Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên) - Pdf 10

1
Luận văn
Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện
nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên)
2

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội văn minh hiên đại, con người được khẳng định là “nguồn
lực của mọi nguồn lực” là tài nguyên to lớn của mỗi quốc gia.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chương trình mang tính chất
chiến lược về đầu tư và phát triển nguồn lực con người của riêng mình, hướng
theo một nguyên tắc chung là:
Đặt con người vào trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự thành
bại của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước đang tuỳ thuộc vào
những bí quyết về đào tạo, sử dụng và phát huy nguồn lực con người.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chính sách phát triển nguồn lực
con người. Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: "đáp ứng yêu cầu

Miền núi Điện Biên chiếm 2/3 diện tích tự nhiên của toàn tỉnh với số
dân gần 1 triệu người, gồm có 26 dân tộc anh em cùng chung sống, là vùng
rừng núi rộng lớn tiềm năng đất đai, tài nguyên và lao động phong phú,
nhưng trong thực tế vẫn chưa khai thác đầy đủ về nguồn nhân lực hiện có. Vì
vậy, việc nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực làm cơ sở đề xuất các giải
pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên
trong công cuộc đổi mới hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về lý
luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề con người là một trong những vấn đề trung tâm của triết học và
các học thuyết chính trị xã hội. Từ xưa đến nay mỗi trường phái triết học cũng
như mỗi học thuyết chính trị xã hội nghiên cứu con người với góc độ khác
nhau,trong đó tập trung chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa con ngưới với giới
tự nhiên, giữa con người với con người và với xã hội loài người. ở Việt Nam
vấn đề con người được nhiều nhà khoa học và lý luận nghiên cứu, đặc biệt
4

trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu con người Việt
Nam nói chung và dân tộc thiểu số nói riêng tạo nguồn lực tổng hợp đưa đất
nước phát triển. Đó là:
- Nguyễn Thế Nghĩa với “Nguồn nhân lực, động lực của CNH - HĐH
đất nước”, Tạp chí Triết học, số 1 - 1996.
- Nghiên cứu văn hoá, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI
(2003) tư liệu hội thảo Quốc tế của đề tài nghiên cứu khoa học KX - 05 tổ
chức tại Hà Nội.
- Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm nước
ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

CNH, HĐH: Luận cứ và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị, 2005.
- Lê Hữu Nghĩa. Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chủ chốt cấp huyện các dân tộc ở Tây nguyên.
- Về một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi,
Bộ Chính trị, Nghị quyết 22/NQ/TW ngày 27/11/1989.
- Phạm Như Cương, Đi đến một nhận thức về vấn đề dân tộc và quan
hệ dân tộc, Tạp chí Dân tộc học, số 11-1989, tr.3.
- Trần Quang Nhiếp, Đổi mới trong việc thực hiện chính sách dân tộc
hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 4-1988, tr.12.
- Tạ Nghiêm, Cần có một chính sách dân tộc toàn diện và hoàn chỉnh,
một cơ cấu giải quyết vấn đề dân tộc thích ứng với tình hình mới, Tạp chí Dân
tộc học, số 3-1990, tr.13.
- Nông Đức Mạnh (1992), Mấy vấn đề bức thiết đối với các vùng dân
tộc thiểu số hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 8-1992, tr.1.
- Hà Quế Lâm, Làm tốt công tác đào tạo các hộ dân tộc thiểu số và cán
bộ miền núi, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7-1990, tr.23.
Rõ ràng, đề tài đã được nghiên cứu ở những mức độ khác nhau trên
nhiều bình diện cả về lý luận cũng như về thực tiễn. Tuy nhiên, đây là mảng
đề tài cũ luôn hàm chứa những vấn đề mới, nhất là trong tình hình công cuộc
6

đổi mới hiện nay. Hơn nữa, như nhiều tác giả khẳng định, đây là mảng đề tài
khó, phức tạp, những vấn đề họ đặt ra cũng như chưa có điều kiện đặt ra đầy
đủ luôn cần có sự đầu tư nghiên cứu thêm để có những kiến giải sâu sắc, khoa
học hơn. Vì vậy, luận văn " Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên)"
hy vọng sẽ đóng góp phần nhỏ và tình hình chung đó.

