Thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc - Pdf 26

Thực trạng NNL các DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới
DẪN LUẬN
Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn tài nguyên nhân lực cung cấp sức lao động cho quá trình phát
triển kinh tế - xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số bởi nó đóng vai trò tạo ra mọi giá trị về
của cải vật chất, văn hoá và dịch vụ cho xã hội. NNL bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động, bất kể trạng thái có hay không làm việc.
Nằm ở phương vị Tây-Bắc của thủ đô Hà Nội, trong phạm vi từ bờ phải sông Hồng đến lưu
vực sông Đà, sông Mã, Tây Bắc là vùng đất rộng người thưa, tiềm năng đất đai, rừng, nguồn nước,
hệ sinh thái động thực vật được xếp vào tốp đứng đầu trong 8 vùng kinh tế của cả nước, có nhiều
tiềm năng to lớn cho công cuộc CNH-HĐH, đặc biệt là thuỷ điện và khai khoáng.
Tuy nhiên, Tây Bắc hiện đang phải đối mặt với những khó khăn, trở ngại trong quá trình
CNH-HĐH. Đó là một loạt các vấn đề như: trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác nông, lâm nghiệp
nói chung còn lạc hậu, tình trạng du canh du cư, đốt phá rừng làm nương, độc canh và quảng canh
vẫn phổ biến ở các xã vùng cao. Cán bộ thiếu về số lượng, bất cập về cơ cấu, thấp về trình độ, nhất
là cán bộ khoa học - kỹ thuật cao, cán bộ quản lý kinh tế giỏi, giáo viên các trường phổ thông các
cấp từ tiểu học đến trung học và cao đẳng, đại học. Đội ngũ cán bộ có trình độ đại học là con em các
dân tộc thiểu số còn quá ít, trong khi đó đội ngũ cán bộ miền xuôi lên công tác ở Tây Bắc chưa yên
tâm gắn bó lâu dài. Những chương trình đầu tư phát triển kinh tế-xã hội dành cho Tây Bắc tuy đạt
được những kết quả bước đầu, nhưng chưa bền vững, chưa ổn định và còn cách xa so với mục tiêu
đề ra. Đầu tư của Nhà nước cho vùng Tây Bắc chưa tương xứng cả về vốn ngân sách và đội ngũ cán
bộ khoa học - kỹ thuật, công nhân lành nghề.
Trước thực tiễn đó, Báo cáo chuyên đề “Thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số
vùng Tây Bắc” sẽ tập trung đánh giá thực trạng chất lượng NNL và công tác phát triển NNL các
DTTS trong vùng. Từ đó đề xuất những giải pháp phát triển NNL các DTTS đáp ứng yêu cầu CNH-
HĐH của vùng Tây Bắc nói riêng và của cả nước nói chung.
Báo cáo sử dụng số liệu từ các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê từ năm 1999 đến nay, số
liệu của các báo cáo khoa học và của các công trình chuyên khảo đã công bố.
Trong quá trình thu thập thông tin, chúng tôi gặp nhiều khó khăn do thiếu các số liệu cơ bản
đối với từng dân tộc ở từng địa phương cụ thể. Điều đó đã gây trở ngại lớn tới khả năng phân tích,
tổng hợp. Tuy nhiên, với những số liệu đã thu thập được, chúng tôi đã cố gắng đưa ra những luận cứ
chính xác hoặc tương đối chính xác, làm cơ sở cho các luận chứng để chứng minh các luận đề trong

2.2.1. Về năng lực 5
2.2.2. Về phẩm chất 9
2.2.3. Về chất lượng tổng hợp 11
2.3. Cơ cấu NNL 1
6
2.3.1. Về cơ cấu thành phần 16
2.3.2. Về cơ cấu loại hình 17
2.3.3. Về cơ cấu lãnh thổ 19
2.4. Công tác phát triển NNL DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới 2
0
2.4.1. Những đổi mới trong lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng 20
2.4.2. Những đổi mới quản lý của các cấp Chính quyền 21
2.4.3. Nâng cao năng lực làm chủ của Nhân dân trong công tác phát triển NNL 22
