An Toàn Lương Thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hóa - Pdf 40

Bài 3
An toàn lơng thực
của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam
dới tác động của yếu tố xã hội và văn hoá
Tiến sĩ Vơng Xuân Tình
Viện Dân tộc học
An toàn lơng thực (Food security) là vấn đề nóng bỏng của toàn cầu hiện nay, đặc biệt với

các dân tộc thiểu số - những c dân mà trong quá trình phát triển thờng chịu nhiều thiệt thòi và
sống ở mức nghèo khổ. Lơng thực ở đây đợc hiểu không chỉ là các loại ngũ cốc (cung cấp chất
bột), mà là toàn bộ nguồn thức ăn của con ngời.
Thực ra, vấn đề an toàn lơng thực đã đợc nêu lên từ những năm của thập kỷ 70. Năm
1986, Ngân hàng thế giới (World Bank) đã có định nghĩa nh sau: "An toàn lơng thực là cơ hội
có đợc của tất cả mọi ngời ở mọi thời gian để có đủ lơng thực cho các hoạt động và điều kiện
sức khoẻ". Còn theo bản "Đệ trình kế hoạch hành động về vấn đề lơng thực toàn cầu" của Liên
hợp quốc họp tại Rome, tháng 11 năm 1996, một lần nữa lại khẳng định: "An toàn lơng thực chỉ
tồn tại khi tất cả mọi ngời, ở bất kỳ thời gian nào đều có đợc nguồn lơng thực, không những
đầy đủ mà còn đảm bảo dinh dỡng để đáp ứng nhu cầu và sở thích ăn uống, đáp ứng cho các
hoạt động và điều kiện sức khoẻ của họ" (dẫn theo Jonathan Rigg, 2001).
Nh vậy, vấn đề then chốt của an toàn lơng thực là phải đảm bảo đợc điều kiện để tiếp
cận với các nguồn lơng thực và phải thích ứng với sự đổi thay của nguồn lơng thực ấy khi

những điều kiện tự nhiên và xã hội chuyển đổi. Theo Maxwel và Wiebe, an toàn lơng thực của
những c dân không thuộc khu vực đô thị gắn bó rất mật thiết với chế độ sở hữu đất đai và nguồn
tài nguyên. Các tác giả đã nêu lên sơ đồ của chuỗi quan hệ đó nh sau: Đất đai - Sản phẩm Thu nhập - Tiêu thụ - Tình trạng dinh dỡng (Daniel Maxwel and Keith Wiebe, 1998). Trên thực

tế, an toàn lơng thực còn có liên quan tới gia tăng dân số, tới thị trờng và dịch vụ về lơng thực,
tới các nguồn trợ cấp, mối quan hệ xã hội, văn hoá và cả chính sách về lơng thực của mỗi quốc
gia. Khi đề cập tới vấn đề an toàn lơng thực, có thể ở nhiều cấp độ: từ thế giới, quốc gia, vùng,
địa phơng, nhóm c dân đến hộ gia đình.
Báo cáo này trình bày về tình trạng an toàn lơng thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao

rừng già trong vụ đầu cũng đạt mức độ trên 1 tấn/ha, còn các vụ tiếp theo thì giảm hơn.
Bên cạnh lúa là cây trồng chính, đồng bào các dân tộc ở vùng cao còn trồng thêm nhiều
cây lơng thực bổ trợ, nh ngô, sắn, khoai sọ, khoai lang, dong riềng, kê, mạch... Rất nhiều loại
rau, đậu, đặc biệt là những loại nh bầu, bí, rau cải, rau dền, đậu tơng, đậu đũa, hành, tỏi, sả,
ớt..., cùng với các loại cây ăn quả nh chuối, đu đủ, mít, dứa..., cũng đợc gieo trồng (chủ yếu
trồng trên nơng rẫy) để giải quyết nhu cầu thực phẩm hàng ngày.
Chăn nuôi ở vùng cao, bên cạnh việc đảm sức kéo (trâu, bò) hoặc sử dụng cho vận chuyển
(ngựa, voi), phần lớn đợc dùng để làm nguồn thực phẩm. Có khu vực vùng cao nh của ngời
H'Mông ở Kỳ Sơn - Nghệ An, đàn bò rất phát triển. Tại đây, bò đợc nuôi chủ yếu để trao đổi và
dùng trong cúng bái. Các loại gia súc, gia cầm nh lợn, gà... đợc nuôi ở hầu khắp các vùng,
những loại nh dê, vịt, ngan, ngỗng... thờng đợc nuôi ở vùng thung lũng. Cùng với các loại rau
đậu, thịt của gia súc, gia cầm đã góp phần tăng cờng nguồn thực phẩm cho đồng bào các dân
tộc vùng cao.
Cá nuôi cũng là một nguồn thực phẩm quan trọng với nhiều c dân, nhất là các c dân
vùng thung lũng. ở các dân tộc nh Tày, Nùng, Mờng, Thái..., ngoài nuôi cá ở ao, đồng bào còn
có tập quán nuôi cá ruộng. Ngời H'Mông và ngời Dao ở Hoàng Su Phì - Hà Giang, tuy sống
trên vùng đất dốc, canh tác ruộng bậc thang nhng cũng thả cá ruộng. Khi trời ma to, ngời ta
cắm vào ruộng một số cành cọ làm tán lợp; vì thế, cá sẽ ở lại ruộng mà không vợt đi theo dòng
nớc... Giống cá nuôi đều là cá tự nhiên, đợc khai thác hoặc lấy trứng ở sông suối rồi đem ơng.
Với loại cá thả ở ruộng, hầu hết là cá chép.

