Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở việt nam đến năm 2020 - Pdf 13


ñy ban d©n téc
*** BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT
TRIỂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
Cơ quan quản lý : Ủy ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện : Viện Dân tộc
Chủ nhiện : PGS.TS Khổng Diễn
Phó Chủ nhiệm : TS. Phan Văn Hùng

PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 37
1. Khái quát đặc điểm, chính sách và một số hạn chế về phát triển của các dân tộc
thiểu số hiện nay 37
1.1. Đặc điểm các dân tộc thiểu số 37
1.2. Thực trạng xây dựng, thực hiện chính sách dân tộc hiện nay 38
1.3. Một số hạn chế về phát triển các dân tộc thiểu s
ố 49
2. Các ý kiến khác nhau về xây dựng Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 57
2.1. Ý kiến về sự không cần thiết phải xây dựng Chiến lược 58
2.2. Ý kiến cần thiết xây dựng Chiến lược 64
3. Quan điểm của Đảng và căn cứ pháp lý xây dựng Chiến lược phát triển các dân tộc
thiểu số 66

2
3.1. Quan điểm của Đảng 66
3.2. Các căn cứ pháp lý 69
4. Sự cần thiết xây dựng Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số 73
PHẦN BA: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT
TRIỂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 75
1. Quan điểm 75
1.1. Vị trí của Chiến lược 75
1.2. Vai trò của Chiến lược 76
1.3. Yêu cầu về nội dung Chiến lược 77
2. Định hướng 78
2.1. Xác định tên gọi của Chiến lược 78
2.2. Cơ sở khoa học xác định tư tưởng, mục tiêu, nội dung của Chiến lược 78
2.3. Phương pháp xây dựng Chiến lược 92
2.4. Cách tiếp cận khi xây dựng Chiến lược 98
2.5. Quy trình xây dựng Chi
ến lược 100

Bảng 10. Ý kiến chuyên gia TW về “Nghị quyết TW 7 Khoa 9 về công tác dân tộc là
bản chiến lược về công tác dân tộc” 64
Bảng 11. Ý kiến của TW về sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc
thiểu số 65
Bảng 12. Ý kiến của địa phương về sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triể
n các
dân tộc thiểu số 66
______________________________________________________________

HỘP
Hộp 1. Ý kiến của chuyên gia, nhà quản lý về việc xây dựng, thực hiện chính sách dân
tộc hiện nay: 46
Hộp 2. Quan điểm của chuyên gia của Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đâu tư về tác
động của Chiến lược phát triển quốc gia, các bộ, ngành đến vùng dân tộc 62
Hộp 3. Ý kiế
n của chuyên gia Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Viện Dân tộc
học; Viện Chính sách, Chiến lược phát triển Bộ Nông nghiệp về Nghị quyết TW7 64
Hộp 4. Ý kiến của PGS.TS Bùi Tất Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát
triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc xác định tư tưởng, mục tiêu của chiến lược. 79 4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết
Thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị, Quyết định 72 của Chính
phủ và Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lần 7 khóa IX về công tác dân tộc, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 1277/QĐ - TTg về phê duyệt đề án “Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu
của quản lý Nhà nước và phương thức công tác dân tộ

Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội nói chung, chiến lược phát triển của một số bộ ngành nói riêng; đặc
điểm tình hình về phát triển các dân tộc thiểu số, đề xuất cơ sở khoa học phục
vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đến
năm 2020.
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Cách tiếp cận
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc
thiểu số đến năm 2020 là tập hợp các quan điểm, luận cứ khoa học dựa trên
những điều kiện liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách cả nước
nói chung, kết quả thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở
các địa
phương nói riêng. Tiếp cận có nghĩa là xác định chỗ đứng, hướng quan sát, cách
tìm kiếm để có được thông tin chân thực về đối tượng, để hiểu được đối tượng.
Khái niệm “chỗ đứng”, “hướng quan sát”, “cách tìm kiếm” ở đây thuộc về lĩnh vực
tiếp cận tri thức, trước hết là những cách tiếp cận chung nhất, đảm bảo được tính
toàn diện của thông tin về
đối tượng và được sử dụng cho hầu hết các lĩnh vực
khoa học, đó còn là cách tiếp cận lịch sử, cách tiếp cận logic, cách tiếp cận hệ
thống. Đề tài sẽ đi sâu tiếp cận vĩ mô, tổng quan, liên ngành, đa lĩnh vực thông qua
các ý kiến của các chuyên gia từ các bộ, ngành trung ương và các nhà quản lý ở địa
phương.
Ngoài các cách tiếp cận như trên, do tính chất đặc thù,
đề tài tiếp cận liên
cấp, tức là nghiên cứu xem xét ở các cấp độ khác nhau, đồng thời có sự đan
xen, tác động qua lại lẫn nhau giữa các cấp quản lý trong hoạch định các chính
sách ở vùng dân tộc thiểu số.
Cuối cùng là tiếp cận trực tiếp các dân tộc thiểu số, chủ thể của đối tượng
nghiên cứu này.
3.2. Phương pháp nghiên cứu

