Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở việt nam trong tiến trình đổi mới phụ lục - Pdf 13

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX.02/06-10
"Quản lý phát triển xã hội trong
tiến trình đổi mới ở Việt Nam" KỶ YẾU ĐỀ TÀI

NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NHÂN TÀI CHO PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI
Mã số KX.02.24/06-10 Chủ nhiệm đề tài : GS.TS. Nguyễn Ngọc Phú
Cơ quan chủ trì : Hội khoa học
Tâm Lý-Giáo dục Việt Nam
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
nguồn nhân lực, nhân tài cho phát triển xã hội và
quản lý phát triển xã hội

3.
GS.TS.
LỘC PHƯƠNG THỦY
Viện KHXH VN
Nghiên cứu vấn đề Nguồn nhân lực và Nhân tài
những năm đầu thế kỷ XXI tại một số nước

4.
PGS.TS. NGUYỄN
PHƯƠNG NGỌC,
Trường Đại học Tổng hợp
Aix-Marsseille I, Cộng
hòa Pháp
Hệ thống giáo dục Cộng hòa Pháp và vấn đề đào
tạo nguồn nhân lực, nhân tài

5.
PGS.TS.
TRẦN HẬU
Mặt trận Tổ Quốc Việt
Nam
Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nguồn
nhân lực - Bài toán cho sự phát triển của Việt Nam

6.
PGS.TS.

TS.
ĐẶNG QUỐC THÀNH
Học viện KTQS

Nhu cầu về cơ cấu, số lượng và chất lượng nguồn
nhân lực thuộc đối tượng trực tiếp lao động sản
xuất trong giai đoạn hiện nay

11.
Cử nhân
NGUYỄN ANH TUẤN
Học viện KTQS

Xây dựng nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước
trong thời kỳ CNH, HĐH 12.
TS.THANG VĂN PHÚC
Bộ Nội vụ
Xây dựng chính sách khai thác, đào tạo, sử dụng
nguồn nhân lực trí thức giai đoạn 2011-2020 2
13.
PGS.TS.
LÊ NGỌC HÙNG
Học viện Chính trị-Hành
chính Quốc gia Hồ Chí

NGUYỄN ĐỨC THẮNG
Viện Khoa học xã hội
nhân văn Quân sự- Bộ
Quốc Phòng
Nguồn nhân lực công nghệ điện tử - tin học vì sự
phát triển xã hội
18.
GS.TS.
NGUYỄN NGỌC PHÚ
Hội Khoa học TL-GD
Việt Nam

Quan điểm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực
và nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội và
quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

19.
TS.
HOÀNG VĂN THANH
Viện KHXHNV QS- Bộ
Quốc Phòng

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta
hiện nay
NGUYỄN PHƯƠNG
NGỌC
Trường ĐH Aix-
Marsseille I, Cộng hòa
Pháp

Đào tạo nhân tài ở trường đại học :
Các bài học trên thế giới
3
24.
TS. NGUYỄN TÙNG
LÂM
Hội KH TL-GD Hà Nội
Đổi mới phương thức đào tạo trường chuyên để
phù hợp với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập 25.
TS.
ĐẶNG QUỐC THÀNH
Học viện KTQS

Thực trạng nhân lực thuộc đối tượng trực tiếp lao
động sản xuất

26.


30.
PGS.TS.
HÀ THẾ TRUYỀN
Học viện Quản lý Giáo
dục
Giải pháp củng cố và phát triển hệ thống các cơ sở
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển, đào tạo nguồn nhân lực

31.
GS.TS.
LỘC PHƯƠNG THỦY
Viện KHXH VN
Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao của đất
nước hiện nay thông qua một số điều tra trưng cầu
ý kiến gần đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO

động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng được xác định .Tuỳ thuộc vào môi
trường KT-XH, nguồn nhân lực được thể hiện hết sức đa dạng.
- Xét về thực chất, nguồn nhân lực và nhân tố con ngườ
i không có gì khác
nhau, nhưng khái niệm “nguồn nhân lực” có nội dung xác định hơn khái niệm “nhân
tố con người” Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta quan tâm xem xét con người
trong mối quan hệ với tự nhiên. Cùng với nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác,
NNL được xem là yếu tố rất quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội.