3. Một số chính sách và giải pháp phát triển NNL DTTS vùng Tây Bắc 24
3.1. Giải pháp về dân số và kế hoạch hoá gia đình 2
4
3.2. Các chính sách và giải pháp về quản lý việc phân bố, di chuyển và sử dụng NNL 2
5
3.3. Các chính sách và giải pháp về đào tạo và bồi dưỡng NNL 2
5
3.4. Các chính sách và giải pháp về tuyển dụng, đãi ngộ 2
6
3.5. Các giải pháp nhằm hạn chế và kiểm soát thất nghiệp 2
6
3.6. Các giải pháp nhằm nâng cao tính năng động và hiệu quả hoạt động của nền kinh 2
3
Thực trạng NNL các DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới
tế tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho sự phát triển của NNL 7
3.7. Các giải pháp về công tác quản lý nhà nước 2
8

2
FH) phân bố ở địa hình có độ dốc lớn; đất Feralít đồi núi
thấp (N
3
F) phân bố trên địa hình có độ dốc trung bình hoặc tương đối lớn; đất núi đá vôi (Fv) phân
bố ở các vùng đá vôi và địa hình casstơ cổ, nhóm đất dốc tụ và phù xa sông suối (P), đất Feralít biến
đổi do trồng lúa (F1), đất xung tính (T), đất lầy than bùn (Gl) phân bố ở các vùng thấp ven sông suối
và các thung lũng, các chân núi hoặc vùng bằng trước núi, gần khu dân cư.
Khí hậu Tây Bắc mang tính nhiệt đới gió mùa, mùa khô thường bắt đầu từ tháng 10 đến tháng
3 năm sau, mùa mưa thường từ tháng 4 đến tháng 9. Lượng mưa trung bình/năm khoảng 1.500 –
2.200 mm. Các hiện tượng gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy ra. Nhiệt độ trung bình hàng năm là
24,7
0
C; cao nhất 41,2
0
C; thấp nhất 19
0
C. Tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ trung bình từ 27-
29
0
C; tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình 15,5-16,5
0
C. Tần suất sương muối xảy ra: 0,9
ngày/năm.
Tây Bắc có nhiều sông suối lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Mã, sông Nậm U cùng nhiều
sông suối lớn nhỏ khác. Bình quân cứ 1 km
2
có 2,5 m dòng chảy nhưng khó có điều kiện phát triển
giao thông đường thuỷ bởi sông suối Tây Bắc đều có độ dốc lớn và nhiều ghềnh thác. Chế độ thuỷ
văn có 2 mùa rõ rệt: mùa khô nước rất cạn - nhiều đoạn cạn khô; nhưng vào mùa mưa nước dâng

nghiệp; công nghiệp chế biến không bền vững. Nguyên liệu cho công nghiệp phong phú nhưng chất
lượng thấp, chi phí cao do kỹ thuật và công nghệ lạc hậu. Khu vực FDI quá nhỏ (ở Hòa Bình chiếm
4%, các tỉnh còn lại không đáng kể). Tình trạng độc canh, du canh vẫn tồn tại. Lúa nương còn
nhiều, năng suất thấp. Các cây trồng khác phân tán, chủ yếu phục vụ tự cấp tự túc. Năng suất và
chất lượng cây công nghiệp, cây ăn quả thấp. Phương thức chăn thả còn phổ biến. Cơ cấu sản xuất
lâm nghiệp không hợp lý. Thủy sản vùng lòng hồ các thủy điện có tiềm năng rất lớn, nhưng chưa
được khai thác.
Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội đã tác động rất
lớn đến chất lượng NNL các DTTS trong vùng.
6
Thực trạng NNL các DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới
2. THỰC TRẠNG DÂN SỐ VÀ NNL CÁC DTTS VÙNG TÂY BẮC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1. Dân số và LĐ
2.1.1. Về quy mô và đặc điểm dân số
Theo những số liệu thống kê chính thức, tính đến ngày 31/12/2008, toàn vùng Tây Bắc có tổng
dân số 4.017.600 người, chiếm 4,66% dân số cả nước. Trong đó có 23 DTTS [TL-16,tr.8] và một số
thành phần dân tộc khác chiếm khoảng 71,52% dân số toàn vùng (≈ 2.873.387 người), và chiếm
23,7% dân số các DTTS trong toàn quốc.
