báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Báo chí với việc tuyên truyền
giá trị văn hóa truyền thống của các
dân tộc thiểu số vùng tây bắc MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc được coi là tấm giấy thông hành để mỗi con người
bước ra với cộng đồng nhân loại mà không bị trộn lẫn. Điều này càng có ý nghĩa quan
trọng khi chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập với thế giới
trong xu thế toàn cầu hóa.

cao chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Dãy núi Hoàng Liên Sơn cao đến 1500m dài tới
180km, rộng 30km, với một số đỉnh núi cao trên 3000m, vùng Tây Bắc có 2 con sông lớn
đó là sông Đà và sông Thao (Tức là sông Hồng). Thượng nguồn của sông Mã cũng trên vùng
Tây Bắc. Với đặc điểm địa hình như vậy đã tạo nên cho vùng Tây Bắc không gian văn hóa
dân tộc đặc sắc, nổi bật nhất là văn hóa dân tộc Thái với những điệu múa xòe uyển chuyển,
quyến rũ với trang phục dân tộc độc đáo, kín đáo nhưng gợi cảm, với những trái Còn, trái Pa
Pao chao liệng khi xuân đến, Và với những phiên chợ tình thơ mộng, lãng mạn của dân tộc
Mông Ngoài ra vùng Tây Bắc còn có gần 30 dân tộc anh em các dân tộc thiểu số, sống
đoàn kết hòa thuận muôn đời bên nhau.
Vùng Tây Bắc Việt Nam có một nền văn hóa cội nguồn đa dạng, độc đáo, được
kết tinh từ đời này sang đời khác. Đó là một trong những nội lực to lớn của đất nước.
Nhưng hiện nay, giá trị bản sắc văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc đang xuất hiện xu
hướng bị đồng hóa về văn hóa, từ nghi thức sinh hoạt, lễ hội tín ngưỡng, phong tục tập
quán, đến những bộ trang phục truyền thống các dân tộc giờ đây ít được lớp trẻ chuộng
dùng, tiếng nói riêng của từng dân tộc cũng bị pha trộn, nhiều lớp trẻ không biết nói của
dân tộc mình. Âm nhạc, những làn điệu dân ca cũng bị xem thường hoặc chỉ là thú vui
của người cao tuổi do đó, “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và
xây dựng những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số”
[31, tr.65] cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà nghị quyết Trung ương V
khóa VIII của Đảng cũng đã đề cập tới.
Với vai trò là một kênh thông tin quan trọng, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy sự nghiệp
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng bộ, chính quyền các

tỉnh vùng Tây Bắc, hệ thống báo chí đã có những đóng góp tích cực trong việc tuyên
truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến đông đảo nhân
dân góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân
dân các dân tộc, nhất là trong công tác tuyên truyền việc giữ gìn và nâng cao bản sắc
văn hóa các dân tộc thiểu số. Bằng sức mạnh của mình, báo chí tác động vào nhận
thức của công chúng, của xã hội, tạo ra ý thức cao về vị trí vai trò của văn hóa trong
phát triển, từ đó xây dựng nên những ước muốn gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa

hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, Hà Nội; Hoàng Vinh (1997): Một số
vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa các dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội; Hoàng Nam (1998): Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người văn hóa Việt Nam,Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội; Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam (2003): Trang phục
các tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và Tày- Thái;
Các luận văn đại học và sau đại học có đề tài liên quan đến truyền thống văn
hóa dân tộc
Chu Đức Kìu (1993): Khảo sát đội ngũ nhà báo dân tộc ít người Cao Bằng lịch sử và
thực trạng”, Luận văn tốt nghiệp đại học, Hà Nội.
La Vũ Quang (1993): Một số vấn đề về tiếp tục nâng cao chất lượng hiệu quả thông
tin, tuyên truyền với đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số ở buổi phát thanh đại gia đình các
dân tộc Việt Nam. Luận văn tốt nghiệp đại học. Hà Nội.
Giàng Seo Pùa năm (1994): Những bước đi ban đầu của chương trình phát thanh tiếng
Mông (Đài tiếng nói Việt Nam), Tiềm năng và xu hướng phát triển”, Luận văn tốt nghiệp đại
học, Hà Nội.
Nguyễn Thu Liên (1997): Vấn đề giũ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong các chương
trình phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, Luận án thạc sỹ báo chí, Học viện báo chí và
tuyên truyền quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Đặng Đình Quang( 1997): Hoạt động thông tin báo chí Tỉnh Lào Cai trong thời kỳ đổi
mới, Luận văn thạc sĩ báo chí, Hà Nội.

