Triết lý trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số tỉnh tuyên quang - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------

TRẦN THỊ THU HẰNG

TRIẾT LÝ TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------

TRẦN THỊ THU HẰNG

TRIẾT LÝ TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành : Triết học
Mã số

: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. CAO THỊ SÍNH



Trần Thị Thu Hằng


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1

1. Lý do chọn đề tài ................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài ...................................................................... 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ...................................................... 8
4. Giả thuyết khoa học .............................................................................. 8
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................ 8
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ................................................................ 9
7. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 9
8. Những luận điểm cơ bản của đề tài....................................................... 9
9. Những đóng góp mới của đề tài .......................................................... 10
10. Cấu trúc của luận văn ........................................................................ 10
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRIẾT LÝ TRONG VĂN HÓA ẨM
THỰC CỦA CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH TUYÊN QUANG ........................ 11

1.1. Một số khái niệm cơ bản........................................................................ 11
1.1.1. Khái niệm triết lý ........................................................................ 11
1.1.2. Khái niệm văn hóa, văn hóa ẩm thực.......................................... 14
1.2. Văn hóa ẩm thực của một số dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang ..... 21
1.2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa ẩm
thực của các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang ....................... 21
1.2.2. Đặc trưng văn hóa ẩm thực của một số dân tộc thiểu số ở

2.4.3. Những giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy giá trị
triết lý trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số tỉnh
Tuyên Quang............................................................................... 82
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 93
PHỤ LỤC........................................................................................................ 100


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, toàn cầu hóa là xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các
quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa với sự phát triển mới trong quan hệ giao lưu
quốc tế tạo điều kiện thuận lợi giúp các quốc gia phát triển mạnh mẽ trong mọi
lĩnh vực của đời sống nhưng cũng ẩn chứa không ít nguy cơ, thách thức to lớn,
đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải khẳng định tính độc lập, tự chủ của mình. Một
trong những nhân tố quan trọng để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền
vững của mỗi quốc gia, dân tộc chính là văn hóa. Vì vậy, việc nghiên cứu, gìn
giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc không còn là
vấn đề riêng của từng quốc gia mà còn là vấn đề mang tính toàn cầu.
Là một thành tố lớn của văn hóa, văn hóa ẩm thực nảy sinh đồng thời
với sự xuất hiện của loài người, cũng từ khi đó con người đã xây dựng, tích
lũy, bồi đắp được nhiều tri thức sâu sắc, đa dạng và độc đáo ở lĩnh vực này.
Khác với biểu hiện khả năng chinh phục tự nhiên, khẳng định sức mạnh của
cá nhân, cái tôi bản ngã trong văn hóa ẩm thực phương Tây, văn hóa ẩm thực
của người phương Đông thắm đượm quan điểm chỉnh thể, lấy sự quân bình
âm dương ngũ hành và mối quan hệ hòa hợp giữa con người với thiên nhiên giữa con người với con người cũng như sự hòa hợp trong chính bản thân con
người làm nền móng cơ bản, điều này được thể hiện khá rõ trong văn hóa ẩm
thực của Việt Nam nói chung và văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số
tỉnh Tuyên Quang nói riêng.

hay văn hóa ẩm thực của các dân tộc ở Việt Nam đã được đông đảo các tác
giả lưu tâm với rất nhiều tác phẩm tiêu biểu. Có thể chia các công trình
nghiên cứu liên quan đến đề tài thành hai nhóm chủ yếu sau:
Nhóm thứ nhất, về khía cạnh triết lý, văn hóa, văn hóa ẩm thực Việt
Nam và triết lý trong văn hóa ẩm thực, đây là những vấn đề đã được nhiều tập
thể, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau.