Các DTTS vùng Tây Bắc có dân số ít và không đồng đều. Trong số 23 DTTS vùng Tây Bắc,
có 02 dân tộc trên 500 nghìn người (dân tộc Thái, Mường); 03 dân tộc có dân số từ 100 nghìn đến
500 nghìn người (dân tộc Tày, Mông, Dao); 05 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 50 nghìn
người (dân tộc Nùng, Giáy, Kháng, Xinh Mun, Hà Nhì); 06 dân tộc có dân số từ 5 nghìn người đến
10 nghìn người (dân tộc Sán Chay, Lào, La Ha, Phù Lá, La Hủ, Khơ Mú); 07 dân tộc có dân số dưới
5 nghìn người (dân tộc Hoa, Lự, La Chí, Mảng, Cống, Si La, Bố Y).
Trong số 23 DTTS cư trú trên địa bàn Tây Bắc hiện nay, có 09 dân tộc có dân số chiếm trên
90% tổng số người cùng dân tộc của cả nước. Đó là: dân tộc Xinh Mun (99,82%); La Ha (99,78%);
Kháng (99,67%); Cống (99,64%); Hà Nhì (99,38%); La Hủ (99,30%); Mảng (98,98%); Lào
(96,15%); Lự (90,57%). Xét cùng tiêu chí này, còn có 06 dân tộc có dân số trên 50% tổng số người
đồng tộc trên toàn quốc. Đó là: dân tộc Phù Lá (89,16%); Giáy (72,51%); Si La (65,59%); Bố Y
(63,19%); Mông (60,12%); Khơ Mú (51,01%).

2.1.2. Về lực lượng LĐ
LĐ xã hội (15-60 tuổi) của các DTTS vùng Tây Bắc tính đến 31/06/2008 là 2.249.287 người,
chiếm 78,27% dân số các dân tộc thiểu số toàn vùng. Trong đó, thành thị là 314.900 người (14%);
nông thôn là 1.934.386 người (86%) [TL-29].
Tốc độ tăng dân số và lực lượng LĐ của các DTTS vùng Tây Bắc cao và liên tục nên nguồn
bổ sung vào lực lượng LĐ rất lớn. Tốc độ tăng dân số bình quân thực tế qua các năm ít thay đổi (từ
2,4%-3,5%/năm), LLLĐ tăng bình quân trên 4%/năm và trong những năm tới LLLĐ vẫn tăng ở
mức ≈ 4%/năm.
Tốc độ gia tăng dân số cao khiến cho bình quân số người/hộ lớn. Năm 2004, bình quân đầu
người/hộ là 5,15; cao hơn số bình quân của cả nước (4,36 người/hộ) [TL-27]. Quy mô hộ cao dẫn
đến hệ quả là số người ăn theo lớn, sức ép về LĐ, việc làm cao, thu nhập bình quân đầu người thấp,
mức sống và chất lượng cuộc sống thấp gây ảnh hưởng to lớn đến chất lượng NNL.
Số LĐ DTTS có hoạt động kinh tế thường xuyên tính đến 31/06/2008 là 1.828.670 người,
chiếm 81,3% NNL (trong đó nam chiếm 80,3%; nữ chiếm 79,5%; thành thị chiếm 68,2%; nông thôn
chiếm 71,4%). Nhóm tuổi có hoạt động kinh tế chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm tuổi từ 25-49 tuổi với
65,4%; thấp nhất là nhóm tuổi 55-59 tuổi với 4,7%.
Trong số NNL các DTTS có việc làm thì có tới 14,2% LĐ chưa đi học (≈ 295.671 người), số
đã tốt nghiệp phổ thông chiếm 82,4% (≈ 1.506.824 người); số có trình độ Cao đẳng chiếm 1,1% (≈
20.115 người); số có trình độ đại học trở lên chiếm 2,3% (≈ 42.059 người).
Số lượng người đang thiếu việc làm bao gồm những LĐ tại thời điểm điều tra không có việc
làm nhưng có nhu cầu làm việc. Ở Tây Bắc, trong tổng số 37.536 LĐ người DTTS không làm việc
tại thời điểm 31/06/2008 thì có tới 29.578 người không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc; số
người không có nhu cầu làm việc là 8.116 người. Họ là những học sinh đang theo học phổ thông,
quân nhân tại ngũ, sinh viên đang theo học ở các trường đào tạo CMKT các cấp, những cử nhân, kỹ
sư đã tốt nghiệp nhưng chưa muốn tham gia vào thị trường LĐ mà còn muốn học thêm những
8
Thực trạng NNL các DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới
chuyên ngành mới hoặc theo học ở cấp cao hơn nhằm tìm kiếm cho mình những việc làm phù hợp
với nguyện vọng, nhu cầu.