lược và Chính sách phát triển Nông nghiệp Nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn; Viện Dân tộc học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam; Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Đa số các chuyên gia phỏng vấn có trình độ tiến sĩ, một số chuyên gia có
học hàm giáo sư, phó giáo sư, đã có nhiều năm công tác ở lĩnh vực dân tộc; dân
tộc học; nghiên cứu về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; chiến lược phát
triển các bộ, ngành.
Ở địa phương phỏng vấn 30 phiếu các nhà quản lý: Hầu hết các phiếu phỏng
vấn được hỏi đối tượng là trưở
ng ban, giám đốc, phó trưởng ban, phó giám đốc,
trưởng phòng, phó trưởng phòng, các Ban Dân tộc; Sở Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn; Sở Y tế; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch; Sở
Giáo dục

7
4. Nội dung nghiên cứu
- Nội dung và kinh nghiệm xây dựng, thực hiện chiến lược phát triển tổng
thể (chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước) và của các bộ ngành
như Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Nghiên cứu tổng quan tình hình phát triển và các chính sách thực hiện ở
vùng dân tộc thiểu số thông qua các tài liệu thứ cấp.
- Khuyến nghị về ph
ương pháp, quy trình xây dựng chiến lược phát triển
các dân tộc thiểu số đến năm 2020.
5. Các cá nhân tham gia thực hiện đề tài
TT
Họ và tên Tổ chức Nội dung
tham gia
1 PGS. TS. Khổng Diễn
Nguyên Viện trưởng Viện

hoạch và Đầu tư
Thành viên

8
10 CN. Phan Văn Cương Viện Dân tộc Thành viên
11 CN. Đinh Thị Thu Thảo Viện Dân tộc Thành viên
12 CN. Hà Thị Hòa Viện Dân tộc Thành viên
13 CN. Hoàng Lệ Nhật Viện Dân tộc
Thư ký hành
chính
14 CN. Nguyễn Thị Nhiên Viện Dân tộc
Thư ký khoa
học

6. Cấu trúc nội dung đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của báo cáo được chia thành 3
phần chính:
Phần một.
Một số vấn đề lý luận về chiến lược, chiến lược phát triển các
dân tộc thiểu số.
Phần này tập trung nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý thuyết liên quan
đến chiến lược và chiến lược phát triển. Trong đó giới thiệu một số kinh nghiệm
chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số của nước ngoài.
Phần hai.
Cơ sở thực tiễn và sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển
các dân tộc thiểu số.
Phần này tập trung phân tích thực trạng phát triển, những vấn đề tồn tại,
hạn chế của việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc: phân tích các quan
điểm khác nhau và cơ sở pháp lý cần thiết xây dựng chiến lược phát triển các dân
tộc thiểu số.