- NNL là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển con người.
- Nói đến NNL là phải nói đến cơ c
ấu, số lượng và chất lượng nguồn lực
người (là các con người cụ thể) theo các tiêu chí xác định.
- Nguồn tài nguyên người là nguồn tài nguyên phong phú nhưng không dễ
khai thác. Muốn khai thác và phát huy được nguồn tài nguyên nhân lực thì phải tìm ra
những phương thức hữu hiệu nhằm phát triển con người. Do đó, muốn phát triển
nguồn nhân lực (gia tăng thêm giá trị sử dụng con người) thì tất yếu phải quan tâm
đến mục tiêu phát triển con người (gia tăng thêm các giá tr
ị về đạo đức, trí tuệ, thể
lực…của con người).
- Đảng ta, chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã rất coi trọng, đề cao vai trò
của con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

1
Hội Khoa học Tâm Lý- Giáo dục Việt Nam

5
Nguồn nhân lực là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển
con người . Đứng về phương diện xã hội thì toàn bộ chiến lược phát triển con người
cuối cùng phải thành nguồn nhân lực. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành TW tại

được bi
ết, Ông “thần đèn” Nguyễn Cẩm Lũy
3
, một nông dân ở xã Long Khánh A,
huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Mặc dầu trình độ văn hóa chỉ có lớp 4, nhưng
ngay từ năm ông 21 tuổi đã là một thợ xây dựng lành nghề có nhiều suy nghĩ và ý
tưởng táo bạo. Bằng trí thông minh và tài năng đặc biệt, cho đến nay, Ông Lũy đã tự
tổ chức di dời thành công được hàng trăm công trình lớn nhỏ, trong đó có công trình
nặng tới 3000 tấn, ròi khỏi vị trí cũ
an toàn hàng vài chục mét. Lê Minh Hải
4
, 33 tuổi,
ở thôn 2, xã Đông Anh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đã tự sáng chế thành công
máy cấy lúa 9 hàng, giúp nông dân địa phương giải phóng được nhiều sức lao động.
1
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà XB CTQG, 2006, tr.96-97
2
Sđd, tr.97
3

4


6
Trung bình máy hoạt động 20 phút cấy được 500m2 ruộng, mỗi nhịp cấy được 9 hàng
cùng một lúc. Ông Đinh Công Viên ,79 tuổi, thôn Khuyến Công, xã Khả Phong,
huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, không hề trải qua một trường lớp đào tạo nào về cơ

v.v…

Khái niệm “Nhân tài” thuộc phạm trù Nguồn nhân lực. Nhân tài là bộ phận
tinh túy (élites) của nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao nói
riêng, là người có tài năng vượt trội trong một hoặc một vài lĩnh vực hoạt động nào
đó (lãnh đạo - quản lý, hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng chế phát minh kỹ thuật,
kinh doanh ) lấy việc cống hiến tối đa cho đất nước, dân tộc, nhân loại làm lẽ sống

1


7
của mình.
Tài năng, bắt nguồn từ ngôn ngữ Hy Lạp là talanton, khởi đầu mang nghĩa là
sức nặng, mức độ, về sau mang nghĩa bóng nói về mức độ, trình độ của năng lực.
“Tài năng là mức độ cao của sự phát triển năng lực, trước tiên là các năng lực đặc
biệt. Việc có tài năng, cần phải được xem xét theo kết quả hoạt động của con người,
các kết quả này cần phải khác biệt bởi những mới mẻ về nguyên tắc và tính ý nghĩa
của quan điểm. Tài năng của con người hướng vào nhu cầu thể hiện sự sáng tạo và
bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi xã hội nhất định nào đó. Bởi thế, thế giới quan,
các quan điểm xã hội của con người giữ vai trò vô cùng lớn trong phát triển tài năng
của con ng
ười”
1
.
Như vậy, nói đến nguồn nhân lực, đương nhiên phải nói đến lớp nhân lực trình
độ cao, chất lượng cao, trong đó, có những con người tài năng về các lĩnh vực.
Nhân tài chính là những con người tài năng. Người tài năng bao giờ cũng quý,
hiếm. Người tài năng là những người thuộc lớp cốt lõi, thành phần cao nhất của
nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao (NNL CLC) nói riêng. Nói