Nguyễn Xuyên An Việt (2001): “ Thông tin về miền núi và dân tộc trên sóng VTV1 -
Đài truyền hình Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội
Đỗ Thanh Phúc (2005): “ Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên
sóng truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Hòa Bình”, Luận văn thạc sỹ truyền
thông đại chúng.
Trịnh Liên Hà Quyên (2006): “ Báo Văn hóa với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa trong giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng, Hà Nội.
Tuy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu sâu về vấn đề bảo tồn bản sắc,
giá trị truyền thống của văn hóa các dân tộc thiểu số, song chưa có công trình nào nghiên

4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
báo chí và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; những đường lối, chủ trương về giữ
gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước.
Mặt khác còn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết truyền thông và cơ sở lý
luận báo chí. Đề tài còn dựa vào lý thuyết đặc điểm của văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa
dân tộc thiểu số để nghiên cứu, đánh giá.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Thống kê các bài viết liên quan đến tuyên truyền giữ gìn bản sắc văn hóa truyền
thống các dân tộc thiểu số trên Báo Sơn La, tạp chí văn nghệ Suối Reo, chương trình phát
thanh, truyền hình trong thời gian từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009. Trên cơ sở
đó đánh giá, phân tích rõ hơn vai trò, vị trí của báo chí Sơn La với vấn đề tuyên truyền
giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với đối tượng là
công chúng báo chí Sơn La để tăng thêm tính khách quan cho đề tài.
5. Đóng góp của đề tài
Đây là công trình đầu tiên về công tác báo chí với việc tuyên truyền những giá trị
văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, cho nên đề tài sẽ có ích cho
đối tượng lãnh đạo, quản lý báo chí hiểu hơn về vai trò, vị trí, thực trạng của hệ thống
báo chí trong việc sản xuất các chương trình nhằm giữ gìn và nâng cao giá trị văn hóa các

dân tộc thiểu số trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, từ đó có những
chính sách phù hợp nhằm lãnh đạo, quản lý hiệu quả hơn. Đề tài cũng có thể là tài liệu
tham khảo cho những người quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu
số nói chung vùng Tây Bắc nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Về mặt lý luận
Bước đầu tổng kết khái quát những quan điểm cơ bản về báo chí với vấn đề giữ
gìn bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc tổ quốc.
6.2. Về thực tiễn

tr.12].
Vào thế kỷ XIX thuật ngữ “Văn hóa” được những nhà nhân loại học phương tây
sử dụng như là một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế
giới cơ thế giới có thể chia ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất, và văn hóa của
họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn
lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B Taylo là đại diện của họ. Theo ông, văn hóa là
toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong
tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được, với tư cách là một thành
viên của xã hội.
Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo (F.Boas) ý nghĩa văn hóa được qui
định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”,
vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí,

lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa. Văn hóa không xét ở góc độ cao thấp mà
xét ở góc độ khác biệt [66, tr.18].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, thì văn hóa chỉ gắn liền với con người
và xã hội loài người. Cội nguồn của sự tồn tại phát triển văn hóa là ở hoạt động sáng tạo
của con người. V.I.Lênin, người kế tục sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăngghen từ quan
điểm xem xét văn hóa với tư cách là sự phát triển bản chất của con người đã nhấn mạnh,
phân tích sâu thêm mặt xã hội của văn hóa với cách tiếp cận từ hình thái kinh tế. Người
nhấn mạnh tính nhân loại, tính giai cấp, tính kế thừa của văn hóa. Đặc biệt xem cách
mạng văn hóa như một bộ phận hữu cơ của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Khi tiếp nhận tư tưởng cách mạng của Mác-Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, tinh hoa
văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa dân tộc, từ năm 1943 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái quát ý nghĩa của văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương pháp sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa” [28, tr.17]. Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn
hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm những gì không phải