Quốc lý giải là “nghệ thuật thống soái”. Với cách lý giải như vậy, trong quân sự
“chiến lược” có thể hiểu là phương pháp chỉ huy, tài thao lược của người cầm
quân, có thể vạch ra những phương hướng chủ yếu của cuộc đấu tranh bao gồm
kế hoạch tổ chức, phương pháp chiến đấu, k
ỹ thuật chiến thuật sẽ được sử dụng
và khả năng ứng phó nhanh, nhạy kịp thời trong những tình huống cụ thể để
giành thắng lợi, giành lấy quyền kiểm soát trong một thời kỳ nhất định.
Ngày nay, các học giả Trung Quốc cho rằng: Chiến lược là những mưu
tính và quyết sách đối với những vấn đề trọng đại có tính chất toàn cục và lâu
dài, còn lý luậ
n và phương pháp quyết sách những vấn đề trọng đại mang tính
toàn cục và lâu dài nhiệm vụ của chiến lược học. Đối với quan điểm này thì
“chiến lược” đã thể hiện vị trí và vai trò hết sức quan trọng. Quả thực “Mưu
tính” là toàn bộ những phương hướng, kế hoạch của con người về một vấn đề
nào đó, dựa trên những cơ sở thự
c tiễn khách quan, khoa học, qua đó nó thể
hiện nhận thức, trí tuệ và trình độ phát triển của một đất nước, một dân tộc.

10
“Vấn đề có tính chất toàn cục” là thể hiện tầm quan trọng có ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển của một đất nước, khu vực, hay một lĩnh vực cụ thể và vì vậy
nó phải được thực hiện trong một thời gian dài.
Trong chính trị, khi nói về chiến lược cách mạng vô sản Stalin đã viết
“chiến lược và sách lược là khoa học chỉ đạo cuộ
c đấu tranh giai cấp của giai
cấp vô sản”. Với quan niệm như vậy, thì “chiến lược” có thể hiểu là những quy
định về phương hướng tấn công chủ yếu của giai cấp vô sản trong một thời kỳ
nhất định, vạch ra kế hoạch, bố trí lực lượng và đấu tranh để thực hiện kế hoạch
đó.
Năm 1962. Alfred Chandler một trong những nhà khởi xướng và phát triển

trình phát triển nhằm đạt được những mục tiêu đã định cho một thời kỳ dài.
Chiến lược cung cấp một “tầm nhìn” của một quá trình phát triển mong muốn
và giải pháp tổng thể tiến hành; chiến lược hướng dẫn các nhà hoạch
định chính
sách trong việc huy động và phân bố nguồn lực. Khái niệm của UNIDO có phần
giống với quan niệm của các nhà quân sự, chính trị, tuy vậy nó muốn gắn kết
chiến lược với hoạch định chính sách và các bản hoạch định khác.
Chúng tôi đồng tình với quan niệm mà PGS,TS. Ngô Doãn Vịnh đưa ra
trong cuốn Chiến lược phát triển về tư duy và hành động có tính chiến lược (
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007) : “Chi
ến lược phát triển hay
chiến lược về phát triển. Là “tinh thần cơ bản” của đường lối phát triển do con
người định ra, nó thể hiện chủ đề tư tưởng và gắn liền với chủ đề tư tưởng ấy là
phạm vi bao quát và nội dung chủ yếu (hay trọng tâm) của chiến lược được thể
hiện thông qua mục tiêu, hệ thống các quan điểm, biện pháp cơ bả
n có tính
chiến lược về phát triển ở tầm cao, tầm tổng thể, tầm dài hạn đối với sự phát
triển của một đối tượng (hay của một hệ thống) mà các nhà lãnh đạo đã đề ra;
nó chỉ đạo hành động thống nhất của một cộng đồng hay một quốc gia nhằm
đạt tới mục tiêu cao nhất, lớn nhất, tổng quát nhất đã xác định. Nói nh
ư thế có
nghĩa là mỗi chiến lược phát triển phải gắn với một đối tượng cụ thể.”
Như vậy, chiến lược phát triển là xác định các mục tiêu, hướng đích
tổng quát trong dài hạn do các chủ thể (cộng đồng, quốc gia hay nhóm quốc
gia) định ra nhằm phát huy được lợi thế của chủ thể trong sự tác động của
bối cảnh thay đổi và phân bổ có hiệ
u quả các nguồn lực cần thiết để đảm bảo
rằng các mục tiêu, hướng đích đó sẽ được thực hiện trong khoảng thời gian
đã định.
Bản thân chiến lược phát triển có nhiều loại, nhiều cấp. Chẳng hạn, mỗi