8
10-2007
1
.
Phát triển xã hội, phát triển đất nước, suy cho cùng là nhằm xây dựng một
cuộc sống tốt đẹp, trong đó con người được chăm lo phát triển, được thỏa mãn ngày
càng tối đa các nhu cầu về vật chất và tinh thần.
Nói đến phát triển xã hội, tức là nói đến phát triển toàn diện các lĩnh vực của
đời sống xã hội, nhưng thường người ta nói nhiều đến phát triển phương diện cơ b
ản
nhất của xã hội là phát triển kinh tế gắn với những tiến bộ không ngừng của xã hội đi
lên phía trước và thường dùng từ kép là phát triển kinh tế - xã hội. Trên thực tế,
không có một phát triển kinh tế nào lại đơn thuần chỉ vì kinh tế. Bản thân khái niệm
kinh tế đã bao gồm yêu cầu thỏa mãn các nhu cầu của người dân, của toàn xã hội.
Quan niệm này buộc chúng ta phải loại bỏ cách hi
ểu không đúng mà lâu nay đã có
không ít người mắc phải là, thường xem các vấn đề xã hội ở vị trí thứ yếu hơn so với
các vấn đề kinh tế, tách rời các vấn đề kinh tế và xã hội và trong thực tế quản lý, dồn
sức nhiều cho nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, còn các vấn đề xã hội thì lại
không được chú ý, có nêu ra là để làm dần, có sức đến đâu thì làm đến đấy
2
.
GS. Hoàng Chí Bảo trong các công trình nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh,
phát triển xã hội là sự phát triển các cá nhân và cộng đồng về mặt xã hội, về mức
sống và chất lượng sống nhờ giải quyết hợp lý các vấn đề xã hội phát sinh trong quá
trình xây dựng kinh tế, văn hóa và chính trị, nhờ đó thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ
xã hội vì con người. Phát triển xã hội là sự giải quyết kịp th
ời, đúng đắn, hợp lý các
vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống của cộng đồng đân cư. Phát triển xã hội là sự
phát triển về số lượng và chất lượng các nguồn lực, các điều kiện nhằm giải quyết tốt

con đường nào nhằm có được sự cân đối về cơ cấu, đủ về số lượng, đáp ứng đòi hỏi
về chất lượng cho sự
nghiệp CNH, HĐH hiện nay.
Liên quan đến vấn đề này, cần xem xét các tiêu chí số lượng, chất lượng, phẩm
chất đặc trưng của nhân tài cũng như xem xét cả các yếu tố tác động đến phát triển
NNL, NT trong điều kiện hiện nay.

Về số lượng NNL, NT, cần phải làm rõ các tiêu chí như:
+ Tỷ lệ chung trong cơ cấu NNL, NT của cả nước, đánh giá mức độ thiếu, đủ
so v
ới nhu cầu cần có;
+ Tỷ lệ so sánh NNL, NT trong tổng dân số, phản ánh quy mô của NNL,NT;
+ Tỷ lệ so sánh số lượng NNL, NT giữa các quốc gia trong khu vực và quốc
tế theo số dân.
Về chất lượng NNL, NT, cần xem xét đến các tiêu chí:
+ Tuổi;
+ Giới tính;
+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo;
+ Trình độ văn hóa;
+ Kỹ năng nghề nghiệp;
+ Tính năng động xã hội thể hiện ở khả n
ăng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt
trong công việc;
+ Hiệu quả lao động cụ thể v.v
Về phẩm chất nhân cách của các con người thuộc thành phần nguồn nhân lực
chất lượng cao, có thể cần tính đến các tiêu chí sau:
+ Hết lòng vì nước, vì dân, có phẩm chất đạo đức trong sáng.
+ Trí lực phát triển cao.
+ Yêu lao động. Say mê sáng tạo.
+ Có kỹ xảo, kỹ năng lao động tốt. Thành thạo nghề.

quốc gia… ) đối với toàn bộ tiến trình phát triển xã hội làm cho xã hội ổn định, phát
triển bền vững, hài hòa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Lý luận về quản lý phát triển xã hội đương nhiên liên quan hữu cơ tới lý luận
phát triển xã h
ội, liên quan trực tiếp tới quản lý phát triển nguồn nhân lực, nhân tài
của đất nước.
Nghiên cứu NNL,NT phục vụ cho quản lý phát triển xã hội chính là phải luận
giải và đề xuất cho được các cơ chế, chính sách giúp cho quản lý NNL, NT của đất
nước một cách chủ động và có hiệu quả nhất.