đó cho đến lúc bấy giờ. Từ đó đến nay chắc chắn số định nghĩa đã tăng lên rất nhiều tuy
nhiên không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hòa hợp, bổ sung cho
nhau, nhưng tựu chung các định nghĩa đều khẳng định rằng, văn hóa là một nhân tố cực kỳ
quan trọng cho sự phát triển của con người và của loài người. Thiếu nó, loài người không
phát triển. Và khi đó xã hội loài người sẽ vĩnh viễn chỉ là một bầy đàn những con vật biết
đứng trên hai chân mà thôi. Như vậy, trong khi có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về
văn hóa, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà văn hóa lại cùng khẳng định vai trò của văn
hóa trong phát triển, coi văn hóa là yếu tố cơ bản, là động lực của phát triển.
Từ “Văn hóa” trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa ta có thể qui về
hai cách hiểu chính. Theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng
như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử văn hóa được xem là bao gồm những gì do con
người sáng tạo ra. Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn

Cái đặc trưng cốt lõi của văn hóa, cái làm cho văn hóa có sức mạnh phục vụ phát
triển là bản sắc riêng có của mỗi nền văn hóa, mỗi dân tộc. Chính bản sắc riêng ấy mới
tạo ra sự đa dạng, phong phú của các nền văn hóa trên thế giới, mới kích thích nhu cầu
tìm hiểu, tiếp thu, hòa nhập lẫn nhau giữa các nền văn hóa, nhằm làm cho mình giàu có
hơn, phong phú hơn. Và nhờ vậy nền văn hóa thế giới từ đó càng đa dạng và phong phú.
Quá trình này là quá trình sáng tạo – sáng tạo ra những giá trị mới phục vụ đời sống con
người. Nhờ sáng tạo mà các nền văn hóa có sức mạnh chi phối sự phát triển, tạo ra sự
phát triển. Một nền văn hóa đồng phục sẽ giết chết sự sáng tạo, mà cũng vì thế mà giết
chết sự phát triển.
Văn hóa chính là kết tinh của nhiều giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội. Một
năm, một thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ không dễ tạo nên cơ sở của một nền văn hóa dân
tộc. Mỗi dân tộc có thể có những sức mạnh riêng về kinh tế, quân sự, tài nguyên, môi
trường, nhưng sức mạnh về văn hóa có ý nghĩa đặc biệt. Nó tác động trực tiếp và lâu dài
đến nhiều hoạt động xã hội. Theo một nhà nghiên cứu nước ngoài, Liên hợp quốc có 193
quốc gia thì chỉ có 34 dân tộc có nền văn hóa có bản sắc trong đó có Việt Nam. Sức mạnh
của văn hóa được tổng hợp từ nhiều nhân tố, nhiều điều kiện chính trị, xã hội nội tại
không thể vay mượn được. Có thể một dân tộc chịu những ảnh hưởng của một nền văn

dân tộc hình thành và phát triển theo những điều kiện xã hội và kinh tế, chính trị và thể
chế. Nó cũng phát triển theo quá trình xâm nhập văn hóa, theo xu hướng tiến hóa chung
của nhân loại chủ yếu trên hai mặt mang tính thống nhất vừa giữ vững phát huy cái
hay, cái đẹp vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đúng với tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa “Phương Đông hay phương Tây, có cái gì hay, có cái gì tốt
phải học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn
hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy
Việt Nam” [28, tr.22].
1.2. TÂY BẮC - MỘT VÙNG ĐẤT GIÀU GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.2.1. Tây Bắc - Vùng đất có tầm quan trọng về địa lý - Kinh tế - Chính trị

Vùng Tây Bắc bao gồm các tỉnh, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Điện
Biên có đường biên giới giáp với các nước bạn Lào và Trung Quốc, Với gần 30 dân
tộc anh em: Kinh, Thái, H’Mông, Mường, LaHa, Tày, Dao, Kháng, Sinh Mun, Khơ
mú, Lào, Hoa, … cùng sinh sống, là một vùng rộng lớn có địa chính trị, kinh tế- văn
hóa độc đáo, có vị trí chiến lược đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh -
quốc phòng - kinh tế, xã hội và văn hóa. Đây là cửa ngõ đường bộ và các tỉnh biên
giới cũng là án ngữ các quốc gia phương Bắc tiến xuống Đông Nam Á. Chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch phản động, từ trước tới nay luôn lợi dụng vị trí hiểm
trở, những khó khăn tạm thời về kinh tế - xã hội để thực thi các thủ đoạn chia rẽ dân
tộc, thực hiện “ diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, vị
trí quan trọng này luôn được các nhà cầm quân trong lịch sử và được Đảng xác định
là then chốt trong cuộc đấu tranh cách mạng dành độc lập dân tộc cho đến công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày hôm nay.
Trong sự nghiệp đổi, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách
nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, tạo điều kiện để Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, cùng đất nước
tiến lên công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Bên cạnh sự phát triển chung của đất nước,
thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về mở cửa, giao lưu hội nhập kinh tế quốc