nào của quá trình phát triển và trong sự so sánh với quốc tế? Để trả lời câu hỏi
này cần phải làm rõ hai nội dung, đó là: thứ nhất là chúng ta đang ở đâu so với
chính mình (vị trí tuyệt đối) và đang ở đâu so với các quốc gia khác (vị trí tương
đối). Mức độ cụ thể và đầy đủ của những yếu tố cấu thành của điểm xuất phát
cần được xem xét theo quan điểm then chốt (những vấn đề quan trọng nhất, chứ
không nhất thiết phải đặt lên bàn tất cả những vấn đề có thể xem xét) với cái
nhìn phân tích, xét đ
oán (chứ không phải là mô tả trạng thái hiện tại) một cách
tổng quát.
+ Đánh giá và dự báo bối cảnh quốc tế, những tác động bên ngoài như
quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa, nguồn vốn bên ngoài và khả năng mở rộng
hợp tác quốc tế, khả năng mở rộng khoa học công nghệ
Từ các kết quả trên, phân tích được những thuận lợi, thời cơ, thách thức
và khó khăn đối với s
ự phát triển.
- Hệ quan điểm cơ bản của chiến lược

13
Các quan điểm này vừa có ý nghĩa chỉ đạo xây dựng chiến lược, vừa là
những tư tưởng và “linh hồn” của bản chiến lược mà trong từng phần nội dung
của bản chiến lược phải thể hiện và quán triệt. Hệ thống quan điểm thể hiện
những nét khái quát và đặc trưng nhất và có tính nguyên tắc về mô hình và con
đường phát triển kinh tế - xã hội của đất nướ
c hướng tới mục tiêu lâu dài Việc
xác định hệ quan điểm chủ đạo khi xây dựng chiến lược có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong việc tìm ra các bước ngoặt của con đường phát triển, nó tạo động
lực cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển của đất nước.
- Hệ thống mục tiêu chiến lược
Đây là mục tiêu gắn với việc giải quyết các vấn đề cơ b
ản của kinh tế với

triển kinh tế, xã hội. Không có các giải pháp này thì chiến lược chỉ đơn thuần
xem như là ý tưởng và nguyện vọng, không mang tính khả thi.
Như vậy, việc xây dựng một chiến lược phát triển đất nước cũng tức là
việc hoạch định đường đi nước bước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của quá
trình phát triển đất nước để hướng sự nỗ l
ực của toàn xã hội theo những mục
tiêu xác định là nhu cầu khách quan. Do đó, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn
cần phải xác định được:
- Đang đứng ở đâu? ( Bối cảnh và thực trạng)
- Cần đi đến đâu? ( Mục tiêu: tổng quát, cụ thể)
- Quan điểm và nguyên tắc nào cần quán triệt? (Quan điểm chỉ đạo)
- Đi theo phươ
ng hướng nào? (Phương hướng cơ bản)
- Đi bằng cách nào? (Giải pháp cơ bản)
Đây chính là nội dung của một chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên
10 năm. Trên cơ sở đó sẽ chia thành những chặng đường nhỏ - trong mỗi chặng
đường, ngoài năm nội dung trên còn phải xác định thêm cơ chế chính sách và
các lực lượng hỗ trợ cũng như những khâu trọng điểm, các giải pháp c
ụ thể -
thông qua các kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm.
Như vậy, sơ đồ hình thành mối quan hệ giữa các yếu tố chiến lược được
mô tả như sau:
chiến lược phát triển mới hoặc thay thế, nhấn mạnh lấy vi
ệc thỏa mãn nhu cầu
cơ bản của nhân dân làm mục đích quan trọng hàng đầu; cho rằng không thể coi
phát triển kinh tế chỉ là tăng trưởng kinh tế, khi tăng đầu ra thì đồng thời phải
tối ưu hóa kết cấu kinh tế và cải thiện điều kiện phát triển; từ chỗ coi trọng vai
trò của tư bản vật chất khi phát triển kinh tế, chuyển sang coi trọng vai trò của
các nhân tố th
ể chế, kết cấu và phát triển tư bản nhân lực đối với phát triển kinh
tế. Đây là loại chiến lược có rất nhiều điều mà Việt Nam có thể tham khảo.
- Chiến lược phát triển phi cân đối
Các quốc gia trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển, do nguồn lực
luôn ở trong tình trạng khan hiếm, nên không thể đủ nguồn lực để đáp ứng mọi
nhu cầu đầu t
ư thực hiện mọi mục tiêu của quá trình phát triển mà phải chấp
nhận sự “bất bình đẳng” tương đối để thực hiện các mục tiêu theo thứ tự ưu

