với dân tộc đa số, trình độ học vấn của nguồn nhân
lực các DTTS nhìn chung còn rất thấp, tỷ lệ mù chữ, tái mù chữ cao, trình độ chuyên
môn kỹ thuật, tay nghề thấp, lực lượng lao động tập trung chủ yếu trong lĩnh vực

nông nghiệp, ở nông thôn và hầu hết chưa qua đào tạo. Bên cạnh đó, đồng bào các
DTTS còn chịu ảnh hưởng nặng của những tư tưởng, tâm lý, thói quen của người sản
xuất nhỏ và các phong tục tập quán cũ, lạc hậu. Đó là những nguyên nhân trực tiếp
ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nguồn nhân lực này.
* Quan niệm về phát triển NNL các DTTS:
Suy cho cùng, toàn bộ học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin là hướng tới
giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức bóc lột, bất bình đẳng xã hội; tạo mọi
điều kiện để con người phát triển toàn diện. Khẳng định điều này, Ph.Ăngghen
viết: “Dĩ nhiên xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu không giải
phóng cho mỗi một cá nhân riêng biệt” [19,tr.406]. Như vậy,để phát triển xã hội
phải lấy sự phát triển con người làm mục đích, hướng tới xây dựng con người
hoàn thiện với tư cách là chủ thể của sự phát triển xã hội. Trong tiến trình của
cuộc cải biến cách mạng, con người luôn luôn là mục tiêu, đồng thời là động lực
của tiến trình đó. Thực tế cho thấy, ở đâu các lực lượng cách mạng mà đánh giá
đúng vai trò của con người, biết phát huy nó một cách có hiệu quả thì sự nghiệp

khá nhiều trong các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau:
Theo GS.VS.TS Phạm Minh Hạc:

Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho
con người trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực
làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực
phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát
triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước [14, tr.285].
TS. Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: phát triển nguồn nhân lực được coi là quá
trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp
ứng tốt hơn yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội [5, tr.13]. Theo tác giả, quá
trình này bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu
kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người.
Như vậy, mặc dù với nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về phát
triển nguồn nhân lực, song tựu chung lại, phát triển nguồn lực con người chính là
nhằm phát triển con người cao về trí tuệ, khoẻ mạnh về thể chất, trong sáng về tinh
thần Tuy nhiên, sự phát triển đó phải gắn với từng đối tượng, từng dân tộc.
Tiếp thu các quan điểm nêu trên trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng
cộng sản Việt Nam thống nhất quan điểm: lấy việc phát huy nguồn lực con người làm
yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Hiện nay, Việt Nam đang trong
quá trình “đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức” nhằm “tranh thủ
cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút
ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN” [13, tr.87]. Một trong
những đặc trưng của kinh tế tri thức là phát triển chủ yếu dựa vào tri thức. Mà tri
thức là do con người sáng tạo ra. Do vậy, sự thành bại trong công cuộc đổi mới và
CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức hoàn toàn phụ thuộc vào sức
lực và trí tuệ sáng tạo của con người Việt Nam. Vì vậy, chăm lo phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao để tạo ra năng lực nội sinh cho phát triển trở thành vấn đề

thành quả mà công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang lại.
Trong học thuyết duy vật lịch sử của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-
Lênin coi con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố
hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất, mà hơn nữa
con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Bằng hoạt
động lao động sản xuất, con người đã cải tạo tự nhiên để thoả mãn nhu cầu của
mình, đồng thời cải tạo chính bản thân mình. Ph.Ăngghen viết: “Lao động là
nguồn gốc của mọi của cải , là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống
loài người và như thế đến một mức mà trên ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao
động đã sáng tạo ra bản thân con người” [20, tr.641].
Đối với đồng bào các DTTS, chính sách dân tộc nhất quán: “Bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” [13, tr.121] của Đảng và Nhà nước
ta đang từng bước đi vào cuộc sống, làm cho đồng bào các dân tộc nhận thức rõ được
tầm quan trọng của sự nghiệp CNH, HĐH. Chính vì vậy, bằng sự nỗ lực phấn đấu
không ngừng, các DTTS cùng với nhân dân cả nước đóng vai trò là chủ thể tích cực
tham gia trực tiếp vào quá trình lao động sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần, đồng thời góp phần quan trọng vào quá trình CNH, HĐH, mà trước hết là CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn nơi địa phương đồng bào sinh sống, thực hiện tốt công
tác xoá đói giảm nghèo, định canh định cư, góp sức người, sức của vào xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn; từng bước xoá bỏ phương thức sản xuất lạc hậu, kém hiệu quả,
đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khắc phục tình trạng chênh lệch quá lớn
giữa vùng núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng.

Thứ hai, nguồn nhân lực các DTTS là chủ thể sáng tạo, giữ gìn, phát huy và
hưởng thụ các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc của các tộc người, góp phần làm
phong phú và đa dạng nền văn hoá chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá dân tộc có chiều sâu cội nguồn có chiều
dài lịch sử và chủ thể sáng tạo văn hoá rất thông minh, cần cù. Đó là kết quả hàng nghìn
năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, trong đó không thể không nói đến sự đóng góp to lớn của nguồn nhân

ưa chuộng, thay vào đó là các bộ âu phục; một số phong tục, tập quán như cưới xin
cũng ít nhiều bị thay đổi từ trang phục cho đến hình thức tổ chức ; hiện tượng nam
nữ thanh niên không thiết tha với những làn điệu truyền thống của dân tộc mình; bên
cạnh đó, còn xảy ra tình trạng đáng lo ngại như: nạn đào bới cổ vật, trộm cắp nhạc cụ
truyền thống của các dân tộc v.v
Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các DTTS trong giai đoạn
hiện nay là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo tồn, phát triển các giá trị văn hoá truyền
thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá tiên tiến phù hợp với điều kiện kinh tế,
chính trị của từng dân tộc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào các DTTS
tiếp tục phát triển, sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá mới.