biến và xuất khẩu. Độ che phủ của rừng năm 1996 là 21,5% tăng lên 50% năm 2008,
giá trị xuất khẩu công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 33,5%. Mạng lưới điện
quốc gia đã đến được 99% cơ sở xã, phường, thị trấn, thành phố.
Thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, các dân tộc Tây Bắc nói chung Sơn
La nói riêng đang có những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Các cơ sở kinh tế mới, hệ thống trường phổ thông nội trú được quan tâm thỏa đáng.
Vì thế, các dân tộc đã khẳng định tính vững chắc, niềm tin tuyệt đối vào con đường
đổi mới của Đảng, Nhà nước ta hiện nay. Sơn La đã hoàn thành phổ cập giáo dục
tiểu học đúng độ tuổi, chống mù chữ và đang củng cố kết quả đó. Về y tế hiện nay
đã loại trừ bệnh phong trong toàn tỉnh, trên 2200 bản có cán bộ y tế. Trên lĩnh vực
thông tin, báo chí, xuất bản phát triển về cả chiều sâu và bề rộng, góp phần tích cực

vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức, củng cố khối đại đoàn kết cổ vũ thực hiện công
cuộc đổi mới. Hiện nay Sơn La có 450 bản văn hóa, gần 60.000 gia đình văn hóa, có
trên 650 đội văn nghệ quần chúng, 70% dân số được xem truyền hình, 80% dân số
được nghe hệ thống Đài phát thanh Trung ương và địa phương.
Từ những nét cơ bản về kinh tế, xã hội của Sơn La cho thấy, đời sống văn
hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc Sơn La cũng như miền núi Tây Bắc hôm nay
đã có sự thay đổi đáng kể. Những gì đạt được từ chiến lược phát triển kinh tế, xóa
đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước hôm nay là do “Đảng bộ các tỉnh Tây Bắc
không chỉ quan tâm đến mặt kinh tế mà còn đặc biệt quan tâm chăm lo đến đời sống
tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, phát huy
văn hóa dân tộc và tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh em” [53,
tr.39], đây chắc chắn sẽ là động lực để đồng bào Tây Bắc nói chung, Sơn La nói
riêng vững bước phát triển, đi lên.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa các tỉnh miền núi Tây Bắc thực chất
cũng là quá trình hình thành và phát triển con người - nguồn lực cơ bản thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội của bà con các dân tộc Tây Bắc.
1.2.2. Tây Bắc vùng đất của những trang sử anh hùng
Tây Bắc, là địa bàn miền núi, nhiều dân tộc, có truyền thống văn hóa lâu đời từ

góp phần là hậu phương lớn của Miền Nam ruột thịt. Ở Tây Bắc chỉ trong bốn năm từ
năm 1965-1968 Tây Bắc đã có 159.818 thanh niên các dân tộc lên đường tòng quân ra
mặt trận, trong đó có 2% là nữ và nhiều con em các dân tộc thiểu số. Trong suốt cuộc
chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bàn chân của con em các dân tộc thiểu số đã in khắp
các chiến trường, trong số đó có rất nhiều người đã không bao giờ trở về.
Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, song các thế lực thù địch vẫn lợi dụng địa bàn
hiểm trở, cư dân thưa thớt, đặc biệt lợi dụng dân tộc Tây Bắc có những mối quan hệ láng
giềng và quan hệ họ hàng thân thiết với đồng bào dân tộc ngoài biên giới hoạt động
chống phá cách mạng nước ta, mục đích nhằm vô hiệu hóa các chủ trương, chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trước “Đường lối chính trị đúng đắn của
Đảng ta đã từng bước cảm hóa mạnh mẽ và thu hút được tất cả các dân tộc thiểu số Tây