3
Các tác phẩm về triết lý có các công trình như: cuốn sách “ Triết lý
phát triển ở Việt Nam - mấy vấn đề cốt yếu” xuất bản năm 2002 do Phạm
Xuân Nam chủ biên, tác phẩm đã khái quát quan niệm về triết lý và triết lý
phát triển trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt nhấn
mạnh vấn đề triết lý phát triển, phân tích các quan điểm, luận điểm triết lý về
mối quan hệ giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội, công nghiệp và nông nghiệp, đô
thị và nông thôn, bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong quá trình phát triển của
Việt Nam từ trước tới nay. Cuốn “Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam”
xuất bản năm 2016 là tập hợp các báo cáo khoa học được gửi đến hội thảo
“Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam” gồm ba chủ đề chính: Triết lý
nhân sinh trong văn học Việt Nam, Triết lý nhân sinh trong văn hóa truyền
thống của dân tộc và Triết lý nhân sinh trong văn hóa tộc người. Bên cạnh đó,
còn có một số công trình tiểu luận, bài báo viết về vấn đề triết lý như: Bài viết
của PGS. TS Lương Việt Hải đăng trên Tạp chí Triết học số 10 năm 2008
mang tên “Văn hóa, triết lý và triết học” đã góp phần luận giải mối quan hệ
giữa văn hóa, triết lý và triết học là mối quan hệ biện chứng trong đó văn hóa
là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại của các triết lý, các hệ thống triết học, đồng
thời các triết lý, hệ thống triết học là bộ phận cốt lõi trong nền văn hóa dân
tộc. Theo tác giả, văn hóa, các triết lý và các hệ thống triết học là ba tầng bậc
khác nhau của văn hóa theo nghĩa rộng. Vấn đề triết lý về thế giới có tác
phẩm “Triết lý truyền thống ở Việt Nam về vũ trụ” trên Tạp chí Triết học số 1

vùng văn hóa Việt Nam” của tác giả Đinh Gia Khánh, Nxb Văn hóa năm
1995, “Văn hóa và sự phát triển các dân tộc Việt Nam” của tác giả Nông
Quốc Chấn, Nxb. Văn hóa dân tộc năm 1997, “Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc
người Việt Nam” của tác giả Hoàng Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc năm 1998…
Về khía cạnh văn hóa ẩm thực và văn hóa ẩm thực Việt Nam, đây là
lĩnh vực không thể thiếu trong đời sống con người cả về mặt vật chất và tinh


5
thần nên nó có sức hấp dẫn rất lớn đối với các nhà nghiên cứu khoa học, đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ẩm thực của người Việt, điển hình
như cuốn sách “Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam” của tác giả Ngô
Đức Thịnh Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh năm 2010 đã bắt đầu tiếp cận ẩm thực
dưới góc độ văn hóa, đem lại góc nhìn toàn diện về ẩm thực Việt Nam, đặc
trưng trong ẩm thực ba miền. Khác với tác giả Ngô Đức Thịnh, tác giả
Nguyễn Quang Lê (Hội văn nghệ dân gian Việt Nam) lại tiếp cận văn hóa ẩm
thực dưới góc độ tín ngưỡng - tôn giáo, trong đời sống tâm linh và lễ hội dân
gian, làm sáng tỏ nguồn gốc, bản chất và nội dung của văn hóa ẩm thực tiêu
biểu là các lễ vật dâng cúng thần linh trong cuốn sách “Văn hóa ẩm thực
trong lễ hội truyền thống Việt Nam: khảo cứu phong tục và tri thức dân gian
về cỗ, lễ vật trong lễ tết, lễ hội Việt Nam”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội năm
2012. Cùng vào năm 2012, nhóm tác giả Nguyễn Thị Huế, Huỳnh Thị Dung,
Nguyễn Thu Hà (Hội văn nghệ dân gian Việt Nam) đã cho ra mắt cuốn sách
“Văn hóa ẩm thực Việt Nam” - Nxb Thời đại, tác phẩm đã tìm hiểu một số
tục lệ trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam, đồng thời giới thiệu những
món ăn và văn hóa ăn uống của người Việt qua từng hướng dẫn chế biến cụ
thể. “Bước đầu tìm hiểu văn hóa ẩm thực Việt Nam” (quyển 1 và 2) của tác
giả Phan Văn Hoàn - Nxb Khoa học Xã hội năm 2015 với sự nghiên cứu hết
sức tỉ mỉ, tác giả đã làm sáng tỏ những đặc điểm chung khái quát về tự nhiên
và lịch sử xã hội Việt Nam trong mối quan hệ với truyền thống văn hóa ăn

ẩm thực Việt Nam.
Nhóm thứ hai, về khía cạnh văn hóa và văn hóa ẩm thực của các dân
tộc miền núi phía Bắc và ở tỉnh Tuyên Quang cũng có các tác phẩm tiêu biểu
như: Cuốn “Văn hóa ẩm thực các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc” của tác
giả Dương Sách, Nxb Văn hóa dân tộc năm 2005 đã bước đầu nghiên cứu văn
hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam, nêu ra các