16
tiên.
Trung Quốc là trường hợp khá điển hình của việc thực hiện chiến lược
này. Ở Trung Quốc, người ta hình thành hệ thống nghiên cứu chiến lược từ
Trung ương tới địa phương. Ở cấp Trung ương, có Trung tâm Nghiên cứu phát
triển thuộc Quốc vụ viện, ở các Bộ đều có bộ phận chịu trách nhiệm nghiên cứu
chiến lược và ở cấp địa phươ
ng, mỗi tỉnh đều có một cơ quan nghiên cứu phát
triển.
Trung tâm Nghiên cứu phát triển thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc đã
nghiên cứu xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn của
Trung Quốc đến năm 2020 và 2050. Chiến lược phát triển dài hạn của Trung
Quốc đề ra một viễn cảnh mà Ban lãnh đạo nhà nước và nhân dân Trung Quốc
muốn đạt đến sau một thời kỳ nhất

phát triển của các vùng ít tiềm năng hơn; tạo nguồn lực để đầu tư vào các vùng
kém phát triển hơn; đồng thời, tập trung đầu tư phát triển những ngành mà
Trung Quốc có lợi thế. Với quan điểm phát triển này, từ thập kỷ 80 c
ủa thế kỷ
XX, Chính phủ Trung Quốc có các chính sách tạo điều kiện phát triển mạnh
những ngành chủ đạo như điện, điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất vật liệu
cũng như dồn sức thúc đẩy sự phát triển vùng miền Duyên hải phía Đông. Bắt
đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc xây dựng bốn đặc khu kinh tế
là Thâm Quyế
n, Chu Hải, Sơn Đầu, Hạ Môn và tiếp đó cho phép 14 thành phố
ở miền Đông mở cửa vào năm 1984. Tiếp theo là khu kinh tế mở Phố Đông
được thành lập vào năm 1992 và Khu kinh tế Hải Nam ra đời vào năm 1995.
Theo các báo cáo của Trung Quốc thì khu vực Duyên hải phía Đông đã tạo ra
khoảng 2/3 GDP và thu hút khoảng trên 2/3 FDI của cả nước Trung Quốc. Ba
quyết sách chủ yếu đối với khu vực phía Đông là: đầu tư nước ngoài là chính,
công ngh
ệ cao là chính và sản xuất sản phẩm xuất khẩu là chính. Mặt khác,
Trung Quốc đi theo đường lối “một số người giàu trước” cũng thể hiện quan
điểm phát triển phi cân đối đã được đề cập ở trên.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc chấp nhận phát triển phi cân
đối đã tạo ra sự khác biệt ngày càng lớn về mức sống giữa các vùng miền, giữ
a
các tầng lớp dân cư; cách biệt giữa hai miền Đông và miền Tây là rất rõ (theo số
liệu công bố của các cơ quan chức năng Trung Quốc vào những năm đầu của
thế kỷ XXI, miền Tây chiếm 60% tổng diện tích và 30% dân số cả nước nhưng
GDP chiếm chưa đầy 20% của cả nước, bình quân GDP đầu người chỉ bằng
60% mức trung bình cả nước và chỉ bằng 40% GDP đầu ngườ
i của khu vực
miền Đông). Nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa hai miền Đông và miền Tây,
trong những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chiến lược khai phát