Bắc đi theo con đường đấu tranh và xây dựng để có dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [53, tr.45].
Với truyền thống yêu nước và lòng tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng của
Đảng, tiếp bước cha, anh, “Các dân tộc, tộc người sống trên vùng Tây Bắc đã tìm thấy
sức mạnh của mình, con đường phát triển của mình trong sức mạnh và con đường phát
triển chung của cả cộng đồng các dân tộc nước ta,” [53, tr.43] luôn thực hiện tốt chính
sách của Đảng, Nhà nước, định canh, định cư, xóa bỏ cây thuốc phiện truyền thống, thực
hiện nhận đất, nhận rừng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên
tiến, đưa các giống mới vào gieo trồng, tích cực xóa đói, giảm nghèo, xóa nạn mù chữ,
mở mang y tế, phát triển giao thông, vận tải, phát thanh - truyền hình, thông tin văn
hóa…Đảng bộ các dân tộc Tây Bắc đặc biệt quan tâm phát triển nền văn hóa nghệ thuật
các dân tộc thiểu số làm cho nó thực sự nở hoa kết trái góp phần làm phong phú đời sống
văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc. Nền văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng
Tây Bắc không chỉ tồn tại, đứng yên mà đã và đang luôn luôn vận động phát triển trong
sự giao lưu, tác động lẫn nhau. Quá trình giao lưu ấy đã thúc đẩy mạnh mẽ sự xích lại
gần nhau, tăng thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc ở nước ta.
1.2.3. Tây Bắc vùng đất giàu bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số
Văn hóa Tây Bắc là trầm tích lịch sử kéo dài và nối liền từ tiền - sơ sử cho đến

quan. Để đi khảo sát những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và gìn giữ những giá
trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số của các tỉnh vùng Tây Bắc, chúng tôi xin đi
sâu vào tỉnh Sơn La, đây là một tỉnh trung tâm của miền núi Tây Bắc. Trong những năm
đổi mới, đặc biệt là từ khi thực hiện nghị quyết Trung ương lần thứ V khóa VIII của
Đảng, Sơn La đã tổ chức kiểm kê, điều tra, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng các di
tích lịch sử và văn hóa, đến nay đã kiểm kê được 37 di tích lịch sử cách mạng, 36 di tích
khảo cổ học, 14 di tích danh thắng, 3 di tích kiến trúc nghệ thuật, trong số này, đến nay
có 10 di tích được xếp hạng Quốc gia, 29 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Công tác nghiên
cứu khoa học, đề xuất các phương án bảo tồn được đẩy mạnh, các đề tài nghiên cứu cấp
tỉnh về bảo tồn di sản văn hóa đã được thực hiện như: Đề tài nghiên cứu “Văn hóa thời
tiền- sơ sử Sơn La”; Đề tài “Nghiên cứu bổ sung và viết thuyết minh giới thiệu một số di

tích lịch sử văn hóa dọc Quốc lộ 6 tỉnh Sơn La”. Những kết quả nghiên cứu này đã được
áp dụng vào thực tiễn, kịp thời bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa, tiêu biểu là Khu di
tích Nhà tù Sơn La, Di tích lịch sử văn hóa Quế Lâm Ngự Chế- Đền thờ Vua Lê Thái
Tông, Di tích lịch sử Ngã ba Cò Nòi, Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Mường Và, Tháp
Mường Bám, Thắng cảnh Hang Dơi Mộc Châu. Các di tích này đang được bảo tồn và
khai thác rất hiệu quả, hàng năm thu hút được hàng nghìn lượt người tham quan, học tập
góp phần vào việc giáo dục truyền thống, ý thức phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và
hoạt động xã hội của người dân Sơn La, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa với các
vùng miền trong cả nước.
Công tác sưu tầm, gìn giữ các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng luôn được
quan tâm, chú trọng. Hàng trăm di vật thời Tiền sử, sơ sử đã được tìm thấy tại nhiều địa
phương như Mường Chanh (Mai Sơn); Thôm Mòn (Thuận Châu) và một số xã thuộc các
huyện ven sông Đà như Mường La, Bắc yên, Phù Yên, Quỳnh Nhai. Gần 2000 bản sách
được ghi chép bằng chữ Thái cổ thuộc nhiều thể loại như Sử thi, Trường ca, Truyện thơ
dân gian… Nhiều hiện vật của nghề thủ công, mỹ nghệ truyền thống đã được sưu tầm,
trưng bày, khai thác. Đặc biệt, nhằm bảo vệ các di sản vùng lòng hồ Thủy điện Sơn
La, những năm qua Sơn La đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành

1.3.1. Chính sách của Đảng và Nhà nước tác động tới Tây Bắc
Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch
định hệ thống chính sách đồng bộ, trong đó có chính sách dân tộc, các văn bản chính sách
có ý nghĩa lớn đối với miền núi phía Bắc, nói riêng là nghị quyết 22 của Bộ Chính trị
(ngày 27-11-1989) về một số chủ trương chính sách lớn về phát triển kinh tế miền núi,
các văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, lần thứ X vừa qua.
Thông qua hệ thống các văn bản từ văn kiện của Đảng, Chính Phủ, cũng như các
văn bản dưới luật, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được quan tâm
cả trong phương diện hoạch định chính sách, đến việc thể chế hóa và thực hiện trong đời
sống chính sách dân tộc.

Về kinh tế, nội dung nhiệm vụ trong chính sách dân tộc miền núi phía chính là chủ
trương phát triển kinh tế xã hội miền núi và các vùng dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện
cho các dân tộc phát huy tiềm năng và nguồn lực, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, phát
triển kinh tế hàng hóa, từng bước rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa miền núi và miền
xuôi.
Về phương diện chính trị, thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết, tương trợ giúp
đỡ lẫn nhau và cùng phát triển. Đồng bào các dân tộc thiếu số cũng như đa số đều có
quyền làm chủ, có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm
xây dựng thể chế chính trị, phát huy vai trò hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu
số. Dân chủ hóa đời sống chính trị đã được thực hiện ở các vùng nông thôn miền núi,
vùng dân tộc thiểu số. Ý thức chính trị, văn hóa chính trị mà trước hết là những thông tin,
tri thức về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền lợi và
nghĩa vụ công dân được chú ý quan tâm trong chính sách dân tộc.
1.3.2. Nghị quyết Trung ương V khóa VIII của Đảng với vấn đề phát huy giá
trị văn hóa truyền thống các dân tộc Tây Bắc
Trong lịch sử phát triển của xã phát triển xã hội của loài người nói chung và của
Việt Nam nói riêng đã chứng minh và khẳng định bất cứ một triều đại nào, một chế độ
chính trị nào, một Đảng nào muốn giữ được vai trò thống trị và lãnh đạo toàn xã hội đều
đặc biệt quan tâm đến văn hóa.

năm 1998 lại được nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ V nêu lên như
một trong những quan điểm chỉ đạo cơ bản của sự nghiệp xây dựng sự nghiệp văn hóa
của đất nước ta suốt trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết Trung ương V
khóa VIII đã chỉ rõ phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau:
Một là, phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức
độc lập, tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại.

Hai là, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào
từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh
vực sinh hoạt và quan hệ con người.
Ba là, phương hướng chung chỉ rõ mục đích của xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm tạo ra.
Trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp.
Trình độ dân trí cao, khoa học phát triển.
Phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa , vì mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, tiến bước vững chắc lên Chủ nghĩa xã
hội.
Nghị quyết lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa VIII cũng khẳng định 5 quan điểm chỉ
đạo của Đảng đối với văn hóa:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Ta hiểu chăm lo phát triển văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã
hội, nếu thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không thể có sự phát triển bền
vững, dù tiện nghi vật chất dồi dào đến đâu thì xã hội cũng không thể tránh khỏi suy
thoái.
Phát triển kinh tế - xã hội là để đạt được độc lập, tự do, hạnh phúc, đời sống được
ấm no hạnh phúc. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội

Bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên
những giá trị văn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị văn hóa ấy
thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập
quán tiến bộ, văn minh là một quá trình đầy khó khăn [31, tr.58].
Người hoạt động văn hóa là chiến sỹ kiên cường trên mặt trận văn hóa, tư tưởng,
trong việc giữ gìn những di sản quí báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế
giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh với các hủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status