7
món ăn theo phong tục, món ăn thường gặp, các trò chơi dân gian nằm
trong văn hóa ẩm thực vùng Đông Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó các cuốn
sách như “Ẩm thực Thái vùng Tây Bắc Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn
Hòa, Nxb Thanh niên năm 2011, cuốn “Văn hóa ẩm thực của người Sán
Dìu” của tác giả Diệp Trung Bình, Nxb Văn hóa Dân tộc năm 2012 và
cuốn “Tìm hiểu văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình” của tác giả
Bùi Chỉ, Nxb Văn hóa thông tin năm 2013… đã cơ bản đã nêu ra đặc trưng
ẩm dân tộc cũng như đi sâu nghiên cứu những nét riêng biệt trong văn hóa
ẩm thực của các dân tộc tiêu biểu cho vùng miền núi phía Bắc như Tày,
Mường, Sán Dìu… Ngoài ra còn có một số luận án nghiên cứu về lĩnh vực
ẩm thực này như luận án “Truyền thống và biến đổi trong tập quán ăn
uống của người Tày vùng Đông Bắc Việt Nam” của tác giả Ma Ngọc Dung,
Viện dân tộc học năm 2006, trong tác phẩm này, tác giả thông qua việc
nghiên cứu tập quán ăn uống để chỉ ra những nét đặc sắc cũng như xu
hướng biến đổi trong tập quán ăn uống của người Tày vùng Đông Bắc Việt
Nam, đồng thời xây dựng cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát huy các
giá trị quý giá của văn hóa ẩm thực nơi đây. Các công trình nghiên cứu trên
đều chỉ dừng lại ở việc khái quát, nghiên cứu các khía cạnh về văn hóa, đi
sâu tìm hiểu các món ăn đặc trưng của từng dân tộc, nguyên liệu, cách chế
biến… trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc phía Bắc Việt Nam, hoặc có
nghiên cứu về một vài khía cạnh về triết lý trong văn hóa ẩm thực nhưng

lý đó trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn tỉnh, và đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị triết lý
trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này luận văn tập trung vào hai nhiệm vụ nghiên cứu sau:
+ Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về triết lý trong văn hóa ẩm
thực của các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang.


9
+ Luận văn phân tích những biểu hiện về triết lý trong văn hóa ẩm thực
của các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang, làm rõ những giá trị triết lý, đồng
thời đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị triết lý
văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ dừng lại nghiên cứu triết lý về thế giới và nhân sinh trong
văn hóa ẩm thực được thể hiện ở ba dân tộc Tày, Dao, Hoa tỉnh Tuyên Quang.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về văn hóa, dân tộc, tín ngưỡng.
- Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phương pháp
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và sự kết hợp
giữa các phương pháp: lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn
dịch, thu thập và phân tích số liệu thống kê…
8. Những luận điểm cơ bản của đề tài
Với đề tài này, luận văn tập trung làm rõ các luận điểm cơ bản:
- Một số vấn đề lý luận về triết lý và triết lý văn hóa, nêu ra những đặc
trưng cơ bản trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc Tày, Dao, Hoa ở tỉnh

là tư liệu tham khảo cho những người quan tâm đến văn hóa, văn hóa ẩm thực
Việt Nam nói chung và của các dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
nói riêng.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.


11
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRIẾT LÝ TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC
CỦA CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH TUYÊN QUANG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm triết lý
Từ khi xuất hiện, vấn đề triết lý là gì hay triết lý có giá trị gì luôn là đề
tài gây tranh cãi trong giới lý luận, có người tưởng rằng triết lý tiết lộ những
bí mật kì diệu; người khác lại nhận định triết lý là một lối suy luận vô căn cứ,
rồi họ bỏ qua luôn không quan tâm gì đến nữa; có người lại cho rằng triết lý là
một cố gắng đầy ý nghĩa của những thiên tài, hay có người khinh thường triết
lý chỉ là một lối suy luận chủ quan, cố chấp, vô ích do một số đầu óc mơ
mộng nghĩ ra. Có người khẳng định triết lý liên quan đến vận mệnh của mỗi
người, nên triết lý phải đơn sơ ai ai cũng hiểu được, lại có người cho rằng triết
lý quá khó, không thể học hỏi hay sưu tầm. Vậy triết lý là gì?
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, triết lý được hiểu theo hai nghĩa: 1) Lý
luận triết học; 2) Quan niệm chung và sâu sắc của con người về vấn đề nhân
sinh và xã hội [87; tr.1707].
GS.Vũ Khiêu quan niệm rằng: “Triết lý là triết học khiêm tốn nói về
mình. Triết lý không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà
thể hiện ý nghĩ, hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người”.
GS. Hoàng Trinh lại đưa ra định nghĩa: “Triết lý là những nguyên lý