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần đánh giá thực trạng việc sử dụng, phát huy nguồn
nhân lực các dân tộc thiểu số ở Điện Biên. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải
pháp chủ yếu để từng bước phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số
trên địa bàn này nhằm đáp ứng yêu cầu trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Những kết luận được rút ra và những giải pháp được trình bày trong
luận văn nhằm phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu sổ ở Việt nam
hiện nay.
- Là tài liệu tham khảo ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cho việc
xây dựng, hoạch định chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp
phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp đổi mới đất
nước nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
8

Chương 1
vấn đề phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

1.1. Quan điểm mác xít về phát huy nguồn nhân lực
1.1.1. Con người và nguồn nhân lực
- Vấn đề con người:
Vấn đề con người, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là
một trong những mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia và toàn th giới. Con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.

để "sản xuất ra những con người phát triển toàn diện". Hơn nữa, C. Mác còn
coi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển con người là
"một trong những biện pháp mạnh nhất để cải biến xã hội.
Trong học thuyết duy vật lịch sử của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa
Mác - Lênin coi con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật
chất, là yếu tố hàng đầu trong lực lượng sản xuất,mà hơn thế nữa, con người
còn là chủ thể của lịch sử. Con người vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm mục
tiêu, vừa là trung tâm của mọi biến đổi lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất
vật chất, con người sáng tạo ra lịch sử của chính mình, lịch sử của xã hội loài
người. Cũng trong quá trình hoạt động sản xuất vật chất, con người tự hoàn
thiện chính bản thân mình. Theo C.Mác, Ph.Ăngghen, các lĩnh vực hoạt động
cơ bản đó là cơ sở để phát triển con người. Do vậy, "tiền đề đầu tiên của toàn
bộ lịch sử nhân loại là sự tồn tại của những cá nhân con người sống", đó là
những con người hiện thực, "bằng xương bằng thịt" [25, tr.29] với hoạt động
sản xuất vật chất của họ và trong những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ.
Từ quan niệm đó, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Sự
phát triển lực lượng sản xuất, trước hết phải có nghĩa là "phát triển sự phong
phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân". Theo đó, ý
nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển và tiến bộ xã hội là sự phát
10
triển con người, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, để con người được
sống với cuộc sống đích thực là người.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu
tố hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản
xuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội. Bằng
hoạt động lao động sản xuất, con người đã cải tạo tự nhiên để thoả mãn những
nhu cầu của mình, đồng thời cải tạo chính bản thân mình. Ph. Ăngghen đã

thân mình, trở thành người tự do". Đó cũng chính là quá trình mà nhân loại tự
tạo ra những điều kiện, những khả năng nhằm đem lại sự phát triển cho mỗi
con người trong cộng đồng, tạo cho con người năng lực làm chủ tiến trình lịch
sử và làm chủ mọi hoạt động của chính mình.
Quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về tiến bộ và sự
phát triển xã hội lấy sự phát triển của con người làm mục đích càng phải được
khẳng định trong thời đại ngày nay. Bởi lẽ, ngày nay, nhân loại đang sống
trong bối cảnh quốc tế đầy những biến động, cộng đồng thế giới đang thể hiện
hết sức rõ ràng tính đa dạng trong các hình thức phát triển của nó. Xã hội loài
người, kể từ thời tiền sử cho đến nay, bao giờ cũng là một hệ thống, chỉnh thể,
thống nhất song cũng đồng thời là một hệ thống hết sức phức tạp, đa dạng.
Chính sự phức tạp và đa dạng trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội đã tạo
nên tính không đồng đều trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở các nước, các
khu vực, các châu lục khác nhau - điều mà cách đây hơn 80 năm, V. I. Lênin
đã gọi là quy luật phát triển kinh tế không đồng đều. Đến lượt mình, tính
không đồng đều của sự phát triển này lại hình thành nên những khuynh hướng
hết sức đa dạng về phát triển xã hội. Song, dù phát triển theo hướng nào thì
cuối cùng xu hướng chung của sự phát triển xã hội dưới sự tác động của các
lực lượng tiến bộ cũng hướng tới giá trị nhân văn của nó - tới sự phát triển
12
con người, hoàn thiện con người với tư cách là chủ thể của sự phát triển xã
hội.
Không phải cho đến nay chúng ta mới nhận thấy điều đó, mà ngay từ
buổi đầu tiến hành sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng ta đã nhiều lần khẳng
định, con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc của con người là mục tiêu
phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Chăm lo hạnh phúc của mọi người, mọi nhà đã
được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm.