Khái niệm cơ chế, được hiểu, đó là cách thức theo đó một quá trình được thực
hiện. Còn khái ni
ệm chính sách, được hiểu, đó là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm
đạt được mục đích nhất định dựa vào đường lối chung và tình hình thực tế tại một
thời điểm, một giai đoạn nào đó.
Nhằm quản lý, phát triển NNL, NT có hiệu quả nhất, trong điều kiện hiện nay
của sự nghiệp CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế, r
ất cần tính đến các cơ chế và
chính sách sau đây liên quan đến quản lý, phát triển tốt nguồn nhân lực, nhân tài của
đất nước. Đó là:

11

1- Cơ chế, chính sách phát hiện nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài
Vì sự trường tồn của quốc gia, xã tắc, vì tương lai của đất nước, dân tộc, tổ
chức, (khái niệm tổ chức, chúng tôi dùng ở đây, được hiểu là các cơ quan, đơn vị,
cộng đồng xã hội các cấp khác nhau, nhà trường, doanh nghiệp, xí nghiệp, công ty,
tổng công ty v.v…, những nơi có trách nhiệm ít nhiều đến quản lý và hiện trạng NNL,
NT hi
ện nay của đất nước) và toàn dân phải có trách nhiệm phát hiện cho được những

nhằm đào tạo ra NNL, NT cần cho đất nước trong những thời kỳ, giai đoạn lịch sử
nhất định. Nhà nước và các tổ chức có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm thiết kế
chương trình đào tạo và tổ chức thực hiện cụ thể các chương trình này. Liên quan đến
vấn đề này, đó là: i) việc chọn đúng người, đúng s
ở trường của người đưa đi đào tạo;

12
ii) Việc đưa đi đào tạo kịp thời; iii) Gửi nơi đến đào tạo đúng, chính xác, và iv) Ở
tầm cho đào tạo nguồn nhân tài, tổ chức (Nhà nước và các cấp cụ thể) nên nói rõ
tham vọng cụ thể để khích lệ những người được gửi đi đào tạo tự chủ động phấn đấu.
4- Cơ chế, chính sách bồi dưỡng kịp thời nguồn nhân lự
c chất lượng cao,
nhân tài
Ở đây, được hiểu là bồi dưỡng tại chỗ về tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng ứng
xử làm việc theo nhóm v.v…nhằm giúp người tài có thêm tri thức cần thiết, phát huy
khả năng, tạo dựng uy tín thực sự của họ trong đồng nghiệp, tổ chức. Lãnh đạo quản
lý các đơn vị cần có thái độ, quyết tâm bồi dưỡng thực sự cho các lực lượng k
ế cận
bằng cách chủ động giao cho họ các công việc khó khăn, giao chủ trì các việc, các
mảng việc cụ thể để họ được trực tiếp thử thách, rèn luyện. Cần chú ý bồi dưỡng kịp
thời. Nội dung bồi dưỡng phải bám sát theo nhu cầu phát triển của ngành nghề, phù
hợp với đối tượng được bồi dưỡng. Cần chống thái độ coi thường, thiếu tin vào lớp
trẻ, ôm
đồm quyền lợi chỉ cho riêng mình.

5- Cơ chế, chính sách đánh giá, tôn vinh nguồn nhân lực chất lượng cao,
nhân tài
Cơ chế, chính sách này được hiểu, nếu như có ai đó (người tài) có công lao
thực sự cho đất nước (nói chung), tổ chức (nói riêng) thì họ phải được đánh giá, tôn
vinh để kịp thời động viên họ tiếp tục cống hiến. Việc đánh giá phải căn cứ vào các

tạo điều kiện thuận lợi cho người tài sáng tạo …) và bằng cả tinh thần, thông qua các
khen thưởng, tôn vinh họ. Các tổ chức phải chủ động, công khai công bố các quyền
lợi cho chính người tài được biết và tổ chức thực hiện cụ thể
đảm bảo quyền lợi thật
sự cho người tài.