nhận thấy rất rõ rằng, Trung
Quốc điều chỉnh chiến lược phát triển vùng theo quan điểm phát triển phi cân
đối, có trọng tâm, trọng điểm. Thực tế cho thấy cách làm của họ đem lại kết quả
cũng như hiệu quả tốt.
- Chiến lược phát triển bền vững
Phát triển bền vững thực sự là vấn đề sống còn của nhân loại, là
đòi hỏi
bức xúc cũng là thách thức gay gắt đối với các quốc gia. Từ những năm 60 của
thế kỷ XX trở đi, trên thế giới dân số tăng mạnh, môi trường bị ô nhiễm, tài
nguyên cạn kiệt, v.v người ta đã nghĩ tới chiến lược phát triển bền vững dựa
trên sự phát triển ở trình độ cao hơn với những mũi nhọn của khoa học - công
ngh
ệ và trí tuệ con người.
Đến những năm 80 của thế kỷ XX lý luận phát triển bền vững được hình
thành về cơ bản. Năm 1980, trong báo cáo “chiến lược bảo vệ thế giới” lần đầu
tiên người ta chính thức sử dụng khái niệm “phát triển bền vững”. Năm 1983,

19
Liên hợp quốc thành lập Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED).
Năm 1987, tổ chức này đã đệ trình lên “Hội nghị môi trường và phát triển của
Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 42” bản báo cáo “Tương lai chung của chúng
ta”, báo cáo này lần đầu tiên chính thức sử dụng khái niệm phát triển bền vững
là “thỏa mãn nhu cầu của thế hệ chúng ta hôm nay nhưng không gây
phương hại đến thỏa mãn nhu cầu củ
a những thế hệ sau”. Phát triển bền
vững là phát triển có được sự bền vững cả trong kinh tế, trong xã hội và môi
trường. Phát triển bền vững của một quốc gia phải được đặt trong sự phát triển
bền vững của các nước trên thế giới.
Chương trình Nghị sự 21 của Chính phủ Việt Nam chính là văn kiện phản
ánh chiến lược phát triển bền vững, tăng t

quá trình lựa chọn, xác định tầm nhìn bao quát, tìm ra hướng đi trong dài hạn.
Như vậy, xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển sẽ giúp cho các nhà
lãnh đạo, các nhà hoạch định chủ động xem xét và xác định đất nước sẽ đi theo
hướng nào và khi nào thì đạt tới cơ sở cho sự thành công và chiến thắng trên
bước đườ
ng thực hiện mục tiêu phát triển của mình một cách có hiệu quả nhất.
Thứ hai, những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường: Trong điều
kiện kinh tế thị trường mở, điều kiện môi trường mà các quốc gia phải đối mặt
luôn biến đổi nhanh chóng, những biến đổi nhanh chóng thường tạo ra hay làm
mất đi những cơ hội và nguy cơ b
ất ngờ trong các yếu tố môi trường phát triển.
Do đó, phương thức quản lý bằng chiến lược giúp các nhà hoạch định chủ động
và kịp thời dự báo, tính toán và xác định cơ hội và thách thức, nhằm tận dụng và
khai thác triệt để cơ hội, giảm thiểu tác động tiêu cực cuả thách thức để thể hiện
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai.
Thứ ba, chiến lược cung c
ấp một tầm nhìn và khuôn khổ chung xây dựng
và triển khai các văn bản hoạch định ở các cấp thấp hơn: Chiến lược là cơ sở
cho việc xây dựng chính sách, quy hoạch và kế hoạch ngắn hạn, trung hạn.
Chiến lược cung tấp tầm nhìn và khuôn khổ tổng quát cho việc thực hiện các
quan hệ hợp tác hay hội nhập quốc tế một các chủ động và có hiệu quả.
2. Khái niệm, tính chất c
ơ bản của chiến lược phát triển các dân tộc
thiểu số
2.1 Quan điểm của Lênin và Hồ Chí Minh về chiến lược phát triển các
dân tộc
Trên cơ sở kế thừa các tư tưởng, quan điểm của Mác và thực tiễn nghiên
cứu tình hình dân tộc dưới chế độ Nga Hoàng, Lênin đã rút ra những vấn đề,
nguyên tắc cơ bản trong chính sách, giải quyết các vấn đề dân tộc của Đả
ng