Số lượng LĐ DTTS đang thất nghiệp ở Tây Bắc tính đến 30/6/2008 là 75.889 người, chiếm

trên 80%, nhiều hơn ≥ 10% so với bình quân chung của cả nước; trong khi tính chung trên toàn thế
giới thì ngũ cốc chỉ cung cấp khoảng 65% nguồn dinh dưỡng. Chính vì ăn uống thiếu thốn nên tình
trạng thiếu máu của bà mẹ có thai còn trầm trọng, tỷ lệ trẻ em mới sinh nặng dưới 2.500g cũng như
9
Thực trạng NNL các DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới
trẻ em suy dinh dưỡng còn cao. Cùng với đó là tình trạng vệ sinh thực phẩm hiện nay rất đáng lo
ngại. Việc sử dụng các loại hoá chất không đúng quy định, sử dụng nhiều loại phẩm màu đã bị cấm
để chế biến thực phẩm làm cho một loạt các chỉ tiêu khác liên quan đến y tế, chăm sóc sức khoẻ vệ
sinh môi trường còn ở mức thấp.
+ Trí lực (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn - kỹ thuật được đào tạo, kỹ năng nghề
nghiệp)
Về trình độ học vấn, những số liệu thống kê cho thấy công tác giáo dục và đạo tạo của chúng
ta đối với đồng bào các DTTS vùng Tây Bắc trong những năm qua đã có những tiến bộ đáng kể. Tỷ
lệ LĐ biết chữ đạt 84,1%, so với năm 1989 đã tăng 13,6%. Đến năm 2006, số người đi học đạt
83,4%; tăng 12,9% so với năm 1999. Tuy nhiên, trình độ văn hoá của NNL các DTTS vùng Tây
Bắc vẫn còn thấp kém.
Tỷ lệ người dân chưa đi học của các DTTS vùng Tây Bắc còn rất cao: 16,6%; cao gấp 2,5 lần
so với bình quân chung cả nước. Trong đó, có một số dân tộc có tỷ lệ người dân chưa đi học rất cao:
người La Hủ là 86,1% dân số trong độ tuổi (từ 5 tuổi trở lên) chưa bao giờ đi học. Tỷ lệ này ở vùng
người Mảng là 62,59%; người Mông là 55,65%; người Hà Nhì là 52,56%... [Xem biểu 1].
Tuy hiện nay tất cả các địa phương trong vùng Tây Bắc đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu
học nhưng tỷ lệ số người không biết chữ (gồm cả mù chữ và tái mù chữ) vẫn rất cao (15,9%); cao
nhất trong các vùng kinh tế trong cả nước và có chiều hướng gia tăng. Số người biết đọc, biết viết
cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa thành thị và nông thôn, nơi có đông đồng bào DTTS sinh sống
(thành thị: 97,5%; nông thôn: 81,8%) và chênh lệch giữa Tây Bắc với các vùng kinh tế khác trong
cả nước. Trong 8 vùng kinh tế thì Tây Bắc chỉ có 84,1% dân số từ 10 tuổi trở lên biết đọc, biết viết;
kém 10% so với tỷ lệ chung của toàn quốc và kém 13,1% so với vùng có tỷ lệ cao nhất là Đồng
bằng Sông Hồng (97,2%) [Xem biểu 2].
Số năm học bình quân của dân số 20 – 24 tuổi của các DTTS vùng Tây Bắc chỉ là 8,10%
(thành thị: 11,85%; nông thôn: 7,5%); thấp hơn 2,1% so với bình quân chung của cả nước. Tỷ lệ tốt

Về chất lượng NNL các DTTS vùng Tây Bắc, trong Báo cáo Đề tài nghiên cứu “Việc thực
hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ” do Vụ Dân tộc thực
hiện gần đây, nhóm tác giả đã đưa ra những tiêu chí phân loại và đánh giá như sau:
Loại hình thứ nhất: Đội ngũ cán bộ dân tộc ở vùng cao, kinh tế phát triển chậm. Thuộc loại
này có hai cấp độ:
Cấp độ thấp: bao gồm các dân tộc cư trú ở vùng cao, phân tán, cuộc sống chưa ổn định, còn du
canh du cư. Các dân tộc này chủ yếu chỉ có cán bộ cấp bản, xã. Thuộc cấp độ này ở Tây Bắc có 08
dân tộc là Si La, Kháng, Xinh Mun, Mảng, La Ha, Khơ Mú, La Chí, Lự.