8- Cơ chế, chính sách giữ nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài
Cơ chế, chính sách này được hiểu, bằng các cơ chế, chính sách ưu đãi về
quyền lợi , thực hiện sự công bằng theo khả năng cống hiến của con người, làm cho
người tài tự nguyện, một lòng, một dạ trung thành với tổ chức mình phục v
ụ. Việc
giữ nhân tài, đương nhiên cũng phải theo nguyên tắc thứ bậc, dành thứ bậc trước tiên
cho quyền lợi của quốc gia, đất nước. Điều này được hiểu, nếu như một người tài nào
đó đang thuộc quản lý của một tổ chức, nhưng đất nước cần, thì phải biết nhường
quyền giữ nhân tài đó phục vụ trước tiên cho sự nghiệp chung c
ủa đất nước.
9- Cơ chế, chính sách bảo vệ nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài
Cơ chế, chính sách này được hiểu, bằng các cơ chế, chính sách cụ thể được thể
hiện công khai trong luật pháp quốc gia, các nhân tài đặc biệt quan trọng đối với đất
nước phải được nhà nước bảo vệ về mọi mặt, vì đó là tài sản quý, là “nguyên khí” của
đất nước. Bảo vệ tố
t nhân tài, cũng đồng nghiã với bảo vệ sự hưng thịnh, tồn vong
của xã hội. Đây là trách nhiệm của quốc gia, đất nước, trách nhiệm của toàn xã hội và
của mọi người. Chúng ta từng được biết, trong lịch sử và cả hiện nay, những nhân tài
đặc biệt quý hiếm đã trở thành các mục tiêu săn đuổi của các thế lực quốc tế.
Có thể xem các nội dung nêu trên là các nội dung ch
ủ yếu cần quan tâm trong
các nghiên cứu về nguồn nhân lực, nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội của đất nước hiện nay.


3
.

Vấn đề NNL, NT từ trước đến nay đã được nghiên cứu khá rộng rãi ở
nhiều quốc gia trên thế giới.
Khái niệm nguồn nhân lực ( Human Resource)(còn gọi là nguồn lực con
người , nguồn lực cho lao động) chỉ thực sự được xuất hiện khoảng vài chục năm gần
đây. Từ năm 1990, UNDP lần đầu tiên đưa ra chỉ số phát triển con người để đánh giá
sự phát triể
n (gọi là HDI). Chỉ số HDI bao gồm các yếu tố cơ bản: tuổi thọ bình quân,
thành tựu giáo dục và mức thu nhập. Nội dung 3 yếu tố này hiện nay có được phát
triển, chi tiết hơn nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên vị trí và ý nghĩa của nó trên cơ sở
được chính xác hoá và chi tiết bằng các chỉ số khác. Chỉ số này cho phép các nước
thấy được khoảng cách mà mình đã đạt được trên con đường tiế
n đến giá trị lý tưởng
là 1. Khái niệm Nguồn nhân lực có mặt trong hầu hết các lý thuyết kinh tế học và
được coi là một thành tố cơ bản của nền sản xuất xã hội và gần như mọi quan điểm
đều thừa nhận rằng, khi nguồn lực này kết hợp với nguồn lực tự nhiên thì của cải xã
hội xuất hiện và đó là cơ sở của phát triển xã h
ội, cơ sở cho tiến bộ xã hội.

1
Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam
2
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà XB CTQG, 2006, tr.96
3
Sđd, tr.100

15
Xã hội ngày càng phát triển thì quan điểm trên cũng được bổ sung những tư

nhân loại, các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Đã có nhiều tác giả
nghiên cứu về vấn đề này.
Một mặt, đứng từ góc độ kinh tế vĩ mô và phát triển xã hội, xã hội hiện đại là
một xã hội tri thức và xã h
ội thông tin. Trong nền kinh tế hiện đại, tri thức là nguồn
tạo ra của cải và tăng trưởng kinh tế chủ chốt.
Mặt khác, đứng từ góc độ quản lý nhân lực, cũng như đứng từ góc độ cá nhân
người lao động, xã hội hiện đại là một xã hội động, không ngừng phát triển và biến
đổi. Trong xã hội các nước phát triển, ngày càng có ý thức rằng cuộc đời theo mô
hình truyền thống “học tậ
p – làm việc - về hưu” không còn áp dụng được nữa. Theo
nhiều nhà kinh tế, người lao động trong xã hội hiện đại sẽ phải thay đổi nghề nghiệp