bước hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội. Chính vì thế mọi kế hoạch xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội phải được đặt trong mối liên hệ không thể
tách rời với kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, tình
cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và cả cộng đồng dân
tộc Việt Nam, cho việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nhiều về số
lượng, mạnh về chất lượng, đủ sức đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của
sự nghiệp đổi mới đất nước.
Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay đang bước vào thời kỳ mới. Nó
đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn
và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người - chủ thể của mọi sáng tạo,
nguồn "tài nguyên vô giá", vô tận của đất nước. Từ đó phải đổi mới cách
nhìn, cách nghĩ về vai trò động lực và mục tiêu của con người trong sự nghiệp
đổi mới. Thực hiện chiến lược phát triển con người, xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực phải coi việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người Việt
Nam hiện đại như một cuộc cách mạng - cách mạng về con người. Chính cuộc
cách mạng về con người sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền
vững, đẩy mạnh tiến độ công cuộc đổi mới, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn
diện đất nước. Với ý nghĩa đó, con người Việt Nam không chỉ là mục tiêu, mà
còn là động lực của quá trình đổi mới đất nước.
14
- Vấn đề nguồn nhân lực:
Trong thời đại hiện nay đối với bất cứ quốc gia nào việc xác định một
cách đúng đắn và huy động có hiệu quả các nguồn lực đều được coi là điều có
ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
trong sự nghiệp đổi mới. Vì thế có nhiều lý thuyết coi con người là một loài
vốn đặc biệt "tư bản người" (Humancapital), "tài nguyên người", "nguồn lực
có khả năng tái sinh", "nguồn lực của mọi nguồn lực", "nguồn lực cơ bản",

những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (gồm cả những người trên tuổi lao
động, thực tế đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng chưa làm việc do: Thất nghiệp, đang đi học, đang làm
nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc.
Theo nghĩa hẹp hơn: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động
trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là
bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao
động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. Về độ tuổi, hiện
nay có nhiều quy định khác nhau. Đa số các nước có quy định tối thiểu
thường là 15 tuổi, còn tối đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới
hạn.
ở Việt Nam, lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao
động, đang có việc làm; những người ngoài độ tuổi lao động thực tế làm việc
và những người thất nghiệp; nghĩa là không bao gồm những người trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học; đang làm nội trợ trong
gia đình; không có nhu cầu làm việc.
- Các khái niệm liên quan đến nguồn nhân lực:
+ Đội ngũ lao động là những người lao động trong nguồn nhân lực
đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế
tích cực). Đây là bộ phận quan trọng nhất đối với nguồn nhân lực của mỗi
16
quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh
tế nói chung và phát triển kinh tế - xã hội nói riêng. Vì vậy, vấn đề mở rộng
và nâng cao chất lượng đội ngũ lao động nhằm phát huy tàon bộ nguồn nhân
lực luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
+ Vốn nhân lực là khái niệm tương đối mới, vốn nhân lực được hiểu là
tiềm năng và khả năng phát huy tiềm năng về sức khoẻ, kiến thức của các cá