Cấp độ khá: Bao gồm một số dân tộc đã có cán bộ, viên chức ở cấp huyện, tỉnh, nhưng chỉ là
cá biệt, năng lực còn rất thấp. Thuộc cấp độ này ở Tây Bắc có tới 08 dân tộc là: Cống, Bố Y, La Hủ,
Phù Lá, Lào, Sán Chay, Giáy, Hà Nhì.
Loại hình thứ hai: Đội ngũ cán bộ dân tộc đã hình thành, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu cả
về số lượng lẫn chất lượng. Ở loại này, đã có đại diện ở các cấp trong hệ thống chính trị từ Trung
ương đến cơ sở, nhưng số lượng không nhiều và còn yếu về nhiều mặt. Trong loại này cũng có hai
cấp độ:
Cấp độ thấp: Điển hình ở Tây Bắc là đội ngũ cán bộ của các dân tộc Mông và Dao.
11
Thực trạng NNL các DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới
Cấp độ khá: Đó là tình hình đội ngũ cán bộ dân tộc có số dân trội trong một hoặc vài ba tỉnh.
Đội ngũ này đã có số lượng đáng kể, đảm đương được công việc trên một số lĩnh vực, nhưng vẫn
chưa ngang tầm với nhiệm vụ, vẫn cần có lực lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia tăng
cường hướng dẫn, giúp đỡ. Cấp độ này ở Tây Bắc tiêu biểu là đội ngũ cán bộ người Thái.
Loại hình thứ ba: Các dân tộc có đội ngũ cán bộ khá đủ về số lượng, đạt được tiêu chuẩn chất
lượng chung, tham gia công tác ở các ngành, các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Trong loại này cũng
có hai cấp độ:
Cấp độ thấp: ở Tây Bắc đội ngũ cán bộ dân tộc Nùng, Mường là tiêu biểu. Trong đội ngũ này
đã hình thành lực lượng trí thức, tuy chưa nhiều, hầu hết đã có đủ năng lực đảm nhiệm vị trí then
chốt trong lãnh đạo, quản lý và một số ngành, một số có thể thoát ly khỏi địa phương tăng cường
cho các dân tộc, địa phương khác.
Cấp độ cao: Điển hình nhất ở Tây Bắc là đội ngũ cán bộ dân tộc Tày, Hoa [TL-18].

việc theo kế hoạch, chưa có ý thức độc lập tự chủ. Họ quan tâm đến những lĩnh vực trong một
khuôn khổ nhất định, hạn chế nhưng cơ bản và thiết thực như học tập và sức khoẻ, việc làm ổn định
chứ chưa quan tâm đến những lĩnh vực mở rộng hơn như khoa học công nghệ, giải trí. Đó là hệ quả
do cuộc sống tại vùng Tây Bắc từ khi đổi mới đến nay vẫn ít có những biến đổi, cạnh tranh, khoa
học kỹ thuật chưa phát triển như những vùng kinh tế khác. Thêm vào đó, việc làm ổn định đang là
vấn đề nóng bỏng đối với đa số lực lượng LĐ xã hội của các DTTS vùng Tây Bắc hiện nay thì nói
gì đến niềm tin và ý chí vào những hoạt động xã hội, vui chơi giải trí, kiếm nhiều tiền và các hoạt
động mở rộng khác.
Điều đó cho thấy, tâm lực của NNL trẻ các DTTS là một lực cản lớn đối với công cuộc CNH-
HĐH hiện nay, bởi lẽ phong cách và quan hệ LĐ kiểu cần mẫn, “chịu thương, chịu khó” không còn
thích hợp. Thói quen LĐ dựa chủ yếu vào kinh nghiệm tích luỹ chính là lực cản đối với việc áp
dụng các tiến bộ khoa học công nghệ. Vì vậy, quá trình CNH-HĐH đòi hỏi phải có những biện pháp
nhằm thay đổi chính tư duy và tác phong sản xuất người LĐ các DTTS vùng Tây Bắc, chuyển họ
dần trở thành những con người có tác phong công nghiệp.