Thứ ba, nguồn nhân lực các DTTS là chủ thể giữ gìn an ninh biên giới, giữ
vững chủ quyền quốc gia và đấu tranh làm thất bại những âm mưu chia rẽ, phá hoại
của các thế lực thù địch.
Xuất phát từ đặc điểm cư trú của đồng bào DTTS ở những địa bàn vùng cao,
vùng sâu, vùng xa, đặc biệt lại là những vùng biên giới giáp với các nước, đó là
những nơi thông thương, phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá nhưng cũng là địa bàn
có nhiều vấn đề phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Lợi dụng những
vấn đề đó, trong những năm gần đây, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tăng
cường tuyên truyền, kích động chống phá cách mạng, khoét sâu vào những vấn đề
nhạy cảm như: đất đai, sự chêch lệch mức sống , kết hợp với việc lợi dụng vấn đề
tôn giáo ở Việt Nam để tuyên truyền đạo trái phép vào vùng DTTS nhằm tạo nền
tảng tư tưởng và xã hội cho sự ra đời của “Nhà nước Đề Ga tự trị”, “Nhà nước
Khơmer Crôm”, “Vương quốc Mông” Mặt khác, các thế lực thù địch còn kích động
tư tưởng dân tộc hẹp hòi, gieo rắc quan điểm về quyền tự trị dân tộc, về một nhà
nước riêng, hoặc tổ chức các cuộc bạo động, gây rối nhằm lật đổ chính quyền cách
mạng, điển hình là bạo động chính trị diễn ra ở Tây Nguyên đòi thành lập “Nhà nước
Đề Ga tự trị” vào tháng 02/2001 và tháng 4/2004.
Trong những năm qua, nhằm đấu tranh làm thất bại những âm mưu chia rẽ,
phá hoại của các thế lực thù địch, Đảng ta chủ trương tiếp tục thực hiện đường lối đại

thái, giao đất giao rừng cho từng hộ gia đình để tự họ quản lý. Có như vậy đồng bào
các DTTS mới thực sự trở thành chủ thể giữ gìn bảo vệ môi trường sinh thái, tạo sự
phát triển bền vững.

Tóm lại, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nguồn
nhân lực các DTTS đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho
chính bản thân và xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, đấu tranh
chống các thế lực thù địch, làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình” của chúng và là
lực lượng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, phát huy vai trò
của nguồn nhân lực các DTTS là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX đề ra:
Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy
sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập thống nhất Tổ quốc,
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững
bước đi lên CNXH [12, tr.12-13].
1.2. Đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Kon Tum và
những yêu cầu về sự phát triển Nguồn Nhân Lực các dân tộc thiểu số của tỉnh
1.2.1. Đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Kon Tum
Kon Tum là một tỉnh nghèo nhất trong cả nước. Sau ngày tái lập tỉnh
(1991), phần lớn cơ sở vật chất kỹ thuật của tỉnh nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế kém phát
triển, trình độ dân trí thấp. Bên cạnh đó, do điều kiện vị trí địa lý hiểm trở, giao thông
không thuận lợi nên tốc độ phát triển của Kon Tum còn chậm so với các tỉnh trong
cả nước.
Những năm gần đây, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương,
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Kon Tum đã đoàn kết, nhất trí, khắc phục
khó khăn, phát huy những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, huy động nội lực, tranh
thủ ngoại lực, từng bước đưa Kon Tum vươn lên thoát nghèo, tạo “thế và lực” mới

trong hội nhập và phát triển. Vì vậy, cùng với cả nước, Kon Tum thực hiện CNH,

xuất lương thực, Kon Tum tập trung chủ yếu vào cây lúa và ngô, bằng các chương
trình khai hoang, cải tạo ruộng, giảm diện tích lúa rẫy. Nếu năm 1996, diện tích lúa
đông xuân là 3.383 ha thì năm 2004 tăng lên 5.848 ha; diện tích ngô tăng khá, từ
3.248 ha (1996) lên 8.667 ha (2004) [35]. Cùng với mở rộng diện tích, trình độ thâm
canh lúa của nông dân cũng được nâng cao nhờ áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật,
đặc biệt đưa giống mới vào canh tác. Bên cạnh đó, chú trọng phát triển các loại cây
công nghiệp ngắn ngày và lâu năm như: sắn, mía, cà phê, cao su Đến nay về cơ bản
nhân dân trong tỉnh đã thoát khỏi cảnh đói giáp hạt, đồng thời tạo ra sản phẩm có giá
trị kinh tế cao, cung cấp nguyên liệu dùng cho công nghiệp chế biến và hàng hoá có
giá trị xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo cho
đồng bào các dân tộc ở Kon Tum.
Thứ hai, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Kon Tum diễn ra với tốc độ chậm,
quy mô nhỏ bé, sử dụng công nghệ, trang thiết bị lạc hậu là phổ biến.
Cùng với cả nước, KonTum thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong
điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, tuy vậy, đến nay cũng đã đạt được những thành
tựu bước đầu đáng kể. Tổng sản phẩm (GDP) bình quân hàng năm tăng 11%; giai
đoạn 2000-2005 tỷ trọng công nghiệp, xây dựng tăng từ 15,69% lên 19,04%, thương
mại dịch vụ tăng từ 38,05% lên 38,58%, nông - lâm - thủy sản từ 45,49% giảm còn
42,38%. Thu ngân sách nhà nước đạt 280 tỷ đồng/năm.

Trích đoạn Những quan điểm cơ bản Nhóm giải pháp kinh tế Nhóm giải pháp về chính trị Nhóm giải pháp về văn hóa xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status