Về mặt số lượng là tăng nguồn lao động (con người). Chất lượng bao gồm sức
khoẻ, trình độ chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân.
Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy (khoá VII) đã đề ra chủ trương phát
triển nguồn nhân lực đồng bộ với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đây là một chủ trương lớn rất quan trọng, đánh dấu bước chuyển giai đoạn
của nền kinh tế - xã hội của đất nước ta giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, hiện đại hoá. Phát huy nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp đổi mới đất
nước bao gồm các lĩnh vực như nâng cao chất lượng dân số, giáo dục, đào
tạo, đảm bảo sức khoẻ, dạy nghề, tạo việc làm, quản lý và sử dụng có hiệu
quả nhân lực.
Với cơ cấu và thực trạng dân số lao động của nước ta và nhu cầu phát
triển thị trường lao động trong những năm tới, chúng ta cần và có thể phát huy
nguồn nhân lực một cách toàn diện theo các bình diện trên. Như vậy, phát huy
nguồn nhân lực là quá trình biến đổi nhằm phát triển, khơi dậy những khả
năng con người về năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày
càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức, tay nghề, tâm hồn và hành vi từ
trình độ chất lượng, sử dụng có hiệu quả hơn nguồn nhân lực trong sự nghiệp
đổi mới đất nước.
1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực
18
- Đặc trưng về sinh học
Triết học Mác - Lênin khẳng định, lao động là hoạt động bản chất của
con người. Con người bằng hoạt động lao động của mình đã làm biến đổi bản
chất tự nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chính mình. Con người không chỉ
sống trong môi trường tự nhiên, mà còn sống trong môi trường xã hội, nên tự
nhiên và xã hội trong mỗi con người không phải tồn tại cạnh nhau, mà hoà
quyện vào nhau. Bản chất tự nhiên của con người chuyển vào hoạt động xã

hoàn cảnh khác chi phối nên nhiều cơ quan, đơn vị đã hạn chế việc đào tạo,
bồi dưỡng, đề bạt đối với lao động nữ. Do đó số lượng tỷ lệ phụ nữ đạt trình
độ học vấn cao cũng như trong các vị trí lãnh đạo có xu hướng giảm. Trong
thực tế, tuổi thọ của người phụ nữ cao hơn nam giới. Do sinh đẻ ít hơn ổ độ
tuổi sau 40 tuổi, khi con đã lớn, gia đình ổn định, người phụ nữ có điều kiện
học tập, nâng cao trình độ và làm việc tốt hơn. Nhiều kết quả nghiên cứu y
học lao động đã khẳng định, khả năng lao động cơ bắp của người phụ nữ luôn
luôn kém hơn nam giới ở mọi lứa tuổi, nhưng lao động trí tuệ thì không kém
hơn Nhờ tiến bộ kỹ thuật của thời đại, lao động trí tuệ ngày càng phát triển,
lao động cơ bắp ngày càng giảm xuống cùng với sự phát triển nhanh chóng
của dịch vụ cho phép phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động
xã hội. Đây cũng là một điều kiện đảm bảo quyền bình đẳng và phát triển vì
sự tiến bộ của phụ nữ nói riêng và phát triển nguồn nhân lực nói chung.
Sự gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng nguồn nhân lực.
Sự gia tăng dân số sau 15 năm sẽ kéo theo sự gia tăng nguồn nhân lực. Nhưng
nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không làm giảm ngay lập tức nhịp độ tăng
nguồn nhân lực.
- Đặc trưng về chất lượng:
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn
nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt vừa là chủ thể của
mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là
tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực
20
tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người. Do đó, chất lượng nguồn
nhân lực là khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái
thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn
nhân lực: Trạng thái sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ

Trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số.
Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau
như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, chung sức
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn. ở nước
ta không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hoá, thôn tính các dân
tộc ít người, do đó cũng không có tình trạng dân tộc ít người chống lại dân tộc
đa số. Ngày nay trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, các dân tộc anh
em trên đất nước ta tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn
kết, nỗ lực phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên
CNXH.
Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam - tổ quốc của nhiều dân tộc với
giang sơn núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa
sóng vỗ; bờ cõi liền một dải từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu
(Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông).
Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền
thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu
tranh xã hội, trong suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng
phát triển đất nước.
Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam á lục địa
với Đông Nam á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hoá trong
khu vực. ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam á, ngữ hệ Nam
đảo và ngữ hệ Hán - Tạng. Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm
ngôn ngữ khác nhau.
22
Nhóm Việt - Mường có 3 dân tộc là: Chứt, Mường, Thổ, Chày.
Nhóm Tày - Thái có 7 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Tày, Thái.

190.259

2

B
ố Y

B
ố Y

1.864

2.059

3 Brâu 313

350

4
Bru Vân
Kiều
Bru 55.559

62.954

5

Chăm
(Chàm)


1.859

23
Số
TT

Dân tộc Tên tự gọi
Dân s


T
ổng ĐT
(1.4.1999)

Ước tính (1.7.2003
11

Cơ Ho

Cơ Ho

128.723

145.857

12


Anăk Ê Đê

270.348

306.333

16 Giáy Giáy 49.098

54.002

17 Gia Rai Gia Rai 317.557

350.766

18

Giê
-

Triêng

Gié, Triêng, Ve, Bnoong

30.243

31.343

19 Hà Nhì Hà Nhì Già 17.535

19.954

24

Kháng

Mơ Kháng

10.272

15.213

25

Khmer

Khmer

1.055.174

1.112.286

26 Khơ Mú Kmụ, Kưm, Mụ 56.542

62.721

27 La Chi Cù Tê 10.765

12.095

28


32 Lự Lừ, Thay, Thay Lừ 4.964

5.553

33 Mạ Mạ 33.338

36.824

34

M
ảng

M
ảng

2.663

2.634

35


ờng

Mol (Mon, Moan, Mual)

1.137.515

1.230


Phù Lá

Lao Va Xnư
ớc, Bồ Khô
Pạ, Phù Lá
9.046

8.947

42 Pu Pèo Kabeo 705

900

43 Raglay 96.931

109.442

44

Rơ Măm352

418

45

Sán Chay


49 Tà Ôi 34.960

38.946

50

Thái

Tay, Thay

1.328.725

1.4
49.084

51 Thổ Thổ 68.394

76.191

24
Số
TT

Dân tộc Tên tự gọi
Dân s


X'tiêng66.788

74.402(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
1.2.2. Vai trò của việc phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số
ở Việt Nam
Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh
dựng nước và giữ nước, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất.
Nói về nguồn gốc đã có nhiều truyền thuyết như truyện "Quả bầu mẹ"
có nhiều điểm tương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi gắn bó với nhau.
Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về
tâm lý, phong tục tập quán thì đều là người trong một nước, con trong một
nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc luôn kề vai sát cánh bên nhau,
thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
Nước ta ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi song điều kiện tự nhiên
cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạn
hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa
nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá
đất hoang, chống thú dữ, xây dựng hệ thống thuỷ lợi (mương, phai) đê, đập
nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ
nước, sự gắn bó giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân
tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.
Ngày nay, đặc biệt là trong thời đại công nghiệp trước những biến đổi
bất lợi về khí hậu, thời tiết có tính toàn cầu, nhân dân các dân tộc ở nước ta
đang chung lòng, hợp sức phòng tránh, nhằm giảm nhẹ hậu quả thiên tai.

Dân tộc thiểu số ở nước ta chủ yếu cư trú trên các vùng rừng núi, có vị
trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái

Trích đoạn Những yếu tố lịch sử, văn hoá ảnh hưởng đến nguồn nhân lực Những yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc phát huy Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Những thành tựu và hạn chế của việc phát huy nguồn nhân Nguyên nhân của việc phát huy nguồn nhân lực các dân tộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status