giữa các dân tộc vẫn luôn luôn là chiến lược và sách lược phát triển đất nước
của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và để thực hiện được tốt quyền bình
đẳng giữa các dân tộc, nhiều nước đã và đang xây dựng luật dân tộc để điều
phối và đề ra các nguyên tắc ứng xử giữa các dân tộc.
Tiếp tục kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ ngh
ĩa Mác - Lênin vào hoàn
cảnh cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận thức được mối quan hệ chặt
chẽ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, lựa chọn cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.
Trong tư tưởng của Người luôn chứa đựng một cách nhìn toàn diện về dân tộc,
trong đó “Bình đẳng, đoàn k
ết các dân tộc” là hạt nhân để giải quyết mối quan
hệ giữa các dân tộc. Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại
Plâycu, ngày 19 tháng 4 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Đồng bào
Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các
dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng
ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau. Chúng ta phải thương yêu nhau,

1
V. I. Lênin: Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc. Nxb Sự thật, Hà Nội-1963, tr. 20.

22
phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của
chúng ta và con cháu chúng ta”
2
.
Để cụ thể thành hành động, Người đã chỉ đạo Đảng, Chính phủ cần phải
có kế hoạch dài hạn để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi; đồng bào
miền xuôi phải giúp đỡ đồng bào miền ngược. Đối với đồng bào các dân tộc
thiểu số, người cũng chỉ ra rằng, đồng bào các dân tộc thiểu số cũng phải không

ố là xác định các mục tiêu,

2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2000.

23
phương hướng, giải pháp trong dài hạn, nhằm phát triển các dân tộc thiểu số
theo nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng
phát triển”.
Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số là công cụ quản lý nhà nước về
công tác dân tộc, phản ánh các vấn đề mang tính quy luật, được dự báo một
cách khoa học, để chỉ đạo quá trình phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần cho cộng đồng các dân t
ộc.
Một số vấn đề quan trọng cần chú ý khi bàn về thuật ngữ chiến lược phát
triển các dân tộc thiểu số
Thứ nhất, Quan điểm đường lối cơ bản về phát triển các dân tộc thiểu số
được phản ánh trong tư tưởng chiến lược và hệ thống các quan điểm chỉ đạo
thông qua các mục tiêu, phạm vi bao quát của chiến lược và những nhiệm v
ụ cơ
bản phải thực hiện để đạt được những mục tiêu đó.
Thứ hai, Chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số phải được đảm bảo đầy
đủ, kịp thời các phương tiện vật chất và tinh thần để biến các mục tiêu chiến
lược và nhiệm vụ chiến lược thành hiện thực.
Thứ ba, việc điều hành và tổ
chức thực hiện chiến lược phát triển các dân
tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng, nó có tính quyết định tới việc biến các ý
tưởng, quan điểm và mục tiêu chiến lược trở thành hiện thực.
Như vậy, khi nói về chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số là nói tới
chiến lược về sự phát triển của một hệ thống, chiến lược dẫn dắt h

toàn bộ hệ thống và gây ra hiệu ứng rõ rệt. Đây là tính chất quan trọng chúng ta
cần nắm rõ, để trong quá xây dựng, hay thực thi chiến lược phải biết lựa chọn
những vấn đề có tính mấu chốt, gây đột phá mạnh mẽ cho cả hệ thống để thực
thi.
- Tính bao quát
Đối với Việt Nam, một quốc gia có nhiều dân tộc chung số
ng trên phạm
vi toàn lãnh thổ. Vì vậy Chiến lược phát triển các dân tộc là một văn bản lớn,
bao quát và định hướng cơ bản các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã
hội ở vùng dân tộc thiểu số. Chiến lược không phải là bản kế hoạch hay quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn, bởi vì tính lượng hoá, tính cụ
thể của các hợp phần không cao, chỉ vừa đủ cung cấp nhữ
ng cơ sở khoa học cho
chủ trương, đường lối để hướng dẫn thực hiện. Tuy nhiên mục tiêu của chiến
lược lại rõ ràng, hệ thống các chỉ tiêu được lượng hoá, hướng dẫn tổ chức thực
hiện cụ thể, đủ để các cấp các ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, quy hoạch
phát triển cho phù hợp.
- Tính lựa chọn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status