2.2.2. Về phẩm chất
- Phẩm chất đạo đức của các DTTS ở Tây Bắc kết tinh trong những thuần phong mĩ tục từ
ngàn đời nay và còn in dấu đậm nét trong đời sống xã hội hôm nay, bao hàm trong đó là cả mặt tích
cực và mặt tiêu cực. Về mặt tích cực, đó là tính nhân ái trong gia đình, cộng đồng, tinh thần đoàn
kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, nếp sống kính già, yêu trẻ, tôn trọng già làng, trưởng bản, trưởng
dòng họ, tôn vinh bản sắc văn hoá dân tộc, tôn thờ tổ tiên nòi giống…
Mặt tiêu cực của phẩm chất đạo đức thể hiện qua những hủ tục như săn bắt chim thú quý
hiếm, tục cướp vợ dẫn đến nhiều trường hợp cưỡng ép bằng vũ lực mà không xuất phát từ tình yêu,
hôn nhân mua bán dẫn đến hiện tượng thách cưới cao xa, cưới hỏi tốn phí quá mức cần thiết, tệ chặt
phá rừng bừa bãi, trồng cây có chất gây nghiện như thuốc phiện, cần sa, xử dụng các chất ma tuý,
tảo hôn, coi thường phụ nữ. Thêm vào đó là bệnh lười suy nghĩ, ưa nhàn hạ là thói xấu của tính tiểu
nông. Tư tưởng an phận, được mùa thì xa hoa lãng phí; mất mùa thì đổ vạ tại trời và chịu đói nằm
co, người tốt là người chịu làm theo tập quán nên tính sáng tạo của con người bị hạn chế.
+ Phẩm chất chính trị của các DTTS vùng Tây Bắc thể hiện trong tinh thần đoàn kết, thống
nhất để chống áp bức, chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền đất nước. Có thể dẫn chứng đặc điểm này
ở đồng bào dân tộc Mông.

Phẩm chất thẩm mỹ của các DTTS vùng Tây Bắc còn thể hiện ở đặc điểm yêu cái đẹp, cái tốt -
tức cái thiết thực (người lý tưởng trong mắt mọi người không những đẹp mà còn phải hiền lành,
chăm chỉ, khéo léo). Trong các tiêu chí kén chọn “dâu hiền”, “rể thảo” của các DTTS vùng Tây Bắc
thì tiêu chí quan trọng là: nàng dâu phải biết dệt vải, chàng rể phải biết đan chài, làm nương. Điều
này hiểu rộng ra là nàng dâu phải là người cần cù, đảm đang bởi có cần cù, đảm đang thì mới có thể
học được nghề dệt vải - một nghề thủ công tốn nhiều thời gian, công sức và phải có óc thẩm mỹ mới
có thể dệt được những tấm vải đẹp phục vụ cho nhu cầu của gia đình. Chàng rể phải là người khoẻ
14
Thực trạng NNL các DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới
mạnh, siêng năng bởi có biết đan chài, làm nương thì chàng rể mới có thể hàng ngày xuống suối bắt
cá, lên rừng làm nương lo cái ăn cho gia đình.
2.2.3. Về chất lượng tổng hợp
- Mức sống và chất lượng sống
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai
hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các DTTS khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột
thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…”.
Đã hơn 30 năm kể từ ngày đất nước thống nhất và hơn 20 năm kể từ công cuộc đổi mới được
thực hiện nhưng mức sống và chất lượng cuộc sống vẫn có một khoảng cách giữa các dân tộc, giữa
thành thị và nông thôn cũng như giữa các vùng miền trong cả nước. Các số liệu thống kê trong
những năm trở lại đây cho thấy Tây Bắc là một trong những vùng có mức sống và chất lượng cuộc
sống thấp nhất trong toàn quốc và khoảng cách cứ tăng dần theo thời gian: năm 2004 bằng 54,7%
mức trung bình cả nước; năm 2002 bằng 55,3%; và cho đến năm 2004 khoảng cách đó đã là 56%.