16
đến 2-3 lần trong quá trình làm việc. Đương nhiên trong bối cảnh đó giáo dục và đào
tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng.
UNESCO là tổ chức quốc tế có nhiệm vụ theo dõi, nghiên cứu tình hình xã hội
trên toàn thế giới nhằm giúp các cấp lãnh đạo quốc tế và các nước đưa ra các chính
sách và chiến lược phát triển.
UNESCO có chương trình MOST
1
(Management of Social Transformation,
Chương trình nghiên cứu quản lý biến đổi xã hội). Một trong những mục đích của
chương trình này là nghiên cứu nhân tài và nhân lực trên phạm vi toàn thế giới,
nghiên cứu các dòng di chuyển nhân lực trên thế giới, đặc biệt là nhân lực cao cấp,
nhằm giúp các nhà hoạch địch đưa ra các chính sách và chiến lược ở tầm thế giới về
quản lý nhân lực và nhân tài.
Trên cơ sở các nghiên cứu thực địa, các nhà nghiên cứu cho thấy có nhiều
mạng các nhà khoa học và trí thức được hình thành vào thập kỷ cuối thế kỷ XX có
nguồn gốc từ các nước đang phát triển, nhưng được đào tạo và thường làm việc tại

cerveaux", 1999, />

17
không ít nguy cơ “đào thải”. Báo Đầu tư (17-12-2007) ngay cùng một trang 16 đã
đưa liền hai bài báo: “Nhân lực xây dựng chưa đáp ứng tốc độ phát triển của ngành”
và “Ngành tài chính – Ngân hàng: Thiếu nhân lực trầm trọng”. Báo Tuổi trẻ ngày
18-12-2007 có bài: “Nghề đầu tư tài chính khát nhân lực” v.v… Trên mạng, một bài
báo mang tên “Nguồn nhân lực cao cấp ở Việt Nam: Thừa mà thiếu”. Bài báo là sự
phản ánh kết quả Hội thả
o "Thực trạng và giải pháp về nguồn nhân lực cấp cao cho
Doanh nghiệp Việt Nam" được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh. Hội thảo đã thu hút
đông đảo các chuyên gia kinh tế và giám đốc các doanh nghiệp (DN) tham dự. Vấn
đề nóng bỏng nhất mà các DN đã đưa ra là, lao động chất xám ở VN đang khan hiếm
trầm trọng ở tất cả các chức vụ giám đốc, chuyên gia tài chính, ngân hàng, kinh
doanh marketing, kỹ thuật TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho biết: m
ỗi năm chúng ta có 1,2
triệu người đến tuổi lao động và được bổ sung vào lực lượng lao động của đất nước.
Tuy nhiên, số lượng lao động thì được bổ sung, mà chất lượng thì lại không tăng
1
.
Cho đến nay đã có không ít các công trình nghiên cứu về NNL, NT. Các
nghiên cứu này mới dừng lại ở trên bình diện lý thuyết chung. Việc nghiên cứu cụ thể
NNL, NT trên một số ngành nghề cụ thể nhằm phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội ở nước ta trong tiến trình đổi mới còn chưa có; chưa chỉ rõ được bức tranh
thực trạng NNL và NT của đất nước hiện nay; chưa đưa ra được các giải pháp hữu
hiệu về cơ chế, chính sách phát triển NNL, NT đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội và
quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020.
Rõ ràng, vấn đề nguồn nhân lực, nhân tài đang là vấn đề hiện thời, là mối
quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, là vấn đề thời sự cấp bách, một bài
toán còn chưa tìm được lời giải thoả đáng.