lại thể hiện sự suy tư, đúc kết kinh nghiệm, tri thức của con người về những
mặt, những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ trong đời sống. Khác với hệ thống
triết học do các nhà tư tưởng, các nhà khoa học hoàn toàn xác định tạo ra, triết
lý thường là vô danh, xuất hiện và tồn tại dưới các hình thức khác nhau như
ca dao, tục ngữ, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, ẩm thực, cách hành xử của con


13
người trong cuộc sống hàng ngày… Rất khó để xác định được chính xác về
thời gian ra đời của một triết lý hay một số triết lý cụ thể nào đó như xác định
tác giả và thời gian xuất hiện của một hệ thống triết học cụ thể. Những triết lý
thường tồn tại lâu dài trong cuộc sống của các cá nhân và cộng đồng dân tộc
nhưng chúng chỉ có thể tồn tại bên cạnh nhau, phản ánh các mặt, các quá trình
cụ thể của đời sống xã hội mà không thể tạo thành hệ thống triết học có kết cấu
logic như một lý thuyết hay một hệ thống triết học, triết lý không thể mang tính
khái quát và tính hệ thống chặt chẽ như các hệ thống triết học bác học.
Triết lý nằm ngay trong văn hóa truyền thống của các dân tộc, chúng
không tách rời mà gắn chặt với văn hóa theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp,
trong cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần. Chúng hoà vào văn hóa dân
tộc và là một yếu tố cấu thành căn bản, có ý nghĩa quyết định chiều sâu văn
hóa của dân tộc đó. Ở một góc độ nhất định, các triết lý ấy chính là lớp trầm
tích cô đọng của văn hóa dân tộc. Tuy không phải là toàn bộ nền văn hóa,
nhưng chúng là yếu tố cốt lõi tạo nên chất lượng của nền văn hóa, làm cho
văn hóa phong phú và sâu sắc hơn.
Mặt khác, chính văn hóa dân tộc là suối nguồn bất tận nuôi dưỡng và
phát triển các triết lý. Quy mô, cường độ và năng lực lao động của một dân
tộc càng lớn, nền văn hóa càng phát triển thì càng làm cho các triết lý của họ
phong phú, sâu sắc, đa dạng, toàn diện, thể hiện đời sống con người và xã hội
đầy đủ hơn. Sự phát triển của văn hóa dân tộc cung cấp chất liệu cho sự xuất
hiện, tồn tại và phát triển các triết lý. Theo chiều ngược lại, các triết lý lại có

triết lý về vũ trụ, triết lý nhân sinh, triết lý lịch sử, triết lý kinh tế, triết lý đạo
đức, triết lý pháp luật, triết lý ngoại giao…
1.1.2. Khái niệm văn hóa, văn hóa ẩm thực
1.1.2.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.


15
Ở Phương Đông, từ văn hóa xuất hiện khá sớm trong đời sống ngôn ngữ
Trung Hoa. Vào thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đã nói: “Thánh nhân dùng văn hóa
của Hoa Hạ để thay đổi phong tục của người Di, người Địch, chứ chưa ai nói
người Hoa Hạ bị người Di, người Địch giáo hóa lại” [63; tr.634]. Đến thời Tây
Hán, Lưu Hướng lại viết trong sách Thuyết Uyển rằng: Thánh nhân cai trị thiên
hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực, phàm dùng vũ lực đều để đối
phó những kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sẽ sau đó sẽ
chinh phạt. Như vậy theo quan niệm của người phương Đông, văn hóa là toàn bộ
những gì liên quan đến đời sống tinh thần con người như tư tưởng, phong tục tập
quán, đạo đức… và nó là một công cụ nhằm giáo hóa con người.
Trong ngôn ngữ của phương Tây, theo nghiên cứu của nhiều học giả, từ
văn hóa (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức,...) vốn
là một từ có gốc Latin cultura có nghĩa là cày cấy, gieo trồng. Từ nghĩa ban
đầu này, về sau dẫn đến nghĩa rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần,
trí tuệ. Vào thế kỉ thứ nhất trước công nguyên, Cicéron - nhà hùng biện La Mã
từng có câu: “triết học là văn hóa (sự vun trồng) tinh thần” [18; tr.13- 4].
Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản
phẩm của người thông minh (homo sapiens). Trong quá trình phát triển, tác
động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí
thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này,
bản tính con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng

Trong khi đó nhà triết học Kant lại cho rằng, văn hóa là sự phát triển, bộc lộ
các khả năng, năng lực và sức mạnh của con người. Nhà triết học Italia Vico
thì quan niệm: Văn hóa là từ chỉ một phức thể bao gồm khoa học, nghệ thuật,
kinh tế, chính trị.
Theo Từ điển Triết học “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh
thần do con người tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội. Các
giá trị ấy nói lên mức độ phát triển của lịch sử loài người” [76; tr.22- 23]. Có thể


17
thấy, xuất phát từ chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nhà mác-xít quan niệm
văn hóa là hiện tượng xã hội, hoạt động văn hóa là một bộ phận của hoạt động
thực tiễn xã hội. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một kiểu văn hóa xác định
nên nó mang tính chất lịch sử.
Có sự tương đồng với quan niệm về văn hóa của các nhà mác - xít, chủ
tịch Hồ Chí Minh ngay từ khi còn ở trong nhà tù Tưởng Giới Thạch năm
1943 đã có nhận định “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh
hoạt cùng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [56, tr.43].
Đây là định nghĩa rất gần với quan niệm hiện đại về văn hóa của UNESCO.
Trong Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa do UNESCO tổ chức tại
Mexico năm 1982 đã thông qua Tuyên bố chung, trong đó nêu rõ: Theo nghĩa
rộng nhất ngày nay văn hóa có thể được xem là toàn bộ phức thể những nét
nổi bật về tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội
hoặc một nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học mà còn
cả lối sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền
thống và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy ngẫm về

dục, thẩm mỹ, hoặc chèo, kịch, ca khúc, giao hưởng… [76; tr.50-55].
Tóm lại, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con
người đã sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử gọi chung là hệ giá trị
xã hội. Hệ giá trị này biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và phương thức
ứng xử văn hóa của cộng đồng người, là thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng
của một cộng đồng xã hội, có khả năng chi phối, điều tiết hoạt động của mọi
thành viên sống trong cộng đồng xã hội ấy.


19
Theo cách tiếp cận của các nhà văn hóa học hiện đại thì văn hóa ẩm
thực là một thành tố lớn nằm trong cấu trúc của văn hóa.
1.1.2.2. Khái niệm văn hóa ẩm thực
Ẩm thực theo nghĩa HánViệt thì “Ẩm” là uống, “Thực” là ăn, theo
nghĩa hẹp ẩm thực là ăn uống. Chính Ăng ghen, khi đọc điếu văn trước mộ
C.Mác ngày 17/3/1883, đã nói: “Giống như Đác - Uyn đã tìm ra quy luật phát
triển của thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài
người: cái sự thật giản đơn đã bị những tầng tầng lớp lớp tư tưởng phủ kín
cho đến ngày nay, con người trước hết phải ăn, uống, chỗ ở và mặc rồi mới có
thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…” [55; tr.499-500]. Có thể
thấy ăn uống chính là một nhu cầu bản năng của động vật nói chung và con
người nói riêng, nhưng con người khác con vật ở chỗ, ăn uống của con người
gắn với bản sắc văn hóa của cộng đồng người, đồng thời thể hiện cách ứng xử
xã hội của con người - tức là mang tính người. Nhu cầu ấy cần phải được cân
bằng và làm cho tính người ngày càng nhiều hơn.
Theo nghĩa rộng thì ẩm thực có nghĩa là một nền văn hóa ăn uống của
một dân tộc, đã trở thành một tập tục, thói quen. Ẩm thực không chỉ nói về
"văn hóa vật chất" mà còn nói về cả mặt "văn hóa tinh thần".
Ngay từ thời kỳ bình minh của nhân loại, con người đã coi việc ăn uống
là một nhu cầu cần thiết để duy trì sự sống của mình. Tuy nhiên, ở thời kỳ đó,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status