169


- Nguồn lơng thực khai thác từ thiên nhiên. Đây là nguồn lơng thực có vị trí quan trọng
trong xã hội truyền thống, bởi nó bổ trợ cho nguồn lơng thực từ canh tác. Nh đã trình bày, do
năng suất thấp và do thiên tai, dịch bệnh hoành hành nên canh tác nông nghiệp chỉ đáp ứng
phần nào nhu cầu lơng thực của ngời dân vùng cao. Những khi đói kém, hoặc để bổ sung cho
nguồn lơng thực không canh tác đợc, ngời dân phải dựa vào thu nhập bằng săn bắn và hái
lợm. Các hoạt động này diễn ra gần nh quanh năm, trong đó, việc thu hái các loại rau, củ, quả

bền quan hệ tơng trợ triệt để về lơng thực.
Nh vậy, trong xã hội truyền thống, vấn đề an toàn lơng thực của mỗi gia đình các dân tộc
ở vùng cao đợc dựa trên các cơ sở nh sau:
Canh tác nông nghiệp + Săn bắt, hái lợm + Tơng trợ
_______________________________________________
An toàn lơng thực (hộ gia đình)

170


Trong điều kiện kỹ thuật canh tác truyền thống ít biến đổi và phát triển thì điều kiện tự
nhiên, mối quan hệ sở hữu và thiết chế xã hội có tác động lớn đến an toàn lơng thực của ngời

dân vùng cao; còn chính sách của các thể chế chính trị và yếu tố thị trờng lại ít ảnh hởng.

I.2. Thực trạng an toàn lơng thực của các dân tộc vùng cao hiện nay
Vấn đề an toàn lơng thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao nớc ta có sự chuyển biến
kể từ sau khi thực hiện công cuộc Đổi Mới (1986), mà trực tiếp là chịu ảnh hởng của cơ chế kinh
tế thị trờng, chính sách Khoán 10, Luật đất đai 1993 và một số chính sách đầu t, phát triển

khác ở vùng dân tộc và miền núi.
Về cơ bản, vấn đề an toàn lơng thực của các dân tộc thiểu số vẫn dựa trên cơ sở canh tác
nông nghiệp, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và tơng trợ, song tính chất và mức độ đã
đổi thay; và ngoài ra, an toàn lơng thực còn chịu tác động của các chính sách của Nhà nớc và
của cơ chế thị trờng. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề đó kỹ hơn ở mục sau.
Trong phần này, chúng tôi chỉ nêu lên bức tranh về an toàn lơng thực trong đời sống của các
dân tộc ở vùng cao hiện nay.
Nói tới an toàn lơng thực, cho đến nay, các cơ quan chức năng thờng chỉ đề cập đến mức
thu nhập bình quân lơng thực - tức ngũ cốc - để đảm bảo nguồn thức ăn tối thiểu theo tập quán
ăn uống của c dân trồng trọt. Hiện tại, Việt Nam là nớc xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 trên thế


Miền núi phía Bắc

132.360

160.650

173.760

205.060

Tây Nguyên

197.150

241.140

265.600

300.130

Đơn vị

Nguồn: Phạm Quang Hoan, Vơng Xuân Tình, Ma Trung Tỷ: 1999, tr. 28

Trên thực tế, thu nhập này cha phản ánh đúng mức độ nghèo đói của đồng bào dân tộc
thiểu số. Ví dụ về trờng hợp Tây Nguyên: Trong các năm cuối thập kỷ 90, vùng đất này phát
triển mạnh mẽ bởi mở rộng diện tích cà phê và giá cà phê tăng. Song ai là ngời có thu nhập từ
cây công nghiệp này ? Rõ ràng hầu hết là ngời Kinh, còn đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm



25,10

22,47

Duyên hải miền Trung

17,70

15,28

Tây Nguyên

28,60

23,25

9,20

7,58

19,08

16,70

Địa phơng

Đồng bằng Nam Bộ

Cả nớc

18,0

Cao Bằng

25,0

Bắc Giang

18,9

Lạng Sơn

26,0

Quảng Ninh

16,0

Lào Cai

32,0

Hoà Bình

24,3

Yên Bái

16,0


Toàn tỉnh

Khu vực I

Khu vực II

Khu vực III

1. Thu nhập bình quân của 1
ngời/năm

triệu đ

3,85

5,41

2,99

1,43

2. Lơng thực quy thóc của 1
ngời/năm

kg

240

215



32.578

7.582

17.270

7.726

- Tỉ lệ so với dân số

%

11%

6%

13%

20%

5. Số hộ trung bình

hộ

166.925

66.770

75.951


18%

26%

15%

4%

7. Số hộ giàu

hộ

34.912

23.204

11.118

590

- Tỉ lệ so với dân số

%

12%

17%

9%

Tổng số

Tỉ lệ (%)

Xã Long Môn (huyện Minh Long)

201

80

39,8

109

54,2

Xã Ba Lế (huyện Ba Tơ)

219

72

32,8

113

51,6

Xã Sơn Linh (huyện Sơn Hà)


trình ấy đợc đột phá bằng những cải cách về đất đai.
Việc quản lý và sử dụng đất đai nông nghiệp trong cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu bao
cấp ở giai đoạn trớc đã không phát huy đợc tiềm năng lao động của ngời dân. Đó là nguyên
nhân chủ yếu khiến cho năng suất lao động thấp và tình trạng thiếu đói triền miên ở cả vùng đồng
bằng và miền núi. Để thúc đẩy sự gắn bó của ngời nông dân với đất đai, năm 1988, Bộ Chính trị
đã ban hành Nghị quyết 10, hay còn gọi là Khoán 10. Khác với Khoán 100 - loại khoán việc cho
xã viên hợp tác xã, thực chất của Khoán 10 là khoán sản phẩm, tức giao ruộng đất cho ngời
nông dân canh tác và ngoài khoản thuế cùng số phụ thu khác cho hợp tác xã, họ đợc hởng
phần hoa lợi còn lại. Tuy nhiên tại vùng cao, ảnh hởng của chính sách Khoán 10 vẫn hạn chế,
bởi về cơ bản, Khoán 10 mới đợc thực hiện với đất ruộng nớc.
Phải tới khi Luật đất đai năm 1993 ra đời, sự tác động về chính sách đất đai của Nhà nớc
đến vùng dân tộc thiểu số mới toàn diện và mạnh mẽ hơn. Theo Điều 20 của Luật đất đai, đợc
sửa đổi bổ sung vào năm 1998, "Nhà nớc giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài. Thời hạn giao đất ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ
sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm. Khi hết thời hạn, nếu ngời sử dụng đất có nhu
cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất chấp hành đúng pháp luật về đất đai thì đợc
Nhà nớc giao đất để tiếp tục sử dụng... " (Một số văn bản về phát triển nông nghiệp nông thôn.
2000: 369). Về mức sử dụng đất, căn cứ theo Luật đất đai, Chính phủ đã ra Nghị định số 64/CP
(năm 1993), trong đó quy định : i. Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: ở các tỉnh vùng
đồng bằng Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh, mỗi hộ gia đình hoặc cá nhân đợc sử dụng
không quá 3 ha; tại các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ơng khác - không quá 2 ha. ii. Đối với
đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, các xã đồng bằng không quá 10 ha; các xã trung du, miền

núi không quá 30 ha (Một số văn bản về phát triển nông nghiệp nông thôn. 2000: 282-283).
Ngoài các chính sách trên, còn có những văn bản liên quan trực tiếp hơn đến vấn đề đất
đai ở vùng dân tộc thiểu số, đó là Nghị định số 02/CP (1994) quy định về việc giao đất lâm nghiệp
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Quyết định số
202/TTg (1994) quy định về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng
(Chính sách và chế độ pháp lý đối với đồng bào dân tộc và miền núi. 1996: 150-171). Nhằm thực


(trồng cam, trồng cà phê hoặc mô hình trang trại kinh doanh tổng hợp)..., nên đã có nhiều cải
thiện về thu nhập (Rita Lilijtrom, Eva Linkog, Nguyen Van Ang and Vuong Xuan Tinh. 1998: 3550, 250-275; Pham Quang Hoan and Vuong Xuan Tinh, 1999).
Bên cạnh mặt tích cực, chính sách đất đai cũng có ảnh hởng tiêu cực tới vấn đề an toàn
lơng thực, do tính không công bằng trong sử dụng đất của một số địa phơng. Tính không công
bằng xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, đó là việc tranh chấp đất đai. Ngay từ khi triển khai Khoán 10, ở một số địa