Khái niệm Nhân tài có quan hệ với khái niệm Tài năng.
Tài năng (talent) là một tổ hợp các điều kiện bên trong và bên ngoài thuận lợi
tạo ra khả năng đạt thành tích hoạt động rất cao, tuy những thành tích này về cơ bản
có thể vẫn thuộc khuôn khổ những điều đã đạt được của xã hội loài ngườ
i ở thời điểm
đó.
Khái niệm nhân tài và tài năng thông thường được dùng như một từ đồng
nghĩa. Nhân tài được hiểu là người có tài năng vượt trội trong một hoặc một vài lĩnh
vực hoạt động nào đó (lãnh đạo, quản lý, hoạt động khoa học kỹ thuật, kinh doanh…),
lấy việc cống hiến tối đa cho đất nước làm lẽ sống, mục đích sống và
động cơ hoạt
động của đời mình.
Mối quan hệ Nguồn nhân lực – Nhân tài
Nguồn nhân lực có các cấp độ khác nhau. Ở cấp độ thấp, cấp độ phổ thông, đại
trà, đó là nguồn nhân lực phổ thông, nguồn nhân lực thông thường trong xã hội.
Nguồn nhân lực ở cấp độ này chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong cơ cấu nguồn nhân lực. Ở
cấp độ cao, cấ
p độ hiếm, đó là nguồn nhân lực chất lượng cao, thường chiếm một tỷ
lệ ít hơn. Ở cấp độ rất cao (hay đặc biệt cao), cấp độ rất quý, hiếm, chiếm một tỷ lệ
rất nhỏ trong nguồn nhân lực. Thông thường, không phải bất cứ ngành nghề, lĩnh vực
hoạt động nào cũng có nguồn nhân lực ở cấp độ này. Đây là lớp ngườ
i tài năng, là
nhân tài, thiên tài của đất nước. Nhân tài là bộ phận tinh túy (élites) trong NNL của
đất nước nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao (NNL CLC) nói riêng. Xã hội
càng phát triển, càng hiện đại thì lớp nhân lực thứ hai – tức là lớp người thuộc nguồn
nhân lực chất lượng cao sẽ càng phát triển, chiếm tỷ lệ ngày càng nhiều hơn trong tỷ
lệ cơ cấu chung, nhưng nhìn chung vẫn chiếm một tỷ lệ ít hơn nguồn nhân lự
c phổ
thông, đại trà của toàn xã hội. Có thể minh họa điều này trong sơ đồ (sơ đồ 1)


nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
“Phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
1
. Phát triển con người là mục tiêu cơ bản của sự
phát triển, là nguyên tắc hạt nhân của sự phát triển bền vững. Về thực chất phát triển
xã hội chính là phát triển NNL, NT của đất nước.
Trong điều kiện hiện nay, phát triển xã hội phải đạt tới sự phát triển xã

1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
CTQG, Hà Nội 2001, tr.108-10920
hội bền vững. Sự phát triển bền vững phải là sự phát triển rộng khắp trên cả 3
phương diện:
+ Rộng khắp về mặt địa lý (không thiên lệch cho một vùng lãnh thổ, dân cư
nào, không để xảy ra tình trạng chỉ một số vùng nào đó được thừa hưởng sự phát
triển).
+ Rộng khắp về mặt giai tầng xã hội, giới, ngành.
+ Rộng khắp về mặ
t thời gian (Phúc lợi cho các thế hệ hôm nay và mai sau
phải được đảm bảo ở quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, địa phương…)

Các tiêu chí xem xét sự phát triển xã hội bền vững
Đã có nhiều tác giả bàn đến các tiêu chí xem xét sự phát triển xã hội bền vững
1
.
Có thể thấy các tiêu chí cho phát triển xã hội bền vững sau đây dễ được chấp nhận, đó

nhân dân, Hà Nội 2002, tr.9

21
ra trước mắt chúng ta những thách thức vô cùng lớn.
Đại hội VI (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đất nước ta đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội và đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạ
i hóa. Báo
cáo tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006) của
Đảng đã chỉ rõ: “Đổi mới là động lực; ổn định là điều kiện tiền đề; phát triển nhanh
và bền vững là mục đích”. Báo cáo cũng chỉ rõ phương hướng chung đẩy mạnh công
cuộc đổi mới ở nước ta trong thời gian tới là “Nắm vững thời cơ
, vượt qua thách thức,
đẩy lùi nguy cơ, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, tạo ra những động lực
mới những đột phá mới – từ tư duy đến tổ chức và hành dộng thực tiễn – để sớm đưa
đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”
1
. Hiện nay, đất nước chúng ta đang trong
tiến trình này - đó là tiến trình đổi mới.
Tiếp cận hệ thống, toàn diện, lịch sử, khách quan, lô gich đòi hỏi phải nắm
vững Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
Nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước:

- Nói đến Nguồn nhân lực, Nhân tài là nói đến nguồn lực người, tức là nói đến
con người. Muốn phát triển nguồn nhân lực, nhân tài tất yếu phải quan tâm đến phát
triển con người.
- Muốn phát triển con người tốt, phải quan tâm phát triển con người toàn diện.
- Về phát triển con người, quan điểm của Đảng ta và Bác Hồ luôn luôn nhấn