Tỷ lệ hộ nghèo ở Tây Bắc năm 2007 còn 37,5%, cao nhất cả nước, trong đó Lai Châu là 55,3%;
Điện Biên là 40,8%; Sơn La là 37,1% và Hòa Bình là 30,9% (so với 14,7% cả nước, 21,1% vùng
Đông Bắc, 10,1% vùng đồng bằng sông Hồng) [TL-9; 21].
Theo một báo cáo mới đây của UNDP về tốc độ giảm nghèo của Việt Nam trong giai đoạn
1993 – 1998 cho thấy ở 7 vùng sinh thái thì vùng miền núi phía Bắc giảm 20% (từ 79% xuống còn
59%), là mức giảm cao thứ 4 sau Đồng bằng sông Hồng (giảm 34%), Duyên hải Bắc trung bộ (giảm
27%), Đông Nam Bộ (giảm 25%); và cao hơn Tây Nguyên (giảm 18%), Duyên hải Nam trung bộ
(giảm 15%) và Đồng bằng Sông Cửu Long (gảm 10%). Khoảng cách về tỷ lệ giảm nghèo cũng có

dục: 3,74% và văn hoá - giải trí: 0,32% [TL-26].
Mức sống thấp nên đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống thể hiện qua việc tiếp cận với
các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh môi trường.
Về y tế, mặt dù việc đầu tư mạnh cho miền núi trong những năm qua đã khiến cho việc chăm
sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho cư dân miền núi đã được cải thiện. Theo các số liệu thống kê
chính thức do Tổng Cục thống kê và Bộ Y tế tiến hành qua các năm từ 1994 đến 1999 cho thấy số
cơ sở y tế cũng như đội ngũ y bác sĩ công tác tại các tỉnh Tây Bắc cũng đã tăng lên. Số cơ sở khám
chữa bệnh tăng từ 862 cơ sở năm 1995 lên 1.054 cơ sở năm 1998. Số giường bệnh tăng từ 8.588
giường năm 1995 lên 9.632 giường năm 1998. Số xã có trạm xá xã tăng từ 743 xã (84,06%) năm
1994 lên 867 xã (93,19%) năm 1999 [Xem biểu 5].
Số cán bộ y tế cũng không ngừng tăng lên ở các tỉnh Tây Bắc. Nếu như năm 1994, toàn vùng
Tây Bắc chỉ có 9.691 cán bộ y tế, trong đó có 1.059 bác sĩ, 169 dược sĩ đại học thì đến năm 1999
tổng số cán bộ ngành y ở Tây Bắc đã tăng lên 10.330 người, trong đó có 1.261 bác sĩ; nhưng số
dược sĩ đại học lại giảm xuống còn 105 người [TL-25] [Xem biểu 6].
Tuy nhiên, các số liệu thống kê y tế cho thấy có sự khác biệt đáng kể về các chỉ số sức khoẻ
của người dân ở Tây Bắc so với các vùng sinh thái khác trong cả nước. Mặc dù tỷ lệ chết của trẻ em
dưới 1 tuổi ở cả nước nhìn chung giảm mạnh trong 4 thập kỷ qua từ khoảng 160/1.000 trẻ em sống
vào năm 1960 xuống còn 90/1.000 trong giai đoạn 1975 – 1980, 75/1.000 vào năm 1983, 45/1.000
vào năm 1989 và 44/1.000 trong giai đoạn 1989 – 1993 nhưng lại chưa giảm nhiều ở những vùng
DTTS. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, trong giai đoạn 1995 – 2005 tỷ lệ tử vong ở trẻ em
dưới 1 tuổi ở vùng núi phía Bắc là 62,2% cao gấp 1,3 lần so với cả nước (45,1%). Tỷ lệ tử vong của
trẻ từ 1 – 5 tuổi; tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi cũng còn ở mức cao [TL-29].
16

Trích đoạn Nâng cao năng lực làm chủ của Nhân dân trong công tác phát triển NNL Các chính sách và giải pháp về đào tạo và bồi dưỡng NNL các DTTS vùng Tây Bắc Các giải pháp nhằm hạn chế và kiểm soát thất nghiệp Các giải pháp nhằm nâng cao tính năng động và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho sự phát triển của NNL các DTTS vùng Tây Bắc Giải pháp về nâng cao nhận thức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status