phơng tại miền núi phía Bắc, điển hình là tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra tình trạng đòi lại ruộng đất ông
cha đã góp vào hợp tác xã. Từ đó, dẫn đến hiện tợng tranh chấp đất đai: tranh chấp giữa cá
nhân và cá nhân, cá nhân với tập thể. Tại huyện Lộc Bình của tỉnh, nơi c trú chủ yếu của các
dân tộc Tày, Nùng, Kinh, chỉ tính từ đầu năm 1989 đến tháng 5 - 1990, đã có 189 vụ tranh chấp
ruộng đất, với 80,7 ha, trong đó có 69 vụ tranh chấp thuộc nội bộ gia đình (Viện Dân tộc học.
1993: 180). Việc tranh chấp và bao chiếm đất đai còn gia tăng, ngay với một số dân tộc nh Dao,
H'Mông ở vùng cao, khi thực hiện chủ trơng giao đất, giao rừng cho hộ gia đình (Vuong Xuan
Tinh and Peter Hjamdah, 1997). Tại khu vực Tây Nguyên, từ năm 1990 - 1998, đã có hơn 2.500
vụ tranh chấp đất đai phải đa lên các cấp có thẩm quyền giải quyết (Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo,

175


Vũ Thị Hồng. 2000: 157). Riêng tỉnh Đắk Lắk, trong những năm gần đây, với 117 vụ tranh chấp,
có 39 vụ liên quan đến đồng bào dân tộc tại chỗ (Vũ Ngọc Kích, Nguyễn Thị Phơng Hoa...
2000).
Thứ hai, việc mua bán đất đai diễn ra ngày càng phổ biến ở các vùng dân tộc thiểu số trong

nhiều năm qua. ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, mua bán đất đai đã xuất hiện ngay từ khi thực
hiện Khoán 10 (Viện Dân tộc học. 1993: 180). Còn tại Tây Nguyên, do phát triển cây cà phê và
tình trạng di dân tự do nên việc mua đất của đồng bào dân tộc tại chỗ càng diễn ra phổ biến. ở
tỉnh Đắk Lắk, vào năm 1996, có nơi giá đất lên tới 40-50 triệu đồng/ha. Cũng tại tỉnh này, có
những làng của ngời dân tộc bản địa bán đất cho dân di c tự do lên tới gần 20 vụ (Vũ Đình Lợi,

biệt với các hộ ở vùng rẻo cao và hộ nghèo. Cho đến nay, tại nhiều nơi, nguồn thức ăn khai thác
từ thiên nhiên vẫn còn có vị trí quan trọng với đồng bào các dân tộc. Điều tra của chúng tôi ở xã
Nậm Ty, huyện Hoàng Su Phì - Hà Giang vào năm 1998 cho thấy, đồng bào Dao ở đây vẫn thu
hái đợc hơn 40 loại rau, củ rừng. Song nh đã trình bày, theo tinh thần Luật đất đai 1993, sở hữu
cộng đồng về đất đai lại không đợc thừa nhận. Việc hạn chế nguồn tài nguyên, nhất là tài
nguyên rừng do cộng đồng quản lý, tại một số nơi, đã làm cho chăn nuôi giảm sút. Ví dụ ở xã Văn

176


Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: trớc năm 1998, đàn trâu bò ở đây khá phát triển, có hộ
nuôi hàng chục con, nhng nay mỗi hộ trung bình chỉ nuôi 1 - 2 con, vì thiếu chỗ chăn thả. Sở dĩ
có tình trạng này bởi rừng đã giao cho các hộ gia đình. Việc mất rừng cộng đồng cũng ảnh hởng
tới nguồn thức ăn nh củ mài, măng, nấm, rau rừng... của nhiều hộ gia đình.

II.1.2. Chính sách định canh định c
Công tác định canh định c (ĐCĐC) đợc áp dụng chủ yếu với các dân tộc thiểu số, nhất là
ở khu vực vùng cao. Trong thời gian khá dài, công tác định canh định c đợc thực hiện theo cơ
chế của Nghị quyết 38/CP (1968). Từ năm 1989 - 1990, công tác này đổi mới theo tinh thần Nghị
quyết 22 (1989) và Quyết định 72 (1990) - những chính sách dành u tiên cho sự phát triển ở
vùng dân tộc và miền núi sau khi khởi xớng công cuộc Đổi Mới. Lúc này, trong chỉ đạo và điều
hành công tác ĐCĐC đã có sự biến chuyển, nhng các đề án thực thi cụ thể lại không có. Trong
Quyết định 327 (1992), công tác ĐCĐC đợc đa vào Chơng trình 327, song nhiệm vụ của
Chơng trình 327 lại là trồng rừng và chủ yếu dựa vào các nông lâm trờng nên việc gắn với công
tác ĐCĐC càng có nhiều bất cập. Để khắc phục sự bất cập đó, Nghị quyết 556 (1995) đã tách
riêng trồng rừng với vấn đề ĐCĐC. Tuy vậy, do Chơng trình 327 nằm trong Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn nên thực tế ĐCĐC vẫn thực hiện theo cơ chế của Nghị quyết 327.
Để thực hiện công tác ĐCĐC, bên cạnh việc xây dựng "điện, đờng, trờng, trạm", kể từ

sau năm 1986 đến nay, các dự án vẫn chú trọng giúp ngời dân khai phá ruộng nớc, phát triển

giúp hộ gia đình nông dân tạo thu nhập bằng nghề rừng; ngoài ra, ngời dân còn đợc vay vốn
để phát triển sản xuất và chăn nuôi. Song với Quyết định 135 thì mục tiêu chính là xoá đói giảm
nghèo cho các xã đặc biệt khó khăn, phần lớn thuộc vùng dân tộc và miền núi.
Các xã thuộc Chơng trình 135 đều thuộc Khu vực III - khu vực đặc biệt khó khăn, đến nay
gồm trên 2.000 xã. Nơi đây có hơn 20 thành phần dân tộc sống ở mức nghèo khổ. Trong năm
1997, ở miền núi có khoảng 1,73 triệu hộ đói nghèo và hầu hết các hộ này thuộc khu vực III. Tại
các xã đặc biệt khó khăn, có 700 xã cha có đờng ô tô đến trung tâm xã. Số ngời thất học
chiếm 60%, có nơi chiếm đến 90%.
Mục tiêu của Chơng trình 135 là nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho các dân
tộc ở những xã đặc biệt nêu trên, tạo điều kiện để đa nông thôn vùng này thoát khỏi tình trạng
nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nớc, góp phần
bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.Thời gian để thực hiện Chơng trình là từ
năm 1998 - 2005, với các nhiệm vụ chủ yếu: Bố trí lại dân c ở những nơi cần thiết; đẩy mạnh sản
xuất nông - lâm nghiệp; phát triển cơ sở hạ tầng; quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã;
đào tạo cán bộ cơ sở. Trong quá trình thực hiện, sẽ có sự lồng ghép với một số chơng trình nh
Định canh định c, Chơng trình 327, và các chơng trình về y tế, giáo dục... Kinh phí để thực

hiện chơng trình đợc huy động từ nguồn lực của Chính phủ và các địa phơng, các ngành, các
cấp trong nớc. Mỗi huyện thuộc phạm vi chơng trình là 1 dự án, mỗi xã là một tiểu dự án, riêng
với nguồn kinh phí Nhà nớc là 400 triệu đ/năm. Song qua gần 3 năm triển khai, phần lớn nguồn
kinh phí đó vẫn chỉ đợc đầu t vào cơ sở hạ tầng.
Nh đã trình bày, thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc và miền núi,
ngoài chơng trình mục tiêu là Chơng trình 135, còn có nhiều hoạt động khác, trong đó phải kể
tới Dự án dành cho các dân tộc đặc biệt khó khăn. Xin nêu ví dụ về Dự án dành cho dân tộc Rơ
măm - một dân tộc có dân số ít. Cả tộc ngời này chỉ có trên 300 ngời, sống tập trung tại làng
Le, xã Mo Ray, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Dự án này đợc thực hiện từ 1992 - 1995, với mức
đầu t 1.403 triệu đồng, chủ yếu hỗ trợ đồng bào nâng cao mức sống của hộ gia đình, trong đó
có phát triển sản xuất nông nghiệp, nh khai hoang ruộng nớc (42 triệu đồng), trồng cây công
nghiệp (60 triệu đồng), giống cây ăn quả (20 triệu đồng), giống chăn nuôi (189 triệu đồng) và các
hỗ trợ cho sản xuất khác (25 triệu đồng)... Tuy nhiên, hiệu quả của đầu t cha cao. Chẳng hạn,

Nguyên), cây ăn quả (nh mận Bắc Hà - Lào Cai), cây dợc liệu (hồi, trẩu, quế - Lạng Sơn, Yên
Bái... ). Mặt khác, chính nền kinh tế thị trờng đã khiến bà con ở nhiều vùng khai thác triệt để hơn
nguồn lợi từ thiên nhiên (lâm sản, thú rừng, rắn, rùa, ba ba... ) để đem bán.
Việc tăng thu nhập của ngời dân vùng cao còn đợc bổ sung bằng lao động làm thuê.
Nh đã biết, trong truyền thống, ngời dân nơi đây không có thói quen thuê mớn nhân công. Chỉ
từ khi xuất hiện nền kinh tế thị trờng, lao động làm thuê mới trở nên phổ biến. Tại vùng Tây
Nguyên, ngời dân địa phơng chủ yếu làm thuê cho ngời Kinh, với các công việc liên quan đến
canh tác cây cà phê. Thuê mớn nhân công cũng đã diễn ra ngay trong nội bộ tộc ngời. Có gia
đình, nguồn thu nhập từ lao động làm thuê chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của họ trong năm
(Phạm Quang Hoan, Vơng Xuân Tình, 1999). Trở lại ví dụ về làng Le của ngời Rơ-măm: Thu
nhập của dân làng cũng liên quan đến hoạt động làm thuê trong nông nghiệp. Hiện nay, đã xuất
hiện hiện tợng thuê mớn nhân công ở trong làng. Khi đói kém, một số hộ gia đình thờng đi làm
thuê cho nhà khác để lấy tiền mua lơng thực, với mức khoảng 10.000 đ/ngày công (không tính
bữa cơm tra) (Vơng Xuân Tình: 2001).
ảnh hởng khác của kinh tế thị trờng là đã phát triển mạng lới dịch vụ, tạo điều kiện

thuận lợi cho đồng bào vùng cao mua bán, trao đổi về lơng thực, thực phẩm. Có nơi, dịch vụ đó
còn góp phần thay đổi tập quán ăn uống của ngời dân. Ví dụ tại vùng cao núi đá ở tỉnh Hà
Giang, trong truyền thống, ngời dân chỉ quen lấy ngô làm nguồn lơng thực. Khi kinh tế thị
trờng phát triển, bên cạnh ăn ngô, nhiều gia đình còn bán các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi và
thủ công nghiệp để mua gạo. Bên cạnh đó, đồng bào vùng cao cũng sử dụng ngày càng phổ
biến các loại đồ ăn, thức uống sản xuất từ công nghiệp. Song lại có nơi, chính kinh tế thị trờng
góp phần gìn giữ tập quán ăn uống truyền thống. Ngời Thái ở các huyện Thuận Châu và Mờng
La tỉnh Sơn La vốn quen ăn nếp, nhng trong vụ chiêm xuân, họ lại trồng lúa tẻ. Sở dĩ họ làm vậy
vì năng suất lúa tẻ vụ này cao, và họ sẽ bán để mua thóc nếp... Mạng lới dịch vụ hàng hoá,
trong đó có dịch vụ về lơng thực, thông qua hàng quán, đã phát triển đến tận buôn làng tại rất
nhiều nơi thuộc khu vực vùng cao. Những ngời làm dịch vụ này hầu hết là dân tộc Kinh - có thể
xen c với đồng bào dân tộc thiểu số, hoặc từ nơi khác đến làm ăn.
Mặt trái của kinh tế thị trờng ở khía cạnh đáng xem xét là đã tạo nên sự lệ thuộc ngày
càng phổ biến của ngời dân vào hàng quán; trong khi đồng bào vùng cao cha nhạy bén với

ngoài làng) gần 1.000 kg thóc... (Vơng Xuân Tình: 2001).
Xin nêu thêm ví dụ ở dân tộc Tà-ôi. Việc tơng trợ những gia đình gặp khó khăn trong họ,
trong làng vẫn đợc duy trì ở dân tộc này. Trở lại ví dụ về làng Tà Ay, xã Hồng Trung, khi chúng
tôi đặt câu hỏi: "Từ đầu năm đến nay, ông (bà) có giúp đỡ bằng vật chất cho gia đình nào gặp
khó khăn trong làng hay không ?", những ngời đợc phỏng vấn không mấy khó khăn kể ra các
đối tợng đã đợc họ giúp. Ví dụ trờng hợp ông Quỳnh Dao, già làng của thôn. Trong năm 2000,
gia đình ông đã giúp cho 1 ngời với 1 con lợn giống, 2 ngời - 2 thùng lúa (mỗi thùng khoảng 20
kg), 3 ngời - 3 đôi gà giống, ngoài ra còn cho nhiều ngời mắm, muối, mỡ, mì chính... Anh Hồ
Văn Linh, trởng thôn thì giúp mọi ngời nh sau: 1 ngời với 50 lon gạo, 1 ngời - 20 lon gạo, 1
ngời - 6 lon gạo, 1 ngời - 3 con gà giống, 1 ngời - 1 con lợn giống (Vơng Xuân Tình, 2000).
Cới xin, tang ma, bệnh tật, hoạn nạn... là những việc rất cần trợ giúp của họ hàng và buôn
làng, bởi trong hoàn cảnh này, gia chủ phải chi tiêu khá lớn. Với đám cới, tuy có thời gian chuẩn
bị, song sự cố gắng của một gia đình đôi khi quá sức nếu họ thuộc về dân tộc có tập quán thách
cới cao. Vì thế, gia chủ thờng phải vay mợn của anh em, họ hàng và dân làng. Trong ngày
cới, dân làng đến thăm hỏi và có thể mừng bằng rợu, gạo, gà...

180


Ma chay cũng hầu nh là việc của cả dân làng. Khi làng có ngời chết, các dân tộc đều có
tập quán nghỉ lao động sản xuất để lo cho tang lễ. Tuỳ theo khả năng của mỗi gia đình mà có thể
mang cho tang chủ rợu, gà, trứng, thuốc lá... ở ngời Gia-rai, buôn làng sẽ giúp tang chủ chôn
cất ngời chết, làm nhà mồ và mỗi phụ nữ mang đến đám tang vài lon gạo, ít củi, ít lá để đựng
thức ăn và giúp việc nấu nớng (Lu Hùng, 1994: 209). Còn theo nghiên cứu của chúng tôi, với
ngời Tà-ôi ở thôn Tà Ay, xã Hồng Trung, huyện A Lới, tỉnh Thừa Thiên- Huế, đến nay, khi gia
đình nào có ngời chết, mỗi hộ mang đến giúp những vật phẩm nh: gạo (từ 2-20 ống), rợu (1
chai trở lên), thuốc lá (ít nhất 1 bao, nếu là thuốc lá sợi của ngời dân tộc thiểu số tự trồng thì
càng quý), củi (2 bó trở lên), hơng... Nếu bố hoặc mẹ của già làng bị mất thì số lợng đem tới
nhiều gấp 2 - 3 lần ngời dân thờng (Vơng Xuân Tình, 2000).
Gắn với ma chay, một số dân tộc còn tổ chức lễ bỏ mả. Trong lễ này, ngời ta phải dành

đồng bào cũng có tập quán chia sẻ. Nếu săn bắt đợc ít, họ nấu chín rồi mời những ngời đàn
ông trong họ, trong làng đến uống rợu; nếu đợc nhiều thì chia phần cho cả làng. Tập quán ấy
đến nay vẫn còn lu giữ tại nhiều nơi, nh ở xã Hồng Trung, huyện A Lới: khi săn đợc thú nhỏ,

181


ngời ta đem nấu cháo rồi mời mọi ngời cùng đến ăn. Tuỳ theo tập quán từng dân tộc mà ngời
săn đợc thú có thể giữ bộ phận nào đó của con vật, còn lại thì chia cho dân làng. Theo phong
tục của ngời Tà-ôi (nhóm Ba hy), nếu ai đánh thuốc cá ở suối, ngời khác có quyền đến bắt; và
ngời bắt đợc nhiều phải chia cho ngời đợc ít (Vơng Xuân Tình: 2000).

Kết luận
Trải qua hơn 10 năm thực hiện công cuộc Đổi Mới, vấn đề an toàn lơng thực của các dân
tộc thiểu số ở vùng cao đã có nhiều biến đổi. Khi xét tới an toàn lơng thực của hộ gia đình hay
nhóm c dân trớc hết phải dựa trên cơ sở thu nhập. Tại các dân tộc thiểu số ở vùng cao, thu
nhập của ngời dân chủ yếu từ các nguồn: canh tác nông nghiệp, săn bắt, hái lợm và trợ cấp
của Nhà nớc. Những nguồn thu nhập trên chịu sự tác động của các chính sách của Nhà nớc,
đặc biệt là những chính sách về đất đai, định canh định c, xoá đói giảm nghèo, chính sách xã
hội và chính sách về thị trờng. Tác động tích cực của các chính sách nêu trên tới an toàn lơng
thực, trớc hết phải kể tới việc tăng năng suất lúa và chuyển đổi cơ cấu cây trồng; tuy nhiên,
những biến đổi này chủ yếu diễn ra ở vùng thung lũng có truyền thống trồng lúa nớc và những
nơi thuận lợi phát triển cây công nghiệp. Tại một số vùng đất dốc, nơi đồng bào các dân tộc có
truyền thống canh tác nơng rẫy cũng đã có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng để phù hợp với điều
kiện phát triển nơng định canh. Thu nhập của ngời dân ở nhiều nơi, nhất là khu vực III, đợc bổ
sung thêm từ nguồn hỗ trợ của Nhà nớc, thông qua các dự án phát triển và trợ cấp xã hội.
Nguồn lơng thực của ngời dân vùng cao còn phong phú hơn bởi sự giao lu của thị trờng, của

những dịch vụ về lơng thực...
Bên cạnh mặt tích cực, ảnh hởng tiêu cực của các chính sách nêu trên, nhất là chính sách

Trong hệ thống đó, cần đặc biệt chú ý tới điều chỉnh chính sách đất đai để tăng cờng vai trò
quản lý cộng đồng, giảm bớt việc mất đất của ngời nghèo; mặt khác, phải điều chỉnh mục tiêu và
nội dung của các dự án phát triển nhằm tăng nguồn thu nhập của ngời dân vùng cao. Sau cùng,

việc gìn giữ nếp sống tơng thân tơng ái - truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc - cũng
sẽ góp phần đảm bảo an toàn lơng thực trong điều kiện hiện nay của ngời dân nơi đây./.

183


Food security from the field of social-economic of ethnic
minorities group point of view
Dr. Vuong Xuan Tinh
Institute of Ethnology, National Center for Social Sciences and Humanities
Access to food sources and adaptability with changes of the food sources when natural and
social conditions change play the key role in food security. In reality, food security is related to
population growth, market and food services of each nation. In mountainous regions, food
security is strongly influenced by social factors such as land policies, policies for settlement of
cultivation and residence, poverty reduction and hunger elimination policy and other policies. In
addition, social factors such as drinking and eating habits, interdependence and mutual support in
a community also have influences on food security.
Food sources of people in mountainous regions are obtained from agricultural cultivation,
natural exploitation, exchange and mutual support between people in a community... With the
current constrain of traditional, under-developed farming techniques, natural conditions,
ownership relations and social institutions have larger influences on food security of people in
mountainous regions than politic institutions and market factors.
Income derived from cultivation, especially food, is still the main income in mountainous
regions. Fruit trees and industrial crops have just been cultivated in small quantity. Income from
livestock breeding is low because most livestock products are used for festivals, ceremonial
offerings, wedding ceremonies and funeral... Non-agricultural jobs have not been developed...

low sense of private ownership of ethnic minority people makes them support each other in their
needs for food on the one hand, and causes personal sluggishness in efforts to provide
themselves with sufficient food on the other hand.
In conclusion, it is impossible to impose sameness in examining and solving the food
security of ethnic minority people in the mountainous region like doing that in low land region. In
this case, the social and cultural factors must be considered.

185


Tài liệu tham khảo
Ban Dân tộc tỉnh Đắk Lắk. 1999. Báo cáo Về thực trạng đời sống đồng bào dân tộc bản địa của
tỉnh.
Chính sách và chế độ pháp lý đối với đồng bào dân tộc và miền núi. 1996. Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
Bui The Cuong and Vuong Xuan Tinh. 2000. Health and Education Needs of Ethnic Minorities in
the Greater Mekong Sub-Region. ADB. TA No. 5794-REG.
Daniel Maxwell and Keith Wiebe. 1998. Land tenure and Food security: A review of concepts,
evidence, and methods. Land Tenure Center. University of Wisconsin-Madison.
Khổng Diễn (Chủ biên). 1999. Dân tộc Khơ mú ở Việt Nam. Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội. Phần
viết về Tập quán ăn uống.
Bùi Minh Đạo. 2000. Trồng trọt truyền thống các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên. Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
Hồ Ly Giang. 2000. Tập quán ăn uống của ngời H'Mông ở hai xã Hang Kia, Pà Cò, huyện Mai
Châu, tỉnh Hoà Bình. Tạp chí Dân tộc học, Số 1.
Government of the Socialist Republic of Vietnam. 1996. Towards National Food Security. Country
Paper, prepared for the World Food Submit, Rome, Italy, 13-17 November, 1996.
Helen Young. Food scarcity and famine : Assessment and response. Oxfam Practical Heath
Guide No. 7.
Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý (Chủ biên). 1999. Văn hoá truyền thống ngời Dao Hà

ở các nớc và Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
Rita Lilijtrom, Eva Linkog, Nguyen Van Ang and Vuong Xuan Tinh. 1998. Profit and Poverty in
Rural Vietnam. Curzon.
Vuong Xuan Tinh and Peter Hjamdah. 1997. A study of Hmong and Dao Land Management and
Land Tenure in Nam Ty Commune, Hoang Su Phi District, Ha Giang Province. Report.
SIDA.
Vơng Xuân Tình. 1999. Tập quán ăn uống của ngời Việt ở vùng Kinh Bắc xa. Luận án Tiến sĩ
khoa học Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học.
Vuong Xuan Tinh. 2000. Project Specific Indigenous People' s Development Plan. Poverty
Reduction in 4 Central Region Provinces Project. ADB. Report.
Vơng Xuân Tình. 2001. An toàn lơng thực của ngời Rơ-măm. Tạp chí Dân tộc học, số 5.
Trung tâm nghiên cứu và phát triển (Trung tâm KHXH & NVQG), 1999. Thực trạng nghèo đói và
các giải pháp xoá đói, giảm nghèo ở xã Long Môn huyện Minh Long, xã Ba Lế huyện Ba
Tơ, xã Sơn Linh huyện Sơn Hag tỉnh Quảng Ngãi. Hà Nội, Báo cáo điều tra.
Hữu Sơn. 1998. Đặc điểm các món ăn trong ngày lễ hội. Tạp chí Dân tộc học. Số 1.
Mai Thanh Sơn. 1998. Đôi nét về tập quán ăn uống của ngời Phù Lá. Tạp chí Dân tộc học, Số 1.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk. Tháng 5/2001. Báo cáo tình hình dân c và đời
sống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk.
Viện Dân tộc học. 1993. Những biến đổi về kinh tế-văn hoá ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
Viện Dân tộc học. 1998. Những vấn đề dân tộc học và kinh tế - xã hội của các dân tộc vùng thuỷ
điện Sơn La. Báo cáo.

187




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status