- NNL, NT là nguồn tài nguyên phong phú nhưng không dễ khai thác. Muốn
khai thác có hiệu quả ngu
ồn tài nguyên này cần phải có một chiến lược đặc biệt và
việc này phụ thuộc vào sự sáng tạo riêng của các quốc gia nhằm thu hút và giữ NNL,
NT không chỉ của đất nước mình mà cả NNL, NT từ các nước khác mà đất nước này
đang cần.
Như vậy, trong nghiên cứu NNL,NT, một mặt phải tiếp cận toàn diện, mặt
khác cần xác định trọng tâm, trọng điểm. Đề tài không thể khảo sát NNL, NT ở tấ
t cả
các lĩnh vực ngành nghề, mà trên cơ sở các nghiên cứu chung, chỉ có thể tiến hành
trên một số ngành nghề cụ thể nhằm tạo động lực cho sự phát triển của các lĩnh vực
ngành nghề này.

2-Tiếp cận theo hướng tích hợp liên ngành (Comprehensive
Interdisciplinary Approach) (Triết học, Chính trị học, Tâm lý học, Giáo dục học, Xã
hội học, Kinh tế học, Nhân học, Luật học…). Tiếp cận vấn đề
ở góc độ Chính trị học,
Triết học đòi hỏi phải làm rõ bản chất NNL, NT - sản phẩm của điều kiện xã hội –
lịch sử cụ thể của thời đại, của đất nước. Bất cứ một quốc gia nào muốn xây dựng đất
nước giầu mạnh phải biết chăm lo xây dựng NNL, NT của đất nước mình. Sự ổn định
c
ủa một chế độ xã hội chính là sự ổn định, phong phú, dồi dào về đội ngũ NNL, NT.
Khai thác ở góc độ này chính là chỉ ra các giải pháp, đề xuất cơ chế, chính sách nhằm
phát triển nhanh NNL,NT đáp ứng đòi hỏi của phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội trong điều kiện hội nhập, đất nước luôn phát triển hiện nay…
Tiếp cận ở góc độ xã hội học chính là chỉ ra vai trò, vị
trí của NNL, NT trong
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội; chỉ ra cơ cấu của NNL, NT; chỉ ra nhu
cầu về số lượng, chất lượng, sự biến động của giai tầng xã hội được phản ánh trong
cơ cấu NNL, NT; chỉ ra mối quan hệ tương tác của phát triển NNL, NT và phát triển


cấu, số lượng, chất lượng NNL, NT. Cách tiếp cận này cho phép nhìn thấy bức tranh
chung về NNL, NT ở các lĩnh vực, giúp cho việc điều tiết, định hướng phát triển cụ
thể.

5- Tiếp cận liên cấp
, xem xét vấn đề NNL, NT ở các cấp độ khác nhau: cấp
độ vĩ mô (NNL, NT thuộc quản lý của Nhà nước, Bộ), trung mô (NNL,NT thuộc
quản lý của ngành, địa phương, tổng công ty) và vi mô (NNL, NT thuộc quản lý của
các cơ sở trường học, công ty, xí nghiệp…)

6-Vừa đúc rút kinh nghiệm trong nước, vừa tích cực khai thác học tập
các kinh nghiệm, cách làm cụ thể của nước ngoài để tìm các phương án tối ưu cho
vấn đề xây dự
ng, phát triển nhanh NNL, NT của đất nước trong tương lai. Khái quát

24
các thành tựu từ các tư liệu tài liệu, sách, báo đã có, cần chú ý đến các nghiên cứu
mới, các kinh nghiệm được rút ra từ các tác giả ngoài nước cũng như của cả các tác
giả trong nước nhưng không áp dụng dập khuôn máy móc, biết bổ sung bằng những
quan điểm, cách làm mới phù hợp riêng với điều kiện Việt Nam hiện nay.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
1. Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp nhằm thu thập, khai thác
các tư liệu, dữ liệu, thông tin từ các nguồn khác nhau liên quan đến vấn đề nghiên
cứu: các văn kiện , tài liệu của Đảng và Nhà nước; các báo cáo tổng kết, thống kê
đánh giá từ các Bộ, ngành, địa phương, tổng công ty, công ty, xí nghiệp, trường học;
các kết quả nghiên cứu từ các đề tài, khảo sát đã có trước đó về lĩnh vự
c mà đề tài
quan tâm; các tư liệu, dữ liệu thu thập trên các báo, tạp chí, các phương